Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 học tốt về tính từ trong phân môn luyện từ và câu ở trường tiểu học thị trấn, huyện lang chánh - Pdf 43

MỤC LỤC
TT
I
1.1.
1.2.
1.3.
1.4.
II.
2.1.
2.2.
2.3.
2.4.
III.
3.1.
3.2

Nội dung
MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Cơ sở lý luận
Thực trạng của vấn đề
Các giải pháp thực hiện
Hiệu quả
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
Kết luận
Kiến nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO

từ cho học sinh đặc biệt là hệ thống từ ngữ cung cấp cho học sinh gắn với chủ
điểm ở từng lớp nhằm tăng cường sự hiểu biết của học sinh về nhiều lĩnh vực
của cuộc sống.
Khái niệm ngữ pháp thường mang tính trừu tượng và khái quát cao. Việc
tiếp nhận các khái niệm ngữ pháp đối với học sinh tiểu học hết sức khó khăn vì
nó đòi hỏi một trình độ tư duy nhất định. Để giảm độ khó cho học sinh trong
việc lĩnh hội các khái niệm ngữ pháp, bên cạnh việc cung cấp ý nghĩa của ngữ
pháp, giáo viên cần cung cấp các dấu hiệu hình thức ngữ pháp để học sinh dễ
nhận diện.
Trong quá trình dạy học, tôi nhận thấy: Một trong những phần kiến thức
ngữ pháp mang tính trừu tượng và khái quát cao mà học sinh còn rất lúng túng
và gặp không ít những khó khăn, vướng mắc trong việc xác định tính từ và vận
dụng thực hành về tính từ. Việc phân biệt tính từ trong tiếng Việt rất phức tạp, vì
nhiều khi tính từ có dạng như động từ hoặc danh từ. Giáo viên đã dành rất nhiều
thời gian cho nội dung dạy học này song chất lượng vẫn chưa đạt được như
mong muốn. Một trong những nguyên nhân đó là do hiệu quả dạy học về tính từ
chưa cao. Vì vậy, tôi chọn nghiên cứu mảng đề tài này với hi vọng giúp các em
học sinh nắm chắc hơn, ít bị lúng túng hơn khi gặp các dạng bài tập có liên quan
đến tính từ. Khi đã nắm vững khái niệm về tính từ, hiểu rõ bản chất của tính từ
và một số mẹo để nhận dạng tính từ, các em dễ dàng tìm được tính từ và vận
dụng dùng từ đặt câu và làm bài tập làm văn sinh động hơn từ đó góp phần nâng
cao chất lượng dạy học của môn Tiếng Việt.
Từ những lí do trên tôi đã chọn đề tài :"Một số giải pháp giúp học sinh
lớp 4 học tốt về tính từ trong phân môn Luyện từ và câu ở trường Tiểu
học Thị Trấn, huyện Lang Chánh" nhằm giúp học sinh lớp 4 nắm vững
khái niệm về tính từ và biết vận dụng khái niệm để làm tốt các bài tập liên
quan đến tính từ.
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Nhằm nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt.
- Giúp học sinh có kĩ năng xác định Tính từ.

sinh có thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu và ý thức sử dụng tiếng
Việt trong giao tiếp phù hợp với các chuẩn mực văn hóa.
3


Việc dạy luyện từ và câu nhằm mở rộng, hệ thống hóa làm phong phú vốn
từ của học sinh, củng cố cho học sinh những hiểu biết sơ giản về từ và câu, rèn
cho học sinh kỹ năng dùng từ đặt câu. Phân môn Luyện từ và câu có vai trò
hướng dẫn học sinh trong việc phát triển học sinh bốn kỹ năng nghe, nói, đọc,
viết, phát triển ngôn ngữ và trí tuệ của các em [1].
Môn Tiếng Việt lớp 4 gồm các phân môn: Tập đọc, kể chuyện, tập làm
văn, chính tả, luyện từ và câu. Theo quan điểm tích hợp, các phân môn được tập
hợp lại xung quanh trục chủ điểm và các bài đọc. Nhiệm vụ cung cấp kiến thức
và rèn luyện kĩ năng gắn bó chặt chẽ với nhau.
Một trong những nội dung của phân môn Luyện từ và câu ở lớp 4 về từ loại
đó là tính từ. Tính từ các em đã học từ lớp 2 nhưng mới ở mức độ nhận biết ban
đầu sơ giản thông qua các bài tập như dạng tìm từ tả hình dáng của người, đức
tính của học sinh, màu sắc của các loài hoa,… lên đến lớp 3 các em được học
tính từ cũng thông qua hệ thống bài tập, qua các bài tập đọc nhưng ở mức độ
cao hơn lớp 2 đó là tìm tìm các từ miêu tả hoạt động, trạng thái của sự vật. Đến
chương trình lớp 4, tính từ được cung cấp cho học sinh dưới dạng khái niệm,
bao quát một cách tổng thể hoàn chỉnh.
2.2. Thực trạng vấn đề
Qua hai năm học được nhà trường phân công chủ nhiệm và giảng dạy ở
khối lớp 4, tôi nhận thấy: Nội dung dạy học phần tính từ trong phân môn Luyện
từ và câu trong sách Tiếng Việt lớp 4 thường được đánh giá là rất khô khan và
trừu tượng; học sinh rất “ngại” khi hộc phần này. Nhiều học sinh gặp không ít
những khó khăn và lúng túng khi xác định tính từ và vận dụng làm các bài tập
về tính từ. Học sinh chưa nắm vững khái niệm về tính từ nên chưa làm chủ được
mạch kiến thức về tính từ; từ đó,việc xác định các tính từ từ những từ cho sẵn

năng lực trung bình và yếu.
Các em thường tiếp thu bài học một cách thụ động, máy móc dẫn đến vốn
từ của các em rất nghèo nàn, việc dùng từ khi viết văn chưa hay ảnh hưởng
chung đến chất lượng môn Tiếng Việt.
Một số học sinh chưa nhớ chính xác khái niệm tính từ.
Việc phân định ranh giới các từ chưa đúng cũng là một yếu tố dẫn đến kết
quả chưa đạt yêu cầu.
Trường hợp những tính từ khi xác định phải dựa vào văn cảnh nhưng học
sinh thường xác định từ một cách độc lập chưa đưa vào văn cảnh để xác định.
Bên cạnh đó, các em còn rất lúng túng khi phân định tính từ dựa vào khả năng
kết hợp với các phụ từ, các bài tập chưa được nắm một cách hệ thống, do đó
việc thực hành về tính từ chưa cao; các em chưa thực sự hứng thú khi học các
bài tập này.
Khi xác định chức vụ ngữ pháp của tính từ, học sinh còn hay nhầm lẫn cho
rằng tính từ là vị ngữ trong câu mà chưa biết được trong một số văn cảnh, tính từ
còn làm chủ ngữ hoặc các thành phần phụ khác.
Cuối năm học 2015 – 2016, tôi khảo sát 32 học sinh lớp 4A, trường Tiểu
học Thị trấn Lang Chánh: Sau khi khảo sát, tôi thu được kết quả như sau:
Tổng số HS

32

Điểm

Số lượng

9 - 10
7-8

10

đã giúp học sinh nắm vững khái niệm tính từ bằng cách mô tả chi tiết từ
chỉ đặc điểm, từ chỉ tính chất, chỉ trạng thái:
-Từ chỉ đặc điểm: Đặc điểm là nét riêng biệt, là vẻ riêng của một sự vật nào
đó (có thể là người, đồ vật, con vật, cây cối,…). Đặc điểm của một vật chủ yếu
là đặc điểm bên ngoài mà ta có thể nhận biết trực tiếp qua mắt nhìn, tai nghe, tay
sờ, mũi ngửi,.. Đó là các nét riêng, vẻ riêng về màu sắc, hình khối, hình dáng,
âm thanh… của sự vật. Đặc điểm của một vật cũng có thể là đặc điểm bên trong
mà qua quan sát, suy luận, khái quát,…ta mới có thể nhận biết được. Đó là các
đặc điểm về tính tình, tâm lý, tính cách của một người, độ bền, giá trị của một đồ
vật…
Từ chỉ đặc điểm là từ biểu thị các đặc điểm của sự vật, hiện tương như đã
nêu ở trên.
Ví dụ :
+Từ chỉ đặc điểm bên ngoài: Vuông, tròn, rộng, xanh, vàng,…
+Từ chỉ đặc điểm bên trong: Cần cù, hiền lành,…
-Từ chỉ tính chất: Tính chất cũng là đặc điểm riêng của sự vật, hiện tượng
(bao gồm cả những hiện tượng xã hội, hiện tượng trong cuộc sống,…) nhưng
thiên về đặc điểm bên trong, ta không quan sát trực tiếp được. Do đó, từ chỉ tính
chất cũng là từ biểu thị những đặc điểm bên trong của sự vật, hiện tượng.
Ví dụ: Tốt, xấu, ngoan, hư,…

6


-Từ chỉ trạng thái: Trạng thái là tình trạng của một sự vật hoặc một con
người, tồn tại trong một thời gian nào đó. Từ chỉ trạng thái là từ chỉ trạng thái
tồn tại của sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan.
Ví dụ: Bông hoa tỏa hương ngào ngạt.
Người bệnh đang hấp hối.
Cảnh vật yên tĩnh quá.

Việt Nam đẹp khắp trăm miền,
Bốn mùa một sắc trời riêng đất này.
Xóm làng, đồng ruộng, rừng cây,
Non cao gió dựng, sông đầy nắng chang.
Xum xuê xoài biếc, cam vàng,
Dừa nghiêng, cau thẳng hàng hàng nắng soi.
Đối với dạng bài tập này, học sinh chưa phân biệt được các kết hợp từ xoài
biếc, cam vàng, nắng chang là một từ hay hai từ dẫn đến các em xác định từ
loại sai. Vì thế, giáo viên phải cho các em dựa vào cấu tạo từ hoặc chêm xen,
thêm bớt từ để xác định ranh giới từ và chỉ rõ cho các em thấy được đây là các
kết hợp từ gồm 2 từ đơn. Ví dụ: cam màu vàng, nắng chói chang hoặc "cam" và
"vàng" cả hai tiếng này có nghĩa rất cụ thể nên nó phải là hai từ đơn. Từ đó, các
em sẽ tách từ một cách dễ dàng.
Ở dạng bài tập này cần hướng dẫn các em thực hiện qua hai bước đó là:
Bước 1: Xác định ranh giới từ ( có 2 mẹo để xác định là dựa vào cấu tạo và
chêm xen vào giữa hai từ)
Bước 2: Xác định các tính từ trong khổ thơ.
Học sinh dựa vào hai bước để làm bài tập sau
Việt Nam/ đẹp /khắp/ trăm/ miền,
Bốn/ mùa/ một/ săc/ trời/ riêng /đất /này.
8


Xóm làng/, đồng ruộng/, rừng cây,
Non/ cao/ gió/ dựng/, sông /đầy /nắng/ chang.
Xum xuê /xoài /biếc/, cam/ vàng,
Dừa/ nghiêng/, cau/ thẳng/ hàng hàng/ nắng/ soi.
Sau khi xác định được ranh giới từ, các em căn cứ vào khái niệm của tính
từ để tìm ra các theo yêu cầu bài tập đó là:
Tính từ: đẹp, riêng, cao, đầy, xum xuê, biếc, vàng, nghiêng, thẳng.

Giải pháp 3. Tăng cường sử dụng đồ dùng trực quan sinh động, các
hình thức dạy học phát huy tính tích cực của học sinh. Dựa vào văn cảnh cụ
thể để xác định tính từ.
Khi dạy các kiến thức về tính từ, tôi thường sử dụng các đồ dùng trực quan,
vật thật hoặc đưa các từ vào trong một văn cảnh cụ thể để học sinh dễ dàng xác
định được tính từ.
3.1.Con đường nhận thức của học sinh Tiểu học từ trực quan sinh động đến
tư duy trừu tượng, để giúp học sinh khỏi nhàm chán và giờ học thêm sinh động,
tôi thường sử dụng đồ dùng trực quan hoặc các vật thật để giúp học sinh tiếp
nhận tri thức một cách dễ dàng.
Ví dụ: Khi dạy đến bài tập: Đặt 3 câu kể Ai thế nào?, mỗi câu tả một cây
hoa mà em yêu thích [3], tôi cảm thấy học sinh có phần uể oải do vậy, tôi yêu
cầu các em không phải làm bài tập này vào vở mà cô cùng các em sẽ tới tham
quan vườn hoa của lớp mình; lớp học sôi động hẳn lên, một số học sinh reo lên
A! thích quá! Thích quá!
Tôi cùng các em học sinh đến với vườn hoa nhỏ của lớp mình.

Những cây hoa do bàn tay bé nhỏ của 29 học sinh lớp 4A trồng và chăm sóc.
10


Tôi hỏi học sinh: Em yêu thích những cây hoa nào? Em hãy đặt câu kể Ai thế
nào? để miêu tả những cây hoa đó. Tôi vừa dứt lời đã thấy rất nhiều cánh tay giơ
lên, tôi gọi em Lê Ngọc Quân– một học sinh gái nhút nhát nhất của lớp trả lời. Câu
của em là: Hoa cúc nở vàng. Một tràng pháo tay dành cho em. Tiếp theo là một
loạt các câu trả lời tương tự. Tôi khuyến khích: bạn nào có câu hay hơn nào? Lại
một loạt cánh tay giơ lên với những câu trả lời: Hoa cúc nở vàng rực; Cây hồng
nhung chúm chím những nụ hoa nhỏ xinh tươi,… và thật bất ngờ, đây là một đoạn
văn của cô học trò Nguyễn Đình Gia Linh:
“Những cây hoa trong vườn hoa của lớp em đang đua nhau khoe sắc. Những

phau, trắng bệch, trắng xoá, trắng hồng, trắng nõn, trắng bạc.
- Viết các câu có chỗ trống trên bảng phụ. Giáo viên gắn các từ nhưng sai ý
nghĩa vào chỗ trống ( 2 bảng gắn các từ khác nhau)
11


b. Cách tiến hành: Chọn 2 đội chơi, mỗi đội có 6 em, mỗi em lên sửa lại
một câu. Nếu còn thời gian các em vẫn liên tiếp lên sửa lại cho đến khi hết giờ.
Đội nào nhanh hơn, đúng hơn là đội thắng cuộc.
Đáp án:
Tuyết rơi trắng xoá một màu
Vườn chim chiều xế trắng phau cánh cò
Da trắng bệch, người ốm o
Bé khoẻ đôi má non tơ trắng hồng
Sợi len trắng nõn như bông
Làn mây trắng xoá bồng bềnh trời xanh.
Với trò chơi này, học sinh được luyện cách dùng tính từ chỉ màu trắng với
các sắc độ khác nhau có tác dụng gợi tả. Làm giàu vốn từ chỉ màu trắng thường
dùng trong các đoạn văn miêu tả của các em.
3.3.Một trong những khó khăn trong việc xác định tính từ thấy rõ nhất là
các trường hợp dấu hiệu hình thức tính từ không rõ ràng, phải dựa vào văn cảnh.
Ví dụ : Xác định tính từ trong các câu thành ngữ sau:
Nước chảy, đá mòn.
Đi ngược, về xuôi.
Nhìn xa, trông rộng.
Các từ: xa, rộng các em dễ dàng xác định chính xác đây là các tính từ;
Song các từ ngược, xuôi, mòn các em lúng túng thường cho là các tính từ. Do
đó, giáo viên cần phân tích cho học sinh thấy được các từ: ngược, xuôi là chỉ
vùng miền: ngược chỉ miền núi, xuôi - chỉ miền đồng bằng (trường hợp này
phải cho học sinh dựa vào nghĩa của từ trong văn cảnh).

Ví dụ : Em hãy xác định từ loại của những từ sau:
Nỗi buồn, vui tươi, vui chơi, tình yêu, yêu thương, đáng yêu.
Đáp án:
-Danh từ: Nỗi buồn, tình yêu.
-Động từ: Vui chơi, yêu thương
-Tính từ: Vui tươi, đáng yêu.
Giải pháp 5: Giúp học sinh xác định tính từ dựa vào chức năng ngữ
pháp của chúng.
Một vấn đề cần lưu ý học sinh là tính từ khi đứng ở những vị trí khác nhau
thì chức năng ngữ pháp cũng có thể khác nhau.
Ví dụ : Xác định từ loại của các từ gạch chân và chức vụ ngữ pháp của từ
loại đó trong các câu sau:
a. Chị Loan rất thật thà.
b. Thật thà là phẩm chất đẹp đẽ của chị Loan.
Trước hết gợi ý cho học sinh xác định từ loại của các từ gạch chân dựa vào
khái niệm, nghĩa, khả năng kết hợp của chúng trong văn cảnh, sau đó mới xét
xem nó là bộ phận ngữ pháp nào trong câu?
Chẳng hạn:- Từ “thật thà” trong bài tập này khi xác định thì nên dựa vào
khái niệm và nghĩa của từ, bản chất của nó chính là tính từ.
Đáp án:
- “thật thà” trong các câu a,b đều là tính từ.
- “thật thà” trong câu a giữ chức vụ vị ngữ.
- “thật thà” trong câu b giữ chức vụ chủ ngữ.
13


Khi làm dạng bài tập này, giáo viên cho học sinh thấy được trong câu, tính
từ cũng có thể đảm nhận chức vụ chủ ngữ trong câu như danh từ.
* Sau khi đã áp dụng biện pháp cải tiến trong dạy học sinh thực hành về
tính từ, tôi nhận thấy học sinh tự tin hơn, làm chủ được kiến thức hơn, còn giáo

và qua đó các em dễ dàng sửa lại được các tính từ: Sạch bóng, to tướng.
Bài tập 2. Từ nào không phải là tính từ trong mỗi dãy từ sau:
A. thơm thơm, suy nghĩ, thân thương, đỏ, buồn, xanh lè, xuất sắc.
B. phăng phắc, lo lắng, bừa bộn, trìu mến, vui, xa, gập ghềnh.
14


Đáp án: a. Suy nghĩ, buồn.
b. Lo lắng, vui.
Kết quả: 29/29 học sinh hoàn thành bài tập; trong đó có 12 em hoàn thành
tốt bài tập.
Với dạng bài tập này đòi hỏi các em phải tập trung phân tích và tư duy để
tìm ra các từ không phải là tính từ bởi vì các từ suy nghĩ, lo lắng đều có dấu hiệu
phân biệt rất mờ nhạt, nên nhiều học sinh nhầm lẫn chúng là tính từ. Tôi đã
hướng dẫn các em dùng phụ từ để kết hợp, từ đó các em xác định được chúng
không phải là tính từ một cách dễ dàng.
Bài tập 3.
a. Đặt một câu trong đó có vị ngữ là một tính từ.
b. Đặt một câu trong đó có chủ ngữ là một tính từ.
Đáp án:
Bạn Lan học rất giỏi
Thật thà là đức tính tốt của con người.
Kết quả: 100% hoàn thành bài tập.
Qua các ví dụ trên, tôi thấy học sinh thực hành về tính từ tự tin hơn nhiều,
các em làm chủ được kiến thức, hiểu rõ bản chất của tính từ, do vậy việc thực
hành đối với các em thuận tiện hơn.
Đối chiếu với chất lượng trước khi áp dụng đổi mới phương pháp dạy học
về từ loại này, số lượng học sinh hoàn thành và hoàn thành tốt môn học tăng rõ
rệt, không còn học sinh chưa hoàn thành các bài tập về tính từ.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.

5
0

Tỉ lệ
41,4
41,4
17,2
0

III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận.
Việc tạo hứng thú học tập, yêu thích phân môn Luyện từ và câu và rèn kĩ
năng học tốt môn này là một việc tất cả giáo viên khối 4, 5 cần phải kiên trì, bền
16


bỉ, không được nóng vội. Bởi vì có những học sinh tiến bộ ngay trong vài tuần
nhưng cũng có những học sinh thì sự tiến bộ diễn ra rất chậm, không phải vài
tuần, có khi vài tháng, thậm chí cả một học kỳ, một năm học. Nếu giáo viên
không biết chờ đợi, kiên trì giúp đỡ học sinh mà nôn nóng thì chắc chắn sẽ thất
bại. Giáo viên cần thường xuyên học hỏi đồng nghiệp, tự bồi dưỡng, đọc sách
báo, truy cập Internet để nắm vững, để tìm hiểu thêm về nội dung dạy học mạch
kiến thức về tính từ trong phân môn Luyện từ và câu; các phương pháp dạy học
tích cực để nâng cao hiệu quả dạy học phân môn Luyện từ và câu.
Mặt khác, để nâng cao chất lượng dạy học mảng kiến thức về tính từ, trước
hết giáo viên cần xác định đúng mục tiêu, hệ thống kiến thức, kỹ năng cần cung
cấp cho học sinh, giúp các em ghi nhớ khái niệm một cách chính xác. Khi lập
Kế hoạch bài học, giáo viên cần chú ý sử dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy
học tích cực để thu hút học sinh vào bài học đồng thờigiúp học sinh tích cực,
chủ động tìm ra kiến thức mới. Phải luôn tôn trọng và thực hiện nghiêm túc

3.2.1. Đối với giáo viên
- Tăng cường bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, đổi mới phương pháp
giảng dạy để giờ học sinh động, hấp dẫn học sinh hơn.
- Thường xuyên trao đổi với đồng nghiệp về thực trạng của học sinh qua
các giờ lên lớp, từ đó thống nhất rút kinh nghiệm vào thực hành ở lớp mình.
- Sử dụng đồ dùng một cách có hiệu quả trong tiết học Luyện và câu
3.2.2. Đối với nhà trường
- Thường xuyên tổ chức sinh hoạt chuyên môn, các đợt hội thảo về dạy học
mạch kiến thức về tính từ một cách có hiệu quả.
- Trong mỗi đợt thao giảng, yêu cầu tất cả các giáo viên tham gia dự giờ,
góp ý rút kinh nghiệm.
- Động viên kịp thời các đồng chí giáo viên làm tốt công tác tự học, tự bồi
dưỡng; tự làm và sử dụng đồ dùng dạy học một cách hiệu quả.
3.2.3. Đối với Phòng Giáo dục
- Tiếp tục tổ chức các buổi hội thảo về phần kiến thức này cho cán bộ và
giáo viên các nhà trường; triển khai rộng rãi những sáng kiến kinh nghiệm hay
để các đồng nghiệp cùng áp dụng trong quá trình dạy học.
Trong phạm vi đề tài này tôi chỉ xin được giới thiệu một số giải pháp nhỏ
của bản thân đã áp dụng thành công trong giảng dạy học sinh phần kiến thức về
tính từ trong phân môn Luyện từ và câu ở lớp 4. Do điều kiện công tác và thời
gian có hạn nên sáng kiến kinh nghiệm này không tránh khỏi những thiếu sót,
tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các anh chị và bạn bè đồng nghiệp.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thị Trấn, ngày 15 tháng 4 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người khác.
Người viết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status