Lời Cảm Ơn
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại
học Quảng Bình, các thầy cô giáo khoa Sư phạm Giáo dục
Tiểu học – Mầm non đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá
trình em học tập tại trường, trang bị cho em những kiến
thức quý báu và tạo mọi điều kiện cho em hoàn thành tốt
khóa luận đại học.
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo
TS. Nguyễn Thị Nga, người đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ
em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa
luận này.
Qua đây, em cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành
tới Ban giám hiệu và các thầy cô giáo trường Tiểu học
Hồng Hóa – Minh Hóa – Quảng Bình đã tạo điều kiện cho
em trong quá trình thực hiện đề tài.
Em xin chân thành cảm ơn !
Đồng Hới, tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Lê Nữ Như
Quỳnh
I
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài khóa luận “Mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 4
thông qua phân môn luyện từ và câu tại trường Tiểu học Hồng Hóa – Minh
Hóa – Quảng Bình” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi không sao chép của ai,
dưới sự hướng dẫn của cô giáo TS. Nguyễn Thị Nga. Nội dung đề tài khóa luận
có tham khảo và sử dụng tài liệu thông tin được đăng tải trên các web theo danh
mục tài liệu tham khảo của đề tài. Nếu sai tôi xin hoàn chịu trách nhiệm !
1.2.2. Khảo sát thực trạng việc dạy và học Mở rộng vốn từ thông qua phân môn
Luyện từ và câu lớp 4 tại trường tiểu học Hồng Hóa – Minh Hóa – Quảng Bình
............................................................................................................................. 17
CHƯƠNG 2: CÁC BIỆN PHÁP MỞ RỘNG VỐN TỪ VỐN TỪ CHO HỌC
SINH LỚP 4 THÔNG QUA PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU ............... 21
III
2.1. Mở rộng vốn từ bằng việc xây dựng hệ thống các bài tập. .......................... 21
2.2. Mở rộng vốn từ theo chủ điểm ..................................................................... 32
2.3. Mở rộng vốn từ thông qua các trò chơi học tập ........................................... 36
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM.................................................... 43
3.1. Những vấn đề chung..................................................................................... 43
3.1.1. Mục đích thực nghiệm ............................................................................... 43
3.1.2. Đối tượng, thời gian, địa bàn thực nghiệm ............................................... 43
3.1.3. Nội dung thực nghiệm ............................................................................... 43
3.2 Thiết kế giáo án ............................................................................................. 44
3.2.1 Giáo án thực nghiệm .................................................................................. 44
3.2.2 Giáo án đối chứng ...................................................................................... 51
3.3. Kết quả thực nghiệm .................................................................................... 54
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .......................................................................... 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 59
PHỤ LỤC ..............................................................................................................
IV
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Chữ cái viết tắt
Tr
Trang
TN
Thực nghiệm
ĐC
Đối chứng
BT
Bài tập
V
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tiểu học là cấp học cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển nhân
cách con người, đặt nền tảng cho giáo dục phổ thông và các cấp học trên. Là
những chủ nhân tương lai của đất nước, đòi hỏi học sinh phải có vốn kiến thức
cơ bản cần thiết. Để giúp học sinh có vốn kiến thức đó, nhiệm vụ của môn tiếng
Việt ở tiểu học là trang bị cho các em những kiến thức về hệ thống tiếng Việt,
chuẩn tiếng Việt, rèn cho học sinh kĩ năng sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp.
Trong đó phân môn Luyện từ và câu là một trong những phân môn quan trọng
và có ý nghĩa to lớn. Luyện từ và câu giúp học sinh mở rộng, hệ thống hoá vốn
từ và trang bị cho học sinh một số hiểu biết sơ giản về từ và câu. Rèn cho học
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Dạy học mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu học là một nhiệm vụ hết sức
quan trọng của người giáo viên. Có kho tàng vốn từ vựng phong phú sẽ giúp cho
các em có thể phân loại được các loại từ, cách dùng từ, đặt câu có ý nghĩa, vận
dụng các từ được mở rộng trong phân môn luyện từ và câu và các phân môn học
khác. Nhìn thấy được tầm quan trọng của việc dạy mở rộng vốn từ, một số tác
giả đã đề cập vấn đề mở rộng vốn từ trong quá trình nghiên cứu của mình.
Tác giả Lê Phương Nga đã tiến hành “Tìm hiểu vốn từ của học sinh Tiểu
học”. Đây là chương trình có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì đã giải quyết hai
nhiệm vụ: làm rõ khả năng khả năng hiểu nghĩa từ của học sinh tiểu học và xác
định được khả năng sử dụng từ của các em. Tác giả đã đưa ra những con số
thống kê về thực trạng nắm nghĩa của từ và sử dụng từ của học sinh. Từ việc đó
tác giả phân tích rõ các đặc điểm giải nghĩa từ và sử dụng từ của học sinh, đồng
thời thấy được cả những lúng túng của các em khi thực hiện những hoạt động
này.
Tác giả Trịnh Mạnh có bài “Dạy từ ngữ cho học sinh cấp phổ thông”. Tài
liệu này có hai đóng góp quan trọng. Thứ nhất, là xác định được 3 nhiệm vụ cụ
thể của việc dạy từ (chính xác vốn từ, phong phú vốn từ, tích cực hóa vốn từ).
Thứ hai, là tài liệu đã xác định nội dung cụ thể của việc dạy từ, nên dạy cái gì và
2
không dạy cái gì? Ngoài các nhiệm vụ cơ bản mà Trịnh Mạnh đã đề cập, bài viết
“Những điểm mới làm cơ sở cho việc dạy và học môn Tiếng Việt ở Trung học cơ
sở”. (Giáo dục số lục, 1986).
Công trình nghiên cứu của Nguyễn Mai Liên – mã số 17 đã nghiên cứu về
việc mở rộng vốn từ của học sinh nhưng chỉ dừng lại ở từ láy với đề tài “Khảo
sát khả năng nhận biết, tích lũy và mở rộng vốn từ láy của học sinh Tiểu học”
Luận án của tác giả Lê Hữu Tỉnh đã xây dựng “Hệ thống bài tập rèn luyện
năng lực sử dụng từ ngữ cho học sinh tiểu học”. Luận án đưa ra một hệ thống
- Học sinh lớp 4.
5.2. Khách thể nghiên cứu
- 58 học sinh lớp 4 đang theo học tại trường Tiểu học Hồng Hóa - Minh
Hóa - Quảng Bình.
6. Phạm vi và thời gian nghiên cứu
6.1. Phạm vi nghiên cứu
- Việc dạy và học mở rộng vốn từ thông qua phân môn Luyện từ và câu lớp
4 tại trường Tiểu học Hồng Hóa – Minh Hóa – Quảng Bình.
6.2. Thời gian nghiên cứu
- Năm học 2017 – 2018.
7. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phương pháp này được dùng để
đọc các tài liệu có liên quan đến chủ đề tôi xây dựng để chọn lọc, ghi chép,
tổng hợp thành cơ sở lí luận cho đề tài.
- Phương pháp thống kê - phân loại: Phương pháp nghiên cứu này
được dùng để khảo sát, phân loại các dạng bài tập, phân loại kết quả học
tập của học sinh.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phương pháp nghiên cứu này
được dùng để phân tích, tổng hợp kết quả nghiên cứu kết quả điều tra thực
tế.
- Phương pháp thực nghiệm: Phương pháp nghiên cứu này được vận
dụng trong quá trình tổ chức thực nghiệm những dạng bài tập mà đề tài đề
xuất.
4
8. Đóng góp của khóa luận
- Kế thừa những thành tựu của các công trình nghiên cứu trước đó có liên
quan đến đề tài.
- Đề ra được các biện pháp để mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 4 thông qua
Hình thức ngữ âm của từ tiếng Việt cố định, bất biến ở mọi vị trí, mọi quan
hệ và chức năng trong câu. Nói cách khác, hình thức của từ không thay đổi khi
từ ở trong từ điển và khi từ ở trong câu nói.
Ví dụ:
+ Trong từ điển: sách
+ Trong câu nói:
Sách này của tôi.
Không có sách thì không có tri thức.
Vì vậy, nhằm vào hình thức ngữ âm của từ, ta không biết giá trị ngữ pháp
của chúng. Giá trị ngữ pháp của từ được hiện thực hóa, được bộc lộ trong mối
quan hệ giữa nó với các từ khác đứng trước hoặc đứng sau
Bên cạnh đó, do tiếng Việt là ngôn ngữ giàu thanh điệu, cấu tạo ngữ âm của
các âm, các vần lại hết sức phong phú, vì vậy, hình thức ngữ âm của từ tiếng
Việt có khả năng gợi tả, có giá trị biểu hiện rất cao. Trong sáng tạo văn chương,
các nhà văn, nhà thơ rất có ý thức khai thác đặc điểm này về mặt ngữ âm của từ
6
tiếng Việt để tạo ra những câu văn, câu thơ mà hình thức ngữ âm của từ có tác
dụng gợi nghĩa, gợi nội dung rất lớn. Ví dụ:
Đọc hai dòng thơ sau trong Truyện Kiều:
Đoạn trường thay, lúc phân kì,
Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh.
Ta thấy dường như âm thanh ở đây có một sự tương ứng nào đó với tình
cảm của người trong cuộc. Cái sự khó khăn trong phát âm được lặp lại ở hai cặp
âm tiết trong dòng thơ thứ hai (khấp khểnh, gập ghềnh) có một sự phù hợp nào
đó với cuộc đời đầy gian truân mà nàng Kiều đang bước vào, đang dấn thân.
b. Đặc điểm ngữ pháp
Do bị chi phối bởi những đặc điểm về loại hình (loại hình ngôn ngữ) nên
đặc điểm ngữ pháp của từ tiếng Việt chủ yếu được biểu hiện ở hai phương diện:
Dựa vào mối quan hệ của từ trong trường nghĩa, người ta phân chia thành
từ đồng nghĩa và từ trái nghĩa.
Từ đồng nghĩa là những từ khác nhau về hình thức ngữ âm nhưng lại phải
có chung nhất một nét nghĩa nào đó.
Từ trái nghĩa là những từ khác nhau về hình thức ngữ âm, đối lập về ý
nghĩa, biểu hiện khái niệm tương phản về logic nhưng tương liền với nhau.
c. Phân loại từ theo nguồn gốc
• Từ thuần Việt
Từ thuần Việt là những từ cơ bản, từ gốc của Tiếng Việt. Nó ra đời sớm và
được dân tộc ta sử dụng từ thời thượng cổ đến nay. Nó là cơ sở của hệ thống từ
vựng tiếng Việt. Từ thuần Việt có số lượng lớn và mang tính dân tộc sâu sắc.
Đó là những từ như: cha, mẹ, anh, em, nắng, mưa,...
Quá trình phát triển của lịch sử - xã hội ngôn ngữ, các từ thuần Việt cũng
có những thay đổi, biến đổi nhất định cả về nghĩa, về cách dùng…Trong tiếng
Việt hiện đại, các từ thuần Việt vẫn giữ vai trò vô cùng quan trọng và làm cơ sở
cho sự phát triển của từ vựng tiếng Việt.
• Từ vay mượn
Từ vay mượn trong tiếng Việt là những từ tiếng Việt mượn của ngôn ngữ
khác, nhưng “cải tạo” lại để có hình thức ngữ âm, có đặc điểm ngữ pháp phù
8
hợp với hệ thống ngữ âm và ngữ pháp của tiếng Việt. Trong quá trình Việt hóa,
không chỉ có hình thức ngữ âm thay đổi mà nghĩa của từ cũng thay đổi.
Một số ví dụ: tử tế, cường điệu, đài các….(Hán); cà phê, xà phòng, săm,
lốp…(Pháp); mít tinh, căng tin…(Anh); bôn sê vích, Xô viết…(Nga)
d. Phân loại từ theo phạm vi sử dụng
Từ toàn dân
Là những từ toàn dân dều hiểu và sử dụng. Nó là vốn từ chung cho tất cả
những người nói tiếng Việt thuộc các địa phương khác nhau trên toàn lãnh thổ.
- Các mức độ thơm: thơm ngát, thơm dịu, thơm lừng, thơm ngào ngạt…
Quả:
- Các mức độ chín: ương, chín, chín cây, chín rộ, chín ép….
b. Trường nghĩa biểu niệm
Tập hợp các từ có chung một cấu trúc biểu niệm lại thì ta được trường
nghĩa biểu niệm. Nói cách khác, trường nghĩa biểu niệm là sự tập hợp các từ có
cấu trúc biểu niệm giống nhau.
Ví dụ: Các từ có chung nét nghĩa chung là dụng cụ lao động cầm tay tạo
thành một trường: cưa, kéo, hái, liềm, dao, rìu, lưới, đục, khoan,…
c. Trường nghĩa tuyến tính
Trường tuyến tính được hình thành nhờ sự tập hợp tất cả các từ cùng xuất
hiện với từ trung tâm theo quan hệ hàng ngang trong cụm từ, trong câu. Để xác
lập trường nghĩa tuyến tính, người ta thường chọn một từ làm gốc (từ trung tâm)
rồi tìm những từ ngữ kết hợp với nó thành một chuỗi tuyến tính.
Ví dụ: Trường nghĩa tuyến tính của từ bàn (danh từ) là: đá, gỗ, sắt; vuông,
tròn, bầu dục; ngắn, dài; học, viết, vẽ, ăn…
d. Trường nghĩa liên tưởng
Khi ta nhắc tới một từ nào đó (từ kích thích), từ ấy gợi ra cho ta hàng loạt
từ khác. Toàn bộ những từ do một từ kích thích gợi ra theo quy luật liên tưởng
tập hợp lại thành một trường liên tưởng.
Ví dụ: Khi nhắc đến từ quê hương, một loạt các từ được gợi ra đồng thời
hoặc kế tiếp: đẹp, nhớ, tình yêu, kỉ niệm, tuổi thơ, cây đa, dòng sông,…
10
1.1.1.3. Khái niệm mở rộng vốn từ
Như thế nào là vốn từ
Vốn từ là toàn bộ các từ và các đơn vị tương đương từ của ngôn ngữ được
lưu giữ trong trí óc của cá nhân và được cá nhân đó sử dụng trong hoạt động
giao tiếp
nhau giữa các sự vật. Tri giác của học sinh tiểu học phát triển trong quá trình
học tập. Sự phát triển này diễn ra theo hướng ngày càng chính xác hơn, đầy đủ
hơn, phân hóa rõ ràng hơn, có chọn lọc hơn. Vì vậy học sinh các lớp cuối tiểu
học (lớp 4, 5) đã biết tìm ra các dấu hiệu đặc trưng của đối tượng, biết phân biệt
sắc thái của các chi tiết để đi đến phân tích tổng hợp và tìm ra mối liên hệ giữa
chúng.
b. Trí nhớ
Ở học sinh tiểu học cả ghi nhớ có chủ định và không có chủ định đều đang
phát triển. Học sinh lớp 1, lớp 2 ghi nhớ không chủ định vẫn giữ vai trò quan
trọng. Ở những lớp học này các em thường ghi nhớ một cách máy móc. Do vậy,
để tránh cho các em không học vẹt, các thầy cô giáo cần hướng dẫn cho các em
biết ghi nhớ có ý nghĩa. Ở cuối bậc tiểu học, học sinh phát triển mạnh ghi nhớ có
chủ định.
c. Tưởng tượng
Tưởng tượng của các em học sinh tiểu học đã phát triển và phong phú hơn
nhiều so với trẻ em mẫu giáo. Đây là tuổi thơ mộng giàu tình cảm. Tuy nhiên
tưởng tượng của các em vẫn còn tản mạn, ít có tổ chức. Tưởng tượng được hình
thành và phát triển trong hoạt động học tập và các hoạt động khác cuả các em.
Khuynh hướng chủ yếu trong sự phát triển của học sinh tiểu học được hoàn
thiện gắn liền với những hình tượng đã được tri giác trước và tạo ra những hình
tượng phù hợp với điều mô tả, hình vẽ, sơ đồ…. Trẻ càng lớn thì các yếu tố, chi
tiết thừa trong hình ảnh càng giảm và hình ảnh cũng được gọt giũa hơn, tinh
giản hơn, nên mạch lạc hơn và sát thực hơn.
12
d. Tư duy
Tư duy của học sinh tiểu học là sự chuyển từ tính trực quan, cụ thể sang
tính trừu tượng, khái quát. Sự vận dụng các thao tác tư duy để hình thành khái
nghĩa, vận dụng các từ được mở rộng trong phân môn luyện từ và câu và các
phân môn học khác.
Một đứa trẻ có vốn từ phong phú sẽ dễ dàng hơn, tự tin hơn trong giao tiếp
và tiếp thu bài giảng, tiếp thu nội dung của sách. Với vốn từ phong phú, trẻ chủ
động trong việc lựa chọn và sử dụng từ. Ngược lại, nếu vốn từ nghèo nàn, các
em sẽ gặp khó khăn trong giao tiếp, lâu dần sinh ra mặc cảm, ngại nói chuyện,
thiếu cởi mở ảnh hưởng đến việc học tập.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Nội dung chương trình và SGK phân môn Luyện từ và câu lớp 4
Vị trí, nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu
Vị trí phân môn Luyện từ và câu
Từ và câu có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ. Từ là
đơn vị trung tâm của ngôn ngữ. Câu là đơn vị nhỏ nhất có thực hiện chức năng
giao tiếp. Vai trò của từ và câu trong hệ thống ngôn ngữ quyết định tầm quan
trọng của việc dạy Luyện từ và câu ở Tiểu học. Việc dạy Luyện từ và câu nhằm
mở rộng, hệ thống hóa, làm phong phú vốn từ của học sinh, cung cấp cho học
sinh những hiểu biết sơ giản về từ và câu, rèn cho học sinh kĩ năng dùng từ, đặt
câu và sử dụng các kiểu câu để thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình, đồng thời
giúp cho học sinh có khả năng hiểu các câu nói của người khác. Luyện từ và câu
có vai trò hướng dẫn học sinh trong việc nghe, nói, đọc, viết, phát triển ngôn
ngữ và trí tuệ của các em.
Nhiệm vụ phân môn Luyện từ và câu
- Làm giàu vốn từ cho học sinh và phát triển năng lực dùng từ đặt câu của
các em
- Cung cấp một số kiến thức về từ và câu
- Rèn luyện tư duy và giáo dục thẩm mĩ cho học sinh.
Nội dung chương trình
Phân môn luyện từ và câu ở lớp 4 được dạy trong 62 tiết.
14
15
+ Danh từ (tuần 5,6,7,8: 5 tiết gồm cả cách viết danh từ riêng)
+ Động từ(tuần 9 và 11: 2 tiết)
+ Tính từ (tuần 11 và 12: 2 tiết)
- Các dạng bài tập: Nhận diện từ theo loại; Luyện viết danh từ riêng; Tìm
và phân loại từ theo từ loại; Luyện sử dụng từ.
* Câu (26 tiết)
- Cung cấp các kiến thức sơ giản về cấu tạo, công dụng, và cách sử dụng
các kiểu câu:
+ Câu hỏi: tuần 13,14,15 (4 tiết).
+ Câu kể: tuần 16,17,19,20,21,22,24,25,26 (12 tiết bao gồm các kiểu câu:
ai làm gì; ai thế nào; ai là gì?)
+ Câu khiến : tuần 27,29 (3 tiết)
+ Câu cảm : tuần 30 (1 tiết)
+ Thêm trạng ngữ cho câu: tuần 31,32,33,34 (6 tiết )
- Các dạng bài tập: Nhận dạng các kiểu câu; Phân tích cấu tạo câu; Đặt câu
theo mẫu nhằm thực hiện các mục đích cho trước; Lựa chọn kiểu câu để đảm
bảo lịch sự trong giao tiếp; Luyện sử câu trong các tình huống khác nhau;
Luyện mở rộng câu.
* Dấu câu (3 tiết)
- Ôn luyện kiến thức về công dụng và luyện tập sử dụng một số dấu câu:
+ Dấu hai chấm ( tuần 2: 1 tiết )
+ Dấu ngoặc kép ( tuần 8: 1 tiết )
+ Dấu chấm hỏi( tuần 13 học cùng câu hỏi)
+ Dấu gạch ngang ( tuần 13: 1 tiết )
- Các dạng bài tập: Tìm công cụ của dấu câu; Luyện sử dụng dấu câu ( đặt
dấu câu vào chỗ thích hợp, tập viết câu , đoạn có sử dụng dấu câu).
Cấu trúc phân môn Luyện từ và câu trong sách giáo khoa
ra được những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học.
Nội dung khảo sát
Tôi đã tiến hành điều tra, tìm hiểu thông tin qua các thầy cô giáo và sử
dụng câu hỏi, phiếu điều tra để thu thập ý kiến từ 58 học sinh khối 4 đang theo
học tại trường tiểu học Hồng Hóa – Minh Hóa – Quảng Bình.
Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiến
Trong đề tài này, tôi đã sử dụng:
17
- Phương pháp điều trả bằng anket: Sử dụng câu hỏi, phiếu điều tra để thu
thập ý kiến từ học sinh và giáo viên.
- Phương pháp đàm thoại: Đây là phương pháp thu thập, phân tích những
phản ứng bằng lời của giáo viên và học sinh trong các cuộc trò chuyện.
Nhóm các phương pháp thống kê toán học
Xử lý thông tin thu được từ các phương pháp trên
Kết quả thu được từ phiếu điều tra
Lớp 4A(30)
Câu hỏi
1
2
3
4
5
6
7
8
Lớp 4B(28)
(21,4)
(57,2%)
(21,4%)
12
8
10
9
7
12
(40%)
(26,7)
(33,3%)
(32,1%)
(25%)
(42,9%)
3
24
1
(6,7%)
(86,7%)
(6,7%)
(10,7%)
(85,8%)
(3,5%)
3
26
1
4
22
2
(7,1%)
(7,5%)
(7,1%)
3
23
4
2
24
2
(10%)
(76,7%)
(13,3%)
(7,1%)
(85,8%)
(7,1%)
Ở lớp 4, các em đã được biết nhiều phương pháp dạy học, quen thuộc với
phân môn Luyện từ và câu. Hơn nữa, các em lại được học 2 tiết một tuần nên có
nhiều thuận lợi khi học phân môn này hơn những em học sinh lớp dưới,
Từ thực tế tìm hiểu và kết quả khảo sát thu được, tôi nhận thấy: Hầu hết
học sinh chưa hiểu hết vị trí, tầm quan trọng, tác dụng của phân môn Luyện từ
và câu. Cụ thể là lớp 4A có 21HS(chiếm 70%) và lớp 4B có 25HS(chiếm
89,4%) lựa chọn phương án B câu 8 trong phiếu phỏng vấn (môn Luyện từ và
câu không quan trọng). Vậy nên các em ít có hứng thú học tập, không yêu thích
môn học. Lớp 4A có 23HS( chiếm 76,7%) và lớp 4B có 24HS( chiếm 85,8%)
lựa chọn phương án B câu 7 trong phiếu phỏng vấn (không yêu thích môn học
Luyện từ và câu). Khi học Luyện từ và câu, phần lớn học sinh học thụ động: khi
giáo viên đưa ra bài tập, các em chỉ làm cho xong hoặc đợi cô giáo chữa bài
hoặc chép kết quả từ bạn. Vì vậy, năng lực từ ngữ ở các em còn nhiều hạn chế.
Về phía giáo viên
Qua khảo sát tôi nhận thấy: 100% giáo viên có trình độ chuyên môn
nghiệp vụ đạt chuẩn, thường xuyên được tham gia tập huấn về đổi mới trong
dạy và học. 100% giáo viên chuẩn bị bài giảng đầy đủ trước khi lên lớp với nội
dung theo sự hướng dẫn của sách thiết kế để đảm bảo nội dung chương trình.
Đáp ứng nhu cầu của thời đại mới, các giáo viên cũng đã trau dồi cho mình
những kiến thức và kĩ năng cần thiết về công nghệ thông tin (bài giảng điện tử)
để mang đến cho các em học sinh những tiết học thú vị nhất, đặc biệt là với
phân môn Luyện từ và câu.
Song bên cạnh đó cũng có không ít các giáo viên chỉ soạn bài dựa vào tài
liệu thiết kế dẫn đến các giáo án giống nhau. Một số giáo viên còn chưa quan
tâm đến việc mở rộng vốn từ, phát triển vốn từ cho học sinh, giúp học sinh làm
giàu vốn hiểu biết phong phú về Tiếng Việt. Hình thức tổ chức dạy học của một
số giáo viên còn đơn điệu, hầu như ít sáng tạo, chưa thu hút lôi cuốn học sinh.
19