Lời cảm ơn
Để hoàn thành khóa luận này, với tình cảm chân thành
em xin trân trọng cảm ơn Trường Đại học Quảng Bình, giảng
viên khoa SP Tiểu học – mầm non đã tận tình giảng dạy, động
viên, khích lệ, giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên – TS. Mai Thị
Liên Giang đã hướng dẫn để em hoàn thành khóa luận này.
Xin cảm ơn giáo viên chủ nhiệm đã động viên khi em gặp
khó khăn, cảm ơn các thầy cô giáo và các em học sinh Trường
Tiểu học số 2 Bắc Lý - TP Đồng Hới - tỉ nh Quảng Bình đã tạo
điều kiện giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu.
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn lo lắng động viên và
ủng hộ em trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn
thành khóa luận.
Do điều kiện về thời gian cũng như năng lực nghiên cứu
của bản thân còn hạn chế, khóa luận không tránh khỏi những
thiếu sót, rất mong được các ý kiến đóng góp của quý thầy cô
giáo, các bạn sinh viên để đề tài được hoàn chỉ nh hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Quảng Bình, tháng 5 năm 2016
Tác giả khóa luận
Trần Thị Hoàng Linh
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và
kết quả nghiên cứu nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được công bố
trong bất cứ công trình nào.
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
2. Mục đích nghiên cứu. ........................................................................................ 1
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. .................................................................... 1
3.1. Đối tượng nghiên cứu..................................................................................... 1
3.2. Phạm vi nghiên cứu. ....................................................................................... 2
4. Nhiệm vụ nghiên cứu. ....................................................................................... 2
5. Giả thuyết khoa học........................................................................................... 2
6. Phương pháp nghiên cứu. .................................................................................. 2
6.1. Nhóm phương pháp lý thuyết........................................................................ 2
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn. .................................................... 2
6.3. Nhóm phương pháp thống kê toán học. ......................................................... 3
7. Đóng góp của đề tài. .......................................................................................... 3
8. Thời gian thực hiện đề tài.................................................................................. 3
9. Cấu trúc đề tài. .................................................................................................. 3
NỘI DUNG ........................................................................................................... 4
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ LÀM GIÀU VỐN TỪ CHO
HỌC SINH LỚP 2 THÔNG QUA GIỜ TẬP ĐỌC, LUYỆN TỪ VÀ CÂU Ở
TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 2 BẮC LÝ – TP ĐỒNG HỚI – TỈNH QUẢNG
BÌNH ……………………………………………………………………………4
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu ............................................................................. 4
1.2. Một số vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài. ................................................ 5
1.2.1. Về đặc điểm phát triển ngôn ngữ của học sinh lớp 2 .................................. 5
1.2.2. Về tri giác và nhận thức của HS lớp 2 ........................................................ 6
1.2.3. Về tư duy và hứng thú của HS lớp 2. .......................................................... 6
1.2.4. Vai trò của việc phát triển vốn từ cho học sinh lớp 2 ................................. 7
1.3. Thực trạng của việc làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 2 trường Tiểu học số
2 Bắc Lý - TP Đồng Hới - tỉnh Quảng Bình thông qua giờ Tập đọc, Luyện từ và
câu. ...................................................................................................................... 12
1.3.1 Một số thông tin về trường Tiểu học số 2 Bắc Lý - TP Đồng Hới - tỉnh
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng của nhân loại. Thông qua ngôn ngữ, con
người có thể nói lên được tâm tư, suy nghĩ, tình cảm của bản thân, tạo mối quan hệ với những
người xung quanh. Để làm được những điều này con người phải có vốn ngôn ngữ nhất định,
hay nói cách khác họ phải có vốn từ nhất định.Vốn từ đó càng phong phú đa dạng, con người
càng thực hiện tốt công việc cũng như quá trình giao tiếp của mình. Làm giàu vốn từ rất cần
thiết đối với lứa tuổi HS tiểu học, đặc biệt là HS lớp 2. Vì ở lứa tuổi bắt đầu “ học ăn, học nói
”, các em cần được hình thành vốn từ đạt chuẩn để có thể học tập và thực hiện quá trình giao
tiếp một cách tốt nhất. Ngoài nhiệm vụ giúp HS hình thành vốn từ ngữ, người GV còn có
nhiệm vụ giúp các em trau dồi và làm giàu vốn từ. Thông qua đó, GV rèn luyện cho các em
năng lực tư duy, phương pháp suy nghĩ, giáo dục các em những tư tưởng lành mạnh, trong
sáng, góp phần hình thành nhân cách cho HS. Dạy mở rộng vốn từ góp phần rèn luyện cho
HS năng lực sử dụng tiếng mẹ đẻ, tạo điều kiện thuận lợi cho các em giao tiếp. Trong chương
trình Tiếng Việt lớp 2 có các phân môn: Tập đọc, Kể chuyện, Tập viết, Tập làm văn, Chính tả,
Luyện từ và câu. Để làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 2, chương trình Tiếng việt yêu cầu
không chỉ dạy học làm giàu vốn từ ở một phân môn chính mà cần phải tích hợp làm giàu vốn
từ trong các phân môn của Tiếng Việt. Có thể thấy, vấn đề làm giàu vốn từ cho HS đã được
các nhà giáo dục đặc biệt quan tâm, song trên thực tế việc thực hiện vẫn còn gặp phải những
khó khăn, hạn chế nhất định. Mặt khác, các biện pháp dạy học của GV nhằm làm giàu vốn từ
cho HS hiện nay vẫn còn nhiều khoảng trống đáng bàn. Xuất phát từ những lí do nêu trên,
chúng tôi chọn đề tài “ Biện pháp làm giàu vốn từ cho HS lớp 2 thông qua giờ Tập đọc,
Luyện từ và câu ở trường Tiểu học số 2 Bắc Lý - TP Đồng Hới - tỉnh Quảng Bình ”.
2. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu thực trạng của việc làm giàu vốn từ cho HS lớp 2 thông qua
giờ Tập đọc, Luyện từ và câu ở trường Tiểu học số 2 Bắc Lý - TP Đồng Hới tỉnh Quảng Bình.
- Đề xuất các biện pháp làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 2 thông qua giờ
Tập đọc, Luyện từ và câu ở trường Tiểu học số 2 Bắc Lý - TP Đồng Hới - tỉnh
Quảng Bình.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Phương pháp điều tra nhằm khảo sát thực trạng sử dụng các biện pháp
làm giàu vốn từ cho HS lớp 2 thông qua giờ Tập đọc, Luyện từ và câu.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm nhằm đúc rút những kinh nghiệm,
những bài học về quá trình dạy học, những kinh nghiệm làm giàu vốn từ cho HS
lớp 2 thông qua giờ Tập đọc, Luyện từ và câu.
2
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm định tính khả thi của các
biện pháp đưa ra.
6.3. Nhóm phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để phân tích kết quả điều tra thực
trạng và làm tăng độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu về vấn đề biện pháp làm
giàu vốn từ cho học sinh lớp 2 thông qua giờ Tập đọc, Luyện từ và câu ở trường
Tiểu học số 2 Bắc Lý - TP Đồng Hới - tỉnh Quảng Bình.
6. Đóng góp của đề tài
Đề tài đã đề xuất các biện pháp góp phần làm giàu vốn từ cho HS lớp 2
thông qua giờ Tập đọc, Luyện từ và câu ở trường Tiểu học số 2 Bắc Lý - TP
Đồng Hới - tỉnh Quảng Bình.
7. Thời gian thực hiện đề tài
Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 1 năm 2016 đến tháng 5 năm 2016.
8. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính của đề tài gồm có 3
chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học của vấn đề làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 2
thông qua giờ Tập đọc, Luyện từ và câu ở trường Tiểu học số 2 Bắc Lý - TP
Đồng Hới - tỉnh Quảng Bình.
Chương 2: Biện pháp làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 2 thông qua giờ Tập
đọc, Luyện từ và câu ở trường Tiểu học số 2 Bắc Lý - TP Đồng Hới - tỉnh
câu ở tiểu học”, tác giả Chu Thị Thủy An và Chu Thị Hà Thanh đã phân tích
khái quát nhiệm vụ, nội dung, cấu trúc chương trình phân môn Luyện từ và câu
ở tiểu học, đồng thời định hướng cụ thể phương pháp dạy học từng nội dung,
từng kiểu bài, trong đó có kiểu bài MRVT góp phần làm giàu vốn từ cho HS.
Cùng năm 2009, tác giả Trịnh Thị Hương trong công trình “Một số biện
pháp làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 4” [4] đã đưa ra các biện pháp làm giàu
4
vốn từ cho HS lớp 4 qua các bài MRVT ở phân môn Luyện từ và câu khá chi tiết
và cụ thể. Luận án của tác giả Lê Hữu Tỉnh cũng đã trình bày “Hệ thống bài tập
rèn luyện năng lực sử dụng từ ngữ cho học sinh tiểu học” [12]. Luận án đã đưa
ra một hệ thống bài tập dạy từ cho HS tiểu học, với cái nhìn toàn cục, tổng thể
về diện mạo chung của các bài tập dạy từ ở tiểu học, tác giả đã phân tích về mục
đích, ý nghĩa, tác dụng của bài tập, các loại bài tập. Hệ thống bài tập cho phép
người sử dụng lựa chọn tùy vào điều kiện dạy học cụ thể.
Có thể nói, vấn đề làm giàu vốn từ cho HS tiểu học không phải hoàn toàn
mới, đã có rất nhiều tài liệu nói về việc dạy từ cũng như làm giàu vốn từ cho HS
như phát triển mở rộng, hệ thống hóa vốn từ, nắm nghĩa từ hay khả năng sử
dụng vốn từ, …. việc xây dựng các phương pháp, biện pháp làm giàu vốn từ cho
HS ở tiểu học qua các phân môn môn Tiếng Việt. Tuy nhiên, các tài liệu trên
chủ yếu đề cập một cách tổng quát về vấn đề dạy học các phân môn của môn
Tiếng Việt ở tiểu học và vấn đề làm giàu vốn từ cho HS phần lớn chỉ mới chú
trọng vào một phân môn chính, chưa có tác giả nào nghiên cứu vấn đề cụ thể ở
trường Tiểu học số 2 Bắc Lý - TP Đồng Hới - tỉnh Quảng Bình. Trên cơ sở tổng
kết kinh nghiệm đã nghiên cứu, chúng tôi chọn đề tài “Biện pháp làm giàu vốn
từ cho HS lớp 2 thông qua giờ Tập đọc, Luyện từ và câu ở trường Tiểu học số 2
Bắc Lý - TP Đồng Hới - tỉnh Quảng Bình”.
1.2. Một số vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài.
1.2.1. Về đặc điểm phát triển ngôn ngữ của học sinh lớp 2
Dạy từ ngữ ở tiểu học có nhiệm vụ phát triển năng lực tư duy trừu tượng
cho HS nên việc làm giàu vốn từ cho HS phải được tiến hành từ dễ đến khó, từ
đơn giản đến phức tạp. Thông qua quá trình làm giàu vốn từ, HS nắm được các
thao tác và phẩm chất tư duy như: phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng
hóa… Ở lứa tuổi lớp 2, tư duy của trẻ đã logic hơn và tư duy trực quan hình
tượng của trẻ đã khác nhiều ở lứa tuổi trước đó. Ở lứa tuổi này, trẻ đã biết phân
tích so sánh, khái quát, đây là những năng lực cần thiết để trẻ học tập. Chính vì
vậy, làm giàu vốn từ cho HS bằng các phương pháp trừu tượng là rất thuận lợi.
Đối với trẻ em, đặc biệt là HS tiểu học khi làm một việc gì đó mà không
hứng thú thì sẽ không tập trung chú ý. Ngược lại, khi có hứng thú, thì các em
thường hướng toàn bộ quá trình nhận thức của mình vào đó làm cho sự quan sát,
tư duy, suy nghĩ tinh tế hơn, nhớ nhanh và lâu bền hơn. Việc làm giàu vốn từ
6
cho HS bao gồm nhiều việc phức tạp không đơn giản, nếu GV không khơi
nguồn hứng thú của HS thì giờ học sẽ trở nên khô khan thậm chí là nặng nề với
HS. Điều này dẫn đến ý thức, mức tập trung của các em bị hạn chế, các em sẽ
không tham gia tích cực, chủ động trong việc làm giàu vốn từ của mình. Như
vậy, người GV cần nắm bắt được những sự hay đổi tâm sinh lý đó của HS lớp 2
để có phương pháp dạy học tiếng Việt nói chung và dạy học làm giàu vốn từ cho
HS nói riêng phù hợp để kích thích được hứng thú học tập của HS và nâng cao
hiệu quả giờ học.
Đây cũng là cơ sở quan trọng để chúng tôi đề xuất các biện pháp làm giàu
vốn từ cho HS lớp 2.
1.2.4. Vai trò của việc phát triển vốn từ cho học sinh lớp 2
Như chúng ta đã biết, vốn từ là khối từ ngữ cụ thể, hoàn chỉnh (có đủ hình
thức âm, chữ và nội dung ngữ pháp ) mà mỗi cá nhân tích lũy được trong vốn kí
ức của mình. Vốn từ của từng người cụ thể, không ai giống ai. Vốn từ nhiều hay
ít, đơn giản hay đa dạng tùy thuộc ở kinh nghiệm sống, ở trình độ học vấn, ở sự
tiếp một cách thành thạo. Còn vốn từ thụ động là những từ ít được sử dụng hay
không còn sắc thái mới, chưa được sử dụng rộng rãi. Trong quá trình phát triển
và hoàn thiện ngôn ngữ, một số từ mới có nghĩa mới được nảy sinh, bên cạnh đó
cũng có một số từ cũ bị đào thải loại bỏ. Những từ đó đã lỗi thời dần dần bị gạt
ra khỏi vốn từ tích cực, chúng ít được sử dụng và trở thành vốn từ thụ động.
Những từ mới xuất hiện thì chưa thể trở thành vốn từ tích cực, phải tích cực hóa
các từ đó bằng cách vận dụng vào hoạt động giao tiếp một cách thường xuyên và
hiệu quả. Một trong những nhiệm vụ chính nhằm nâng cao trình độ văn hóa về
mặt ngôn ngữ của con người là nâng cao vốn từ bằng cách làm giàu vốn từ tích
cực. Vốn từ được hình thành theo hai con đường: con đường tự nhiên, vô thức
(qua việc nghe, đọc sách, báo … từ ngữ tự nhiên xâm nhập vào con người) và
con đường có ý thức (qua học tập). Làm giàu vốn từ cho HS tiểu học nhằm mục
đích hình thành vốn từ cho HS theo con đường có ý thức thông qua các hoạt
động học tập môn Tiếng Việt và các môn khác ở tiểu học.
Có thể nói, vốn từ của HS là toàn bộ các từ và ngữ cố định (thành ngữ, tục
ngữ…) mà HS có được trong quá trình học tập, giao tiếp trong và ngoài nhà
trường. Trước tuổi đến trường tiểu học các em đã tích lũy được một số vốn từ
nhờ giao tiếp trong môi trường gia đình và nhà trường Mầm non. Nhưng những
8
từ các em tích lũy được còn lộn xộn, các em chưa hiểu nghĩa từ chính xác và sắp
xếp chưa hệ thống nên các em thường bối rối và gặp trở ngại trong việc lựa chon
trong việc sử dụng từ. Khi đến trường tiểu học, vốn từ của các em dần được bổ
sung và được sắp xếp thành hệ thống trật tự nhất định để các em sử dụng dễ
dàng. Theo tác giả Nguyễn Minh Thuyết (25, tr.123-137), nhiệm vụ chủ yếu của
việc dạy từ (làm giàu vốn từ) ở tiểu học là giúp HS:
- Mở rộng, phát triển vốn từ (phong phú hóa vốn từ)
- Nắm nghĩa của từ (chính xác hóa vốn từ)
- Quản lý và phân loại vốn từ (hệ thống hóa vốn từ)
M: bàng
9
đ) Cây hoa.
M: cúc
Như vậy, ở đây, tác giả Nguyễn Minh thuyết đã sử dụng thuật ngữ mở rộng
vốn từ theo nghĩa hẹp, mở rộng vốn từ là một trong bốn nhiệm vụ làm giàu vốn
từ cho HS tiểu học. Theo ông, để mở rộng vốn từ cho HS, SGK đưa ra các bài
tập yêu cầu HS tìm các từ theo dấu hiệu cho trước hoặc theo một dấu hiệu chung
nào đó và thông qua quá trình liên tưởng HS sẽ tìm được các từ mới. Khác với
cách sử dụng thuật ngữ Mở rộng vốn từ theo nghĩa hẹp của tác giả Nguyễn Minh
Thuyết, tác giả Lê Phương Nga [14 – 181, 211] lại sử dụng thuật ngữ mở rộng
vốn từ theo nghĩa rộng, dùng để chỉ toàn bộ công việc làm giàu vốn từ cho HS
tiểu học. Theo tác giả, làm giàu vốn từ hay còn gọi là mở rộng vốn từ, là nhiệm
vụ cả các bài học có tên gọi “ Mở rộng vốn từ”. Nhiệm vụ làm giàu vốn từ cho
HS tiểu học bao gồm các công việc dạy nghĩa từ, hệ thống hóa vốn từ, tích cực
hóa vốn từ. Theo tác giả Lê Nga thì dạy nghĩa từ là làm cho HS nắm nghĩa từ
bao gồm việc thêm vào vốn từ của HS những từ mới và những nghĩa mới của từ
đã biết, làm cho các em nắm được tính nhiều nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ.
Dạy nghĩa từ phải hình thành những khả năng phát hiện ra những từ mới chưa
biết trong văn bản cần tiếp nhận, nắm một số thao tác giải nghĩa từ, phát hiện ra
những nghĩa mới của từ đã biết, làm rõ những sắc thái nghĩa khác nhau của từ
trong những ngữ cảnh khác nhau. Cũng theo các nhà nghiên cứu thì ở Tiểu học,
người ta thường sử dụng các biện pháp làm giàu vốn từ sau như: Giải nghĩa
bằng trực quan, giải nghĩa bằng ngữ cảnh, giải nghĩa bằng cách đối chiếu, so
sánh với từ khác, giải nghĩa bằng cách tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa, giải nghĩa
ngữ tích cực (những từ ngữ hiểu nghĩa nhưng không sử dụng khi nói, viết) thành
từ ngữ tích cực, được sử dụng thường xuyên trong giao tiếp hàng ngày.
Làm giàu vốn từ là nhiệm vụ của các bài học có tên gọi “Mở rộng vốn
từ”.Vì vậy, trong kiểu bài “Mở rộng vốn từ” sẽ gồm các bài tập sau:
+ Bài tập giải nghĩa từ (còn gọi là bài tập chính xác hóa vốn từ) có mục
đích cung cấp cho HS các từ mới hoặc những nghĩa mới của từ đã học.
+ Bài tập hệ thống hóa vốn từ (còn gọi là bài tập mở rộng vốn từ và phân
loại, quản lý vốn từ) có mục đích giúp HS dựa vào một hình thức liên tưởng nào
đó, sắp xếp vốn từ trong trí nhớ của mình một cách trật tự để nhớ nhanh, nhiều
và sử dụng một cách dễ dàng. Bài tập sử dụng từ (còn gọi là bài tập tích cực hóa
11
vốn từ) làm giàu vốn từ cho HS bằng cách hướng dẫn các em sử dụng từ vào
điền từ, tạo cụm từ, đăt câu, viết đoạn văn.
1.3. Thực trạng của việc làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 2 trường Tiểu học
số 2 Bắc Lý - TP Đồng Hới - tỉnh Quảng Bình thông qua giờ Tập đọc,
Luyện từ và câu.
1.3.1 Một số thông tin về trường Tiểu học số 2 Bắc Lý - TP Đồng Hới - tỉnh
Quảng Bình..
Trường Tiểu học số 2 Bắc Lý - TP Đồng Hới - tỉnh Quảng Bình là ngôi
trường nằm trên địa bàn phường Bắc Lý – TP Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Cụ
thể: Tổng số CBGV, NV: 35 đồng chí. Biên chế: 31 đồng chí. Hợp đồng: 4 đồng
chí. Trình độ ĐH: 28 đồng chí; CĐ: 5 đồng chí; TC: 2 đồng chí (y tế và kế
toán), đạt chuẩn cả 100%. Đội ngũ đáp ứng với yêu cầu giáo dục hiện nay. Trình
độ chuyên môn: 100% GV qua dự giờ đều đạt loại khá và tốt, không có GV yếu
kém về năng lực. Tổng số học sinh trong toàn trường là 563 em. Khối 1: 136
em/4 lớp (bình quân 34 em/lớp). Khối 2: 140 em/4 lớp (bình quân 35 em/lớp).
Khối 3: 113 em/4 lớp (bình quân 28 em/lớp). Khối 4: 91 em/3 lớp (bình quân 30
hóa thể thao, các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Chú trọng và tăng cường nếp sống
văn hóa, văn minh đô thị, văn hóa truyền thống, kỹ năng sống. Đẩy mạnh việc
giáo dục an toàn giao thông, tai nạn thương tích, đuối nước. Thực hiện nghiêm
túc chương trình kế hoạch của ban chỉ đạo về: “Xây dựng trường học an toàn về
an ninh trật từ, xây dựng nhà trường thực sự trong sạch, yên bình, không tội
phạm”. Công tác huy động số lượng và phổ cập giáo dục được chú trọng, huy
động trẻ trong độ tuổi trên địa bàn vào lớp 1 đạt 100% (134/134 em). Vận động
trẻ 6 – 14 tuổi đến lớp. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện đổi mới phương
pháp dạy học. Đẩy mạnh việc đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy
học theo mô hình trường học mới (VNEN). Sắp xếp, trang trí các phòng hoc
đảm bảo khoa học, thân thiện tạo điều kiện cho việc tổ chức đổi mới PPDH đạt
hiệu quả cao. Nhà trường đã tổ chức các chuyên đề: Dạy học theo mô hình
trường học mới (VNEN) chuyên đề về dạy học theo nhóm. Bồi dưỡng học sinh
giỏi toán Lớp 4, 5. Đánh giá học sinh theo thông tư 30. Khi có thông tư 30, nhà
trường đã phổ biến đến từng giáo viên. Họp phụ huynh các lớp đầu năm và hội
nghị phụ huynh đầu năm nhà trường đã phổ biến một số nội dung trong thông tư
30 cho phụ huynh nắm để phối hợp thực hiện, đồng thời tham mưu với địa
13
phương để kịp thời phổ biến đến nhân dân địa bàn phường phối hợp thực hiện.
Nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ chuyên môn, bồi dưỡng giáo viên, tăng cường
đổi mới sinh hoạt tổ khối chuyên môn theo quy định 2 tuần/lần; quán triệt các
nội dung về đổi mới phương pháp dạy…trao đổi về nội dung bài tập theo từng
đối tượng học sinh và các giải pháp để nâng cao việc dạy học theo nhóm lớp, vai
trò của nhóm trong các giờ học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện
trong nhà trường. Tham mưu xây dựng quỹ khuyến học trường để động viên
giáo viên và học sinh có thành tích cao trong các mặt.
Về giáo dục thể chất, thẩm mỹ: nhà trường đã tổ chức các hoạt động giáo
dục ngoài giờ lên lớp trong năm như: “Vầng trăng tuổi thơ” nhân dịp trung thu;
33,3%. Kiểm tra toàn diện 24 đồng chí, trong đó xuất sắc: 13 đồng chí, khá: 11
đồng chí. Kiểm tra chuyên đề giáo viên đạt 100%. Thành lập ban kiểm tra nội
bôj trường học là những đồng chí cán bộ giáo viên có năng lực, trình độ, có kinh
nghiệm. Xây dựng và thực hiện nghiêm túc kế hoạch kiểm tra nội bộ trường học.
Tạo điều kiện thuận lợi cho ban thanh tra ND trong trường học hoạt động có
hiệu quả trong việc giám sát. Công đoàn nhà trường, UBKTCĐ thực hiện đúng
chức năng nhiệm vụ của mình theo quy định. Kiểm tra nghiêm túc hoạt động sư
phạm của giáo viên với các nội dung: Phẩm chất chính trị, kết quả thực hiện
nhiệm vụ được giao, tính trung thực trong công tác, sự tín nhiệm của đồng
nghiệp, thái độ giáo dục học sinh, giao tiếp với phụ huynh, việc thực hiện quy
chế chuyên môn, nội quy nhà trường. Tiếp tục hoàn thành tự đánh giá cơ sở giáo
dục trong năm học. Hoàn thành kiểm định chất lượng, phấn đấu đủ điều kiện
tham gia đánh giá ngoài trong năm học tới. Như vậy, trường đã có những sự cố
gắng rất lớn trong việc tu sửa trường học, nâng cao trình độ chuyên môn của
giáo viên trong trường, nhằm tạo môi trường học tập tốt nhất cho học sinh.
1.3.2. Nhận xét về việc làm giàu vốn từ cho HS lớp 2 trường Tiểu học số 2
Bắc Lý - TP Đồng Hới - tỉnh Quảng Bình
Qua tìm hiểu tôi thấy việc làm giàu vốn từ cho HS lớp 2 thông qua giờ Tập
đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn ở trường Tiểu học số 1 Bắc Lý có một số
thuận lợi và khó khăn sau:
* Về thuận lợi
Nhà trường luôn quan tâm đến chất lượng dạy học, chỉ đạo chuyên môn
luôn sát với thực tiễn, luôn đẩy mạnh việc dạy và học ứng dụng phương pháp
15
dạy học tích cực theo mô hình mới. Điều này góp phần làm giàu vốn từ, kích
thích học tập môn học Tiếng việt cho HS, giúp HS biết giữ gìn và phát huy “thứ
của cải vô cùng qúy giá của dân tộc”. Đội ngũ GV luôn có ý thức trong việc
nâng cao chất lượng dạy học. Đa số GV đã nghiên cứu và chuẩn bị bài soạn chu
cao chất lượng dạy học.
- Về phía giáo viên: Một số GV gặp lúng túng khi thực hiện quy trình
giảng dạy, bám máy móc vào sách GV, hầu như rất ít sáng tạo, chưa tạo ra các
tình huống giao tiếp sinh động để cuốn hút HS. GV chỉ biết thực hiện đầy đủ
các bước, các hoạt động theo quy trình đã được hướng dẫn nhưng không xác
định được tại sao phải thực hiện hoạt động đó với biện pháp đó, ít chú ý đến quá
trình và hiệu quả tổ chức từng hoạt động. Việc đổi mới phương pháp dạy học
đôi khi còn mang tính hình thức. Mặt khác, vốn từ ngữ của bản thân GV chưa
phong phú, chưa đáp ứng được yêu cầu hướng dẫn HS mở rộng vốn từ, phát
triển vốn từ. Việc nắm nghĩa của từ của nhiều GV chưa tốt. Đa số GV còn lúng
túng khi miêu tả, giải thích nghĩa của từ. Có trường hợp GV không xác định
được chính xác các từ ngữ mà HS nêu ra có thuộc chủ điểm hay không. Khi giải
nghĩa từ, GV sử dụng phần nhiều biện pháp mô tả, diễn giải từ đó không kích
thích HS suy nghĩ, hạn chế rèn kỹ năng nói cho các em. Đặc biệt, GV chưa xác
định được vốn từ của HS mình dạy, từ đó có trường hợp GV say sưa cung cấp,
giải nghĩa những từ mà thực sự HS lớp 2 đã biết qua (qua học tập ở lớp trước,
qua kinh nghiệm), cũng chưa biết cách thiết kế lại nội dung bài tập sao cho phù
hợp với đặc điểm nhận thức của HS, nhằm giúp các em tự mình hoàn thành bài
tập. Thiết bị dạy học phục vụ cho các giờ dạy còn ít và không đồng bộ. GV
cũng ít chịu khó đầu tư làm đồ dùng dạy học. Việc sử dụng đồ dùng dạy học
(nếu có) trong giờ dạy cũng chưa hợp lý, không rõ ràng về mục đích sử dụng.
- Về phía học sinh: Do cách dạy của 1 số GV nên HS ngại học giờ Tập đọc,
Luyện từ và câu nói chung, nội dung mở rộng vốn từ nói riêng. Do ảnh hưởng
của môi trường gia đình vã xã hội, các em sống, sinh hoạt, giao tiếp trong nhiều
vùng, cộng đồng khác nhau nên việc bổ sung vốn từ, trau dồi kỹ năng dùng từ
còn nhiều hạn chế.
1.3.3. Mục đích và nội dung khảo sát
* Mục đích khảo sát
17
Đồng Hới - tỉnh Quảng Bình.
18
1.3.4. Kết quả khảo sát
Địa bàn khảo sát có 18 lớp với tổng số HS là 563 em, 100% đi học đúng độ
tuổi. Khối lớp 2 gồm 5 lớp với 140 em. Nghiên cứu thực trạng HS lớp 2 hiện
nay có vốn từ ngữ ra sao trong học tập, giao tiếp hàng ngày cũng như sự bày tỏ
quan điểm nhận thức của bản thân trước những vấn đề mà HS phải sử dụng từ
phù hợp qua những lời nói, theo nội dung bài học và sự giao tiếp với mọi người
xung quanh ở trường, ở lớp. Qua phân tích, tổng hợp tôi khảo sát cụ thể trong 2
phân môn như sau:
1.3.4.1. Khảo sát thông qua phân môn Tập đọc
a) Chương trình Tập đọc, Luyện từ và câu ở lớp 2
Bảng 1: Nội dung học phân môn Tập đọc chương trình SGK Tiếng Việt lớp 2 cũ
Nội dung học phân môn Tập đọc
STT
Trang – Tập
1
Có công mài sắt, có ngày nên kim
Trang 4 - Tập 1
2
Bạn của Nai Nhỏ
Trang 22 - Tập 1
8
Danh sách học sinh tổ 1, lớp 2A
Trang 25 - Tập 1
9
Gọi bạn
Trang 28 - Tập 1
10
Bím tóc đuôi sam
Trang 31 - Tập 1
11
Trên chiếc bè
Trang 34 - Tập 1
12
Ngôi trường mới
Trang 50 - Tập 1
19
18
Mua kính
Trang 53 - Tập 1
19
Người thầy cũ
Trang 56 - Tập 1
20
Thời khóa biểu
Trang 58 - Tập 1
21
Cô giáo lớp em
Trang 60 - Tập 1
27
Thương ông
Trang 83 – Tập 1
28
Bà cháu
Trang 86 – Tập 1
29
Cây xoài của ông em
Trang 89 – Tập 1
30
Đi chợ
Trang 92 – Tập 1
31
Sự tích cây vú sữa
Trang 96 – Tập 1
37
Câu chuyện bó đũa
Trang 112 - Tập 1
38
Nhắn tin
Trang 115 - Tập 1
39
Chiếc võng kêu
Trang 117 - Tập 1
40
Hai anh em
Trang 119 - Tập 1
41
Bé Hoa
Trang 121 - Tập 1