Pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số của công ty cổ phần ở việt nam nghiên cứu so sánh với nhật bản và hoa kỳ - Pdf 49

VIN HN LM KHOA HC X HI VIT NAM
HC VIN KHOA HC X HI

PHAN HONG NGC

PHáP LUậT Về BảO Vệ Cổ ĐÔNG THIểU Số
CủA CÔNG TY Cổ PHầN ở VIệT NAM:
NGHIÊN CứU SO SáNH VớI NHậT BảN Và HOA Kỳ

LUN AN TIấN SI LUT HC

H NI - 2018


VIN HN LM KHOA HC X HI VIT NAM
HC VIN KHOA HC X HI

PHAN HONG NGC

PHáP LUậT Về BảO Vệ Cổ ĐÔNG THIểU Số
CủA CÔNG TY Cổ PHầN ở VIệT NAM:
NGHIÊN CứU SO SáNH VớI NHậT BảN Và HOA Kỳ
Chuyờn ngnh: Lut Kinh t
Mó s: 9 38 01 07

LUN AN TIấN SI LUT HC

Ngi hng dõn khoa hoc: GS.TS HONG THấ LIấN

H NI - 2018


1.4. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu ........................................ 27
1.4.1. Cơ sở lý thuyết: .............................................................................. 27
1.4.2. Phương pháp nghiên cứu ............................................................. 27
Kết luận Chương 1 ......................................................................................... 29
CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ CỔ
ĐÔNG THIỂU SỐ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM ............... 33
2.1. Khái quát về bảo vệ cổ đông thiểu số .................................................... 33
2.1.1. Quan niệm về cổ đông thiểu số ..................................................... 33
2.1.2. Sự cần thiết bảo vệ các quyền của cổ đông thiểu số ..................... 38
2.2. Điều chỉnh pháp luật về bảo vệ quyền của cổ đông thiểu số ............... 41
2.2.1. Phạm vi điểu chỉnh pháp luật về quyền của cổ đông thiểu số ...... 41
2.2.2. Điều chỉnh pháp luật về quyền của cổ đông thiểu số trong quan hệ
với cổ đông lớn và người quản lý trong công ty ..................................... 43
2.2.3. Phân loại các quyền của cổ đông thiểu số .................................... 44
2.3. Trách nhiệm bảo vệ các quyền cổ đông của người quản lý trong cơ chế
quản trị công ty............................................................................................... 48
2.3.1. Vị trí và vai trò của HĐQT ............................................................ 49
2.3.2. Vai trò, nhiệm vụ của thành viên HĐQT điều hành và thành viên
không điều hành ...................................................................................... 50


2.3.3. Trách nhiệm của người quản lý công ty trong cơ chế quản trị nội bộ
nhằm bảo vệ quyền cổ đông .................................................................... 52
2.4. Các phương thức bảo vệ quyền của cổ đông thiểu số .......................... 54
2.4.1. Bảo vệ cổ đông thiểu số theo chức năng của các cơ quan quản lý,
giám sát và xử lý vi phạm ........................................................................ 56
2.4.2. Bảo vệ cổ đông thiểu số theo cơ chế chủ động - tự bảo vệ các quyền
lợi của cổ đông ........................................................................................ 57
2.4.3. Bảo vệ cổ đông thiểu số bằng cơ chế quản trị và trách nhiệm của
những người quản lý công ty ................................................................... 58

NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ ................................................................................. 150
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................... 151
PHỤ LỤC ...................................................................................................... 160


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BKS:

Ban Kiểm soát

CTCP:

Công ty cổ phần

CTÐC:

Công ty đại chúng

ĐHĐCĐ:

Đại hội đồng cổ đông

GĐ:

Giám đốc

HĐQT:

Hội đồng quản trị


Tổng giám đốc

TSE:

Sở giao dịch chứng khoán Tokyo

TTCK:

Thị trường chứng khoán


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công ty cổ phần (CTCP) có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội
ở nước ta hiện nay thông qua việc huy động vốn của toàn xã hội và từ các giao dịch
của thị trường chứng khoán (TTCK).
CTCP được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc đối vốn, cổ đông sở hữu
ít cổ phần với lượng vốn nhỏ thường có vị thế yếu hơn so với các cổ đông lớn. Các
quyền của cổ đông sở hữu ít cổ phiếu mặc dù được ghi nhận bình đẳng tuy nhiên
rất dễ bị chèn ép hoặc bị vi phạm bởi những cổ đông lớn sở hữu đa số cổ phần
trong công ty.
Cùng với LDN, Luật Chứng khoán cũng có nhiều quy định góp phần hoàn
thiện cơ chế pháp luật đồng bộ về bảo vệ quyền của cổ đông thiểu số trong công ty
cổ phần. Mặt khác so với pháp luật của nhiều nước, đặc biệt là những nước kinh tế
phát triển thì các quy định về bảo vệ cổ đông thiểu số của CTCP ở nước ta vẫn còn
những điểm chưa tương thích với pháp luật và thông lệ. LDN 2014 và các văn bản có
liên quan khác đã ghi nhận các quyền của cổ đông tuy nhiên tính khả thi vẫn chưa
cao. Cơ chế bảo vệ cổ đông thiểu số cũng chưa hoạt động có hiệu quả nhằm xử lý các
vi phạm xâm hại các quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư - cổ đông thiểu số.

văn bản pháp luật có liên quan đồng thời có sự đối chiếu so sánh với một số quy định
pháp luật của Nhật Bản và Hoa Kỳ về công ty cổ phần và thực tiễn pháp luật của các
quốc gia này.
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số phương thức bảo vệ cổ đông thiểu số
công ty cổ phần và xem xét pháp luật của Việt Nam và có so sánh, tham khảo một số
thực tiễn pháp luật tại Nhật Bản, Hoa Kỳ; khuyến nghị tham khảo, nghiên cứu những
phương hướng hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông
thiểu số ở Việt Nam.
Về đối tượng nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu các quy định và đặc
điểm pháp luật về bảo vệ các quyền của cổ đông thiểu số của CTCP; cấu trúc quản
trị nội bộ; vai trò của CTCP và trách nhiệm của những người quản lý công ty trong
việc bảo đảm quyền của cổ đông ở Việt Nam đối chiếu với quy định tương tự của các
nước Nhật Bản, Hoa Kỳ.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận án thực hiện trên cơ sở các phương pháp nghiên cứu gồm: các phương
pháp phân tích, tổng hợp; nghiên cứu so sánh; phương pháp dữ liệu thứ cấp.... Đồng
thời, Luận án cũng thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Học thuyết Mác –
Lênin về nhà nước và pháp luật; một số lý thuyết như: Thuyết đại diện (Agency
theory), Thuyết lợi ích của cổ đông và một số lý luận khác về bảo vệ CĐTS.

2


5. Đóng góp mới về khoa học của Luận án
Luận án đã góp phần làm rõ các nội dung: quan niệm CĐTS của CTCP ở Việt
Nam và các nước Nhật, Mỹ; phương thức bảo vệ CĐTS xét trong mối quan hệ giữa
cổ đông và người quản lý công ty và xét ở khía cạnh quan hệ giữa chủ sở hữu và
người quản lý; Trách nhiệm bảo đảm từ phía công ty và người quản lý đối với quyền
lợi của CĐTS;
Đánh giá, so sánh làm rõ mối quan hệ giữa HĐQT, giám đốc và những người

quan đến Đề tài: “Pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số của công ty cổ phần ở Việt
Nam: Nghiên cứu so sánh với Nhật Bản và Hoa Kỳ”, trong đó có sự hệ thống các
công trình, bài nghiên cứu liên quan trực tiếp đến đề tài hoặc liên quan đến vấn đề
cần được phân tích lý giải, so sánh trong Luận án.
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến Đề tài luận án
1.1.1. Tình hình nghiên cứu quốc tế
Các nghiên cứu về lý luận và thực tiễn về quản trị công ty cũng như việc bảo
vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số của công ty bằng pháp luật luôn là chủ đề được các
nhà khoa học trên thế giới rất quan tâm, các công trình nghiên cứu đã nhấn mạnh tới
vai trò quan trọng của pháp luật trong việc bảo vệ cổ đông công ty.
Về bảo vệ cổ đông thiểu số của công ty, các công trình khoa học từ lâu đã tập
trung nghiên cứu các khía cạnh về sở hữu công ty, về cơ chế pháp luật trong việc bảo vệ
cổ đông và vấn đề mối quan hệ giữa ủy thác của cổ đông với những người quản lý công
ty. Tác giả Adam Smith trong tác phẩm An inquiry into the Nature and Causes of the
Wealth of Nations (1776) đã trình bày nghiên cứu của Ông về vấn đề phân tách giữa
quyền sở hữu và quản lý điều hành công ty – một vấn đề mang đặc tính khách quan.
Theo Nhà kinh tế học Adam Smith, việc phân tách là tất yếu vì cổ đông – chủ
sở hữu công ty ngày càng phát triển trở nên quá đông đảo, họ không đủ điều kiện cần
thiết đề trực tiếp quản lý điều hành công ty mà cần có những người quản lý chuyên
nghiệp. Vấn đề lợi ích của cổ đông và những người quản lý lại có nhiều khác biệt, cụ
thể, lợi ích và hiệu quả của công ty đặt ra đối với chủ sở hữu – cổ đông là ưu tiên
hàng đầu, tuy nhiên người quản lý khó có thể chu toàn, cẩn trọng cho việc quản lý
điều hành công ty giống như chủ sở hữu - cổ đông, mặc dù họ có trách nhiệm được
giao là phải hành động vì lợi ích của cổ đông công ty. Pháp luật của các nước theo hệ
thống án lệ dựa vào thuyết đại diện để xác định quyền và nghĩa vụ của người quản lý
đối với công ty và cổ đông [74]. Sự tách bạch giữa quyền sở hữu của cổ đông và việc
quản lý, điều hành công ty do thành viên HĐQT, giám đốc và những người đại diện
khác thực hiện là một vấn đề trọng tâm, vấn đề mang tính nguyên tắc của quản trị
công ty.


người quản lý công ty (thành viên HĐQT, GĐ) khi làm việc phải chu toàn hai nghĩa
vụ cơ bản: Cẩn trọng và trung thành - “fiduciary duty”, tức là phải có một lòng thành,
tin tưởng, giữ bí mật và trung thực của một người có nghĩa vụ (như Luật sư, nhân
viên của công ty) đối với với người hưởng lợi (như thân chủ của luật sư, công ty) phải
hành động với sự trung thành và liêm khiết cao độ nhất. Người quản lý khi vi phạm

5


hai nghĩa vụ cơ bản: Cẩn trọng và trung thành “fiduciary duty” nói chung phải bồi
thường thiệt hại [95; 105]. Người được hưởng lợi thường không phải là cổ đông hay
nhóm cổ đông đi kiện mà là công ty.
Năm 2010, Nhà xuất bản Ðại học Cambridge phát hành công trình nghiên cứu
có tính toàn diện ở phạm vi các công ty ở châu Âu: “Phương thức bảo vệ nhà đầu tư:
Bài học của EC và UK” của Niamh Molony (How to Protect Investors: Lessons from
the EC and the UK - Cambridge University Press, 2010); Nội dung chính gồm: Khái
niệm nhà đầu tư cá nhân, pháp luật và chính sách bảo vệ nhà đầu tư; không gian,
phạm vi áp dụng pháp luật trên lý thuyết và thực tế qua ví dụ tại nước Anh; nghiên
cứu việc bảo vệ nhà đầu tư nhỏ, lẻ qua lăng kính của EC; đặc điểm chế độ bảo vệ nhà
đầu tư nhỏ, lẻ; chế độ minh bạch thông tin giao dịch về thị trường chứng khoán và
việc giám sát, thực thi cơ chế bảo vệ nhà đầu tư nhỏ, lẻ.
Tại Nhật Bản, năm 2002, Đại học Nagoya xuất bản cuốn sách: “Hướng tới
một thị trường chứng khoán hoạt động tốt ở Việt Nam” của tác giả Nguyen Thi Anh
Van (Toward A well Functioning Securities Market in Vietnam, CALE, Nagoya
University, Japan, 2002). Nội dung có đề xuất một số giải pháp về hoàn thiện pháp
luật đáp ứng yêu cầu phát triển thị trường chứng khoán, trong đó có giải pháp minh
bạch thông tin về giao dịch cổ phiếu của cổ đông, có cơ chế tạo thuận lợi cho nhà đầu
tư tham gia giám sát hoạt động của công ty. Tuy nhiên cũng chưa có giải pháp hoặc
cơ chế cụ thể về bảo vệ cổ đông thiểu số ở Việt Nam.
Bài nghiên cứu về quyền của cổ đông theo pháp luật Nhật Bản: “Sự tiếp cận

nghiên cứu đầu tiên về quản trị công ty). Về nguyên tắc quản trị công ty: Sách mô tả
về sự cần thiết và phân biệt giữa quản trị công ty và điều hành công ty, đồng thời giới
thiệu cấu trúc HĐQT, thành viên của HĐQT, chức năng và cấu trúc quản trị của những
công ty lớn phức tạp có hình thức quản lý hình thức đa dạng về các chính sách quản
trị công ty, tác giả cho rằng các quy tắc quản trị công ty ở các nước dựa trên sự kết
hợp giữa luật pháp và các quy định về công ty (lưu giữ hồ sơ, công bố thông tin,
chuẩn mực kiểm toán), cùng với các quy định của các Sở giao dịch chứng khoán áp
dụng đối với các công ty niêm yết. Ví dụ, tại Mỹ công ty phải tuân thủ đạo luật công
ty của tiểu bang và các quy định của ủy ban Chứng khoán liên bang Hoa kỳ (SEC)
bên cạnh đó công ty cũng phải tuân theo các chuẩn mực kế toán của Mỹ (GAAP).
Cuốn sách cũng giới thiệu và đánh giá nội dung các quy tắc quản trị công ty
được công bố lần đầu tại Anh quốc (lần đầu năm 1992 các đề xuất về thông lệ quản
trị công ty đã được công bố) đến nay các quy tắc QTCT đã có vai trò ảnh hưởng đến
sự phát triển các quy tắc QTCT tại nhiều nước trên thế giới.
Một nội dung có giá trị khác của công trình là giới thiệu về nguyên tắc bảo
vệ cổ đông tại Hoa Kỳ thông giới thiệu, mô tả quy tắc QTCT và những quy định bắt

7


buộc về chế độ công khai minh bạch thông tin, chế độ kiểm toán, nghĩa vụ bắt buộc
tuân thủ Đạo luật Sabanes Oxley 2002 (Luật SOX). Nước Mỹ đã ban hành Luật
SOX sau hàng loạt vụ bê bối về báo cáo tài chính và sự phá sản của nhiều công ty
lớn nhằm mục đích tăng cường các biện pháp hiệu quả về QTCT, tăng cường thông
tin minh bạch về tài chính công ty niêm yết. Luật SOX là một trong những cột mốc
đánh dấu sự phát triển và tăng cường quy định nghĩa vụ của công ty và người quản
lý trong việc thực hiện báo cáo tài chính, cải tiến mô hình quản lý, điều hành công
ty theo hướng tích cực của cổ đông- nhà đầu tư chứng khoán Mỹ. Tác giả Bob
Tricker [7], cũng nhấn mạnh sự khác nhau về nội dung của đạo Luật SOX và luật
pháp Mỹ so với các quy định của các nước EU và các nước thuộc khối thịnh vượng

xem xét vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số với các khía cạnh như: Nguyên tắc căn bản
của Luật Công ty của Stephen Griffin và các tác giả (Company Law Fundamental
Principles, England: Pearson-Longman, 4th ed. 2006). “Những vấn đề cơ bản của
luật pháp Mỹ” của Alan B.Morison, NXB Chính trị Quốc gia 2009; Giới thiệu về
Luật Đầu tư tài chính của Iain MacNeil (An Introduction to the Law on Financial
Investment, (Oxford: Hart Publishing, 2005). Bổ sung cơ bản năm 1998 của quy chế
chứng khoán của Louis Loss and Joel Seligman (1998 Supplement Fundamental of
Securities Regulation, New York: Aspen Law & Business, 1998); Quy định về chứng
khoán của Ủy ban Châu Âu của Niamh Molony (EC Securities Regulation, New
York: Oxford UP, 2nd ed.2008).
Công trình nghiên cứu so sánh tại Nhật Bản của Phan Hoàng Ngọc (2011): “Bảo
vệ nhà đầu tư thông qua cấm giao dịch nội gián và áp đặt một nghĩa vụ công khai hóa
giao dịch hoặc không giao dịch đối với người biết thông tin nội bộ” (Protectting
Investors through Prohibiting and Imposing a duty to abstain or disclose on insiders)
đăng trên Tạp chí khoa học thường niên của tại Đại học Nagoya, Nhật Bản tháng 3/2011
(Research Papers, Nagoya University, Japan, March 2011).
Bài nghiên cứu được phát triển, kế thừa từ cơ sở kết quả phân tích, so sánh
pháp luật doanh nghiệp, chứng khoán giữa Việt Nam với Nhật Bản và Hoa Kỳ của
Luận văn ThS Luật so sánh mà tác giả đã bảo vệ thành công tại Đại học Nagoya, Nhật
Bản tháng 3/2011 - với đề tài cùng tên.
Tóm tắt nội dung nghiên cứu: (i) Nhằm bảo vệ nhà đầu tư trong lĩnh vực
chứng khoán, Luật Chứng khoán (năm 2006) của nước ta quy định: các nguyên tắc
đảm bảo tính công bằng, minh bạch trong giao dịch và hoạt động của thị trường
chứng khoán cũng như sự bình đẳng giữa các nhà đầu tư về tiếp cận thông tin giá
trị có liên quan đến các loại chứng khoán, giao dịch và hoạt động của cơ quan, tổ
chức phát hành chứng khoán; (ii) Ðể bảo đảm sự công bằng, pháp luật Việt Nam
nghiêm cấm người biết thông tin nội bộ: sử dụng thông tin chưa được công bố để
tham gia giao dịch chứng khoán, đồng thời buộc các doanh nghiệp như công ty đại

9

của mình, tiến hành khởi kiện người quản lý, đề nghị các hiệp hội cổ đông đại diện
và bảo vệ quyền lợi cho mình. Về các quyền cơ bản của cổ đông, tác giả đã phân loại
bao gồm 4 nhóm quyền chủ yếu: Bao gồm quyền về tài sản, quyền quản trị công ty,
quyền tiếp cận thông tin và quyền khởi kiện - quyền phục hồi quyền lợi của cổ đông.

10


Về các phương thức, cách thức bảo vệ cổ đông được Luật doanh nghiệp quy định tác
giả giới thiệu và phân tích các nhóm biện pháp chủ yếu bao gồm: Bảo vệ cổ đông
thông qua các quy định về điều kiện họp và thông qua quyết định của ĐHĐCĐ; bảo
vệ thông qua phương thức bầu dồn phiếu trong CTCP; bảo vệ thông qua các quy định
về ban kiểm soát; bảo vệ bằng quy định về nghĩa vụ công bố thông tin của công ty;
bằng quy định về nghĩa vụ của người quản lý công ty; bảo vệ thông qua việc kiểm
soát các giao dịch có khả năng tư lợi [22].
Cuốn sách “Thể chế pháp luật kinh tế một số quốc gia trên thế giới” của các
tác giả chủ biên Nguyễn Văn Giàu, Nguyễn Văn Phúc và Nguyễn Đình Cung (20142015). Nội dung công trình nghiên cứu phân tích, đánh giá và chọn lọc giới thiệu về
thể chế kinh tế của một số quốc gia tiêu biểu trên thế giới gồm Hoa Kỳ, Úc, Đức, Hàn
Quốc, Malaysia và Nga. Nội dung nghiên cứu chính được trình bày, các tác giả chỉ
phân tích lựa chọn một số quy định cơ bản về lĩnh vực kinh tế như các quy định điều
chỉnh hành vi của chủ thể tham gia hoạt động, rút lui khỏi thị trường; các đạo luật về
thiết chế quản lý, điều tiết thị trường và thực hiện chức năng bảo đảm cạnh tranh,
bình đẳng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh tế trên thị trường
(Ủy ban Chứng khoán, Ngân hàng Trung ương…). Ngoài ra sách cũng đề xuất, kiến
nghị vấn đề nghiên cứu hoàn thiện một số đạo luật tại Việt Nam nhằm hướng tới hoàn
thiện hệ thống pháp luật kinh tế và các thiết chế quản lý nền kinh tế thị trường ở nước
ta.
Cuốn sách có ưu điểm là giới thiệu nhiều loại hình tổ chức như: cá nhân kinh
doanh, hợp doanh, công ty cổ phần; các vấn đề khác về tài chính doanh nghiệp. Đồng
thời cuốn sách cũng giới thiệu những vấn đề về mô hình HĐQT, quyền lợi của cổ

là phương tiện bảo vệ cổ đông thiểu số. Tác giả giới thiệu, tại các nước Mỹ, Anh mối
quan tâm hàng đầu của các quy chế quản trị công ty là giải quyết xung đột giữa một
bên là những nhà quản lư chuyên nghiệp và bên kia là các cổ đông của công ty. Trong
khi đó tại các nước khác trên thế giới, cổ phần công ty tập trung trong tay một số cổ
đông lớn, những người đồng thời có vai trò quản lý công ty, nếu kém hiệu quả trong
cơ chế quản trị công ty thì xung đột lớn nhất là giữa cổ đông thiểu số và các cổ đông
lớn công ty. Tác giả thông tin rằng mối quan tâm hàng đầu của quản trị công ty trong
bối cảnh các nền kinh tế mới nổi chính là giải quyết xung đột giữa cổ đông thiểu số
và cổ đông lớn của công ty. Thực trạng này cũng tương tự như nền kinh tế đang
chuyển đổi ở Việt Nam, nơi có nhiều công ty gia đình và doanh nghiệp cổ phần hóa
thì nhà nước giữ cổ phần chi phối (cổ đông lớn nắm giữ trên 5% và trên 50% cổ phần
của công ty rất phổ biến).
Luận án tiến sỹ của tác giả Nguyễn Thị Thu Hương - Học viện Khoa học Xã
hội, (2015) với đề tài: Pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số của công ty cổ phần ở

12


Việt Nam hiện nay; và bài nghiên cứu “Các yếu tố tác động đến bảo vệ cổ đông thiểu
số trong công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Thị Thu Hương - Tạp
chí Nhân lực Khoa học xã hội tháng 8/2014. Tác giả đã nghiên cứu về cơ chế bảo vệ
cổ đông thiểu số và tiến hành phân tích các yếu tố tác động đến bảo vệ cổ đông thiểu
số trong công ty cổ phần ở Việt Nam, cụ thể như: quản trị công ty, hệ thống pháp luật
và các thể chế đồng bộ, về khía cạnh “dân chủ cổ phần”, và các giá trị đạo đức và xã
hội khác… Nội dung Luận án và bài viết cũng nghiên cứu, phân tích khái niệm cổ
đông thiểu số, nhấn mạnh các vấn đề lý luận về bảo vệ cổ đông thiểu số trong công
ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay [31].
Luận án tiến sỹ của Cao Đình Lành - Học viện Khoa học Xã hội, (tháng
8/2014), tác giả nghiên cứu xem xét vấn đề bảo vệ quyền cổ đông trong trường hợp
mua bán, sáp nhập công ty: “Bảo đảm quyền cổ đông thiểu số trong mua bán, sáp

của giám đốc điều hành và giám đốc tài chính đối với độ tin cậy của báo cáo tài chính,
bênh cạnh đó yêu cầu các công ty đại chúng phải có những thay đổi trong kiểm soát
nội bộ, đặc biệt là kiểm soát công tác kế toán. Cũng nhờ đạo luật này, vị trí và thị thế
của kiểm toán viên được đặt ở vị trí trung tâm, là cầu nối quan trọng tạo nên những
bản báo cáo tài chính có tính độc lập cao và mức độ tin tưởng cao hơn. Đạo luật
Sarbanes-Oxley có 6 điểm quan trọng: Một là, các giám đốc điều hành, giám đốc tài
chính phải trực tiếp ký vào các báo cáo tài chính được ban hành chính thức và đảm
bảo tính trung thực của bản báo cáo đó. Nếu có những sai phạm, thì họ có thể phải
ngồi tù. Hai là, các công ty phải lập ra ban giám sát kế toán thực hiện chức năng giám
sát hoạt động kết toán trong nội bộ của tập đoàn, đồng thời giám sát chặt hoạt động
của các công ty kiểm toán cho tập đoàn đó. Ba là, các công ty kiểm toán không được
thực hiện tất cả các nghiệp vụ kiểm toán của một tập đoàn mà phải chia phần việc
cho các công ty kiểm toán khác để tránh tình trạng tập trung lợi ích có thể dẫn tới
những tiêu cực có thể xảy ra. Bốn là, ban giám đốc công ty không được quyền quyết
định chọn hay chấm dứt hợp đồng với công ty kiểm toán, mà quyết định này thuộc
về ban kiểm toán của công ty. Năm là, hàng năm, các công ty phải có báo cáo kiểm
soát nội bộ, trong đó các thông tin về tình hình tài chính của công ty phải có sự chứng
thực của công ty kiểm toán. Sáu là, các tội danh liên quan đến các thay đổi, hủy hồ
sơ, tài liệu hay cản trở gây ảnh hưởng pháp lý điều tra có thể bị phạt tù lên đến 20
năm (Mục 802).
Bài viết: “Ðiều hòa lợi ích của cổ đông và người quản lý trong công ty đại
chúng ở Anh quốc”: của tác giả Hà Thị Thanh Bình, Tạp chí Luật học – Ðại học luật
Hà Nội số 12/2015. Tác giả giới thiệu: Các công ty đại chúng (CTÐC) ở Anh với đặc
điểm cơ cấu sở hữu phân tán, ít khi có cổ đông có khả năng sở hữu tỷ lệ cổ phần ở
mức có khả năng kiểm soát được công ty, hoặc trực tiếp tham gia quản lý công ty.
Do có sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quản lý công ty, vấn đề là cần có giải pháp

14



Việt Nam và Ả Rập Xê Út” của Vũ Thành Công, nội dung nghiên cứu nhằm phân
tích thực trạng pháp luật, so sánh làm rõ sự tương đồng và khác biệt của pháp luật

15


quản trị công ty giữa Việt Nam và Ả Rập Xê Út (ARXU); đưa ra các khuyến nghị,
bài học kinh nghiệm nhằm hoàn thiện các quy định về quản trị công ty ở Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu so sánh là quy định về quản trị công ty cổ phần
theo Luật doanh nghiệp 2005 và Luật công ty năm 1965 của ARXU và các quy tắc,
chuẩn mực về quản trị công ty. Các vấn đề pháp luật được tác giả tập trung nghiên
cứu so sánh gồm: cổ đông và đại hội đồng cổ đông; thành viên HĐQT và trách
nhiệm, nghĩa vụ của HĐQT; Ban giám đốc và quyền hạn trách nhiệm điều hành
công ty; công bố thông tin minh bạch và vấn đề kiểm soát các giao dịch với các bên
có liên quan.
Bài viết “Vai trò của Luật so sánh trong công cuộc hoàn thiện pháp luật Việt
Nam” của Đỗ Văn Đại đăng trên Tạp chí Khoa học pháp lý – Đại học Luật TP.HCM,
số 01/2004, tác giả cho rằng việc so sánh pháp luật hai hay nhiều nước được “hình
thành từ lâu đời” và “giao lưu văn hóa pháp luật là một nhu cầu khách quan của xã
hội”. Trong thực tế, lợi ích của việc tìm hiểu pháp luật nước ngoài “là vô cùng to lớn”
và “tri thức về pháp luật nước ngoài có thể được khai thác cho nhiều mục đích”. Bài
viết nêu ý kiến, qua tham khảo sách báo pháp luật Việt Nam và pháp luật Pháp chúng
ta nhận thấy, mỗi khi một vấn đề pháp lý không được điều chỉnh rõ ràng, phần lớn
các nhà làm luật Việt Nam yêu cầu có sự can thiệp của Quốc hội hay Chính phủ bằng
một văn bản cụ thể trong khi đó, ở Pháp, các nhà làm luật thường tìm ra giải pháp cụ
thể và đưa giải pháp này thành luật bằng cách vận dụng linh hoạt các văn bản pháp
luật đã tồn tại thông qua giải thích chúng. Nếu mỗi một vấn đề pháp lý phát sinh đều
được Quốc hội hay Chính phủ điều chỉnh kịp thời bằng những văn bản chi tiết cụ thể
thì đây là một điều tốt cho tất cả mọi người. Nhưng cũng phải thừa nhận rằng chúng
ta chỉ có một Quốc hội, một Chính phủ trong khi đó những vấn đề pháp lý cụ thể cần

trên thị trường chứng khoán Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, 2013, số 4;
Nguyễn Văn Phương có bài viết Sở hữu chéo ngân hàng cần được nhìn nhận đánh
giá đa chiều, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, 2013, số 4. Tác giả Trương Thị Nam
Thắng có bài “Một số điều chỉnh khuôn khổ thể chế về quản trị công ty tại bốn nước
Đông Nam Á sau khủng hoảng”, Tạp chí Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới
số 1/2008; Đào Anh Tuấn, Sáp nhập và mua lại- Một xu hướng cần lưu ý trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế, Tạp chí Ngân hàng số 18/2007; Phạm Tiến Đạt, Quản
lý nhà ước về M&A trên thế giới, Tạp chí Tài Chính số 5/2010;
Các sách chuyên khảo và giáo trình khác:“Công ty: Vốn, quản lý và tranh
chấp” của Nguyễn Ngọc Bích và Nguyễn Đình Cung, Viện Nghiên cứu quản lý kinh
tế Trung ương 2009; “Luật Doanh nghiệp bảo vệ cổ đông – pháp luật và thực tiễn”
của TS Bùi Xuân Hải, NXB Chính trị quốc gia, 2011; PGS. TS. Nguyễn Như Phát và
PGS. TS. Phạm Duy Nghĩa nghiên cứu về Công ty và doanh nghiệp trong giáo trình
Luật Kinh tế của Đại học Khoa học xã hội và nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội

17


(Hà Nội, 1996 và 2001); Phạm Duy Nghĩa, Phân loại thương nhân trong giáo trình
Luật Thương mại Việt Nam của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (Hà Nội, năm
2002); TS. Nguyễn Thị Thương Huyền, Hoàng Thu Hằng về công ty, doanh nghiệp
- pháp luật về chủ thể kinh doanh trong Giáo trình Pháp luật kinh tế của Học viện Tài
chính (Hà Nội, năm 2004); Công trình nghiên cứu của PGS.TS. Lê Thị Thu Thủy về
các vấn đề liên quan đến công ty chứng khoán và thị trường chứng khoán trong cuốn
sách: Pháp luật về Công ty chứng khoán ở Việt Nam (Hà Nội, 2011);
1.2. Ðánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận án
1.2.1. Những kết quả nghiên cứu về bảo vệ cổ đông thiểu số
* Về phương thức bảo vệ cổ đông thiểu số của công ty, các nhà khoa học tập
trung nghiên cứu các quy định về cơ chế pháp luật trong việc bảo vệ cổ đông công ty.
Các nghiên cứu thường nhấn mạnh công cụ pháp luật giữ vai trò quan trọng hàng đầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status