Rèn kĩ năng đặt câu cho học sinh lớp 2, 3 qua phân môn luyện từ và câu - Pdf 50

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
======

DƢƠNG THỊ MINH HẰNG

RÈN KĨ NĂNG ĐẶT CÂU CHO
HỌC SINH LỚP 2, 3 QUA PHÂN MÔN
LUYỆN TỪ VÀ CÂU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học

PGS.TS. NGUYỄN THU HƢƠNG

HÀ NỘI - 2018


LỜI CẢM ƠN
Bằng tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất, em xin chân thành cảm
ơn cô giáo – PGS. TS Nguyễn Thu Hƣơng – ngƣời đã tận tình hƣớng dẫn,
động viên và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong Ban giám hiệu,
phòng Đào tạo, Ban chủ nhiệm Khoa Giáo dục Tiểu học, thƣ viện Trƣờng Đại
học Sƣ phạm Hà Nội 2. Cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban giám hiệu, các
thầy cô giáo và các em học sinh Trƣờng Tiểu học Kim Đồng - thành phố Lào
Cai trong suốt quá trình em thực hiện khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Sinh viên

4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu........................................... 3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................. 3
6. Phƣơng pháp nghiên cứu ........................................................................... 3
7. Cấu trúc khóa luận ..................................................................................... 4
PHẦN NỘI DUNG ........................................................................................... 5
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN .............................. 5
1.1. Cơ sở lí luận ............................................................................................ 5
1.1.1. Câu Tiếng Việt .................................................................................. 5
1.1.2. Tầm quan trọng của việc rèn kĩ năng đặt câu cho học sinh tiểu
học ............................................................................................................... 9
1.2. Cơ sở tâm lí học ...................................................................................... 9
1.2.1. Đặc điểm chú ý của học sinh lớp 2, 3 ............................................. 10
1.2.2. Đặc điểm ngôn ngữ của học sinh lớp 2, 3 ...................................... 10
1.2.3. Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 2, 3 ..................................... 10
1.3. Cơ sở thực tiễn ...................................................................................... 12
1.3.1. Khái quát nội dung chương trình Luyện từ và câu lớp 2, 3 ........... 12
1.3.2. Thực trạng dạy học phân môn Luyện từ và câu lớp 2, 3 ................ 18
CHƢƠNG 2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG ĐẶT CÂU CHO
HỌC SINH TIỂU HỌC THÔNG QUA PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ
CÂU LỚP 2,3 .................................................................................................. 21
2.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp ............................................................... 21


2.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính trực quan ............................................... 21
2.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính giao tiếp ................................................. 22
2.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất giữa ý nghĩa và hình thức
ngữ pháp trong khi dạy ngữ pháp ............................................................. 23
2.2. Các biện pháp rèn kĩ năng đặt câu cho học sinh tiểu học thông qua
phân môn Luyện từ và câu lớp 2, 3.............................................................. 25
2.2.1.Giúp học sinh nắm vững đặc điểm cấu trúc của câu Tiếng Việt ..... 25

học sinh có đủ điều kiện để sử dụng Tiếng Việt đạt hiệu quả cao trong học tập
các môn văn hóa, trong việc viết văn bản. Xuất phát từ mục đích, yêu cầu của
Tiếng Việt trong trƣờng tiểu học là nhằm đào tạo cho học sinh năng lực sử
dụng Tiếng Việt để suy nghĩ, giao tiếp và học tập. Để đạt đƣợc những điều đó
thì trƣớc hết phải giúp học sinh biết cách tạo ra những câu văn hoàn chỉnh.
Câu chính là tế bào đầu tiên giúp các em đạt hiệu quả trong quá trình tƣ duy
và giao tiếp.
Học sinh mỗi khối lớp ở cấp Tiểu học có khả năng đặt câu hoàn chỉnh,
đúng ngữ pháp không giống nhau. Học sinh giai đoạn đầu Tiểu học, việc đặt
câu là vấn đề khó và bỡ ngỡ với các em, các em mới chỉ đặt đƣợc những câu
đơn giản về cả hình thức lẫn nội dung. Vì vậy phân môn Luyện từ và câu có
sứ mệnh giúp các em giải quyết những thiếu sót trong việc đặt câu để các em
có thể tạo ra những câu văn hoàn chỉnh, đúng ngữ pháp và đặc sắc.

1


Việc đặt đƣợc những câu hoàn chỉnh, đúng ngữ pháp sẽ giúp học sinh
hình thành một văn bản, giúp học sinh phát triển tƣ duy và giao tiếp hằng
ngày, mạnh dạn trƣớc tập thể, giúp nhân cách học sinh phát triển toàn diện.
Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn mạnh dạn chọn đề tài “Rèn kĩ năng đặt
câu cho học sinh lớp 2, 3 qua phân môn Luyện từ và câu”.
2. Lịch sử vấn đề
Dạy và học phân môn Luyện từ và câu là một nhiệm vụ khó khăn và đã
đƣợc không ít các nhà giáo dục nghiên cứu, tìm hiểu. Đặc biệt là việc đặt câu
trong phân môn này lại càng là vấn đề đƣợc quan tâm. Tuy nhiên, tôi chƣa tìm
đƣợc công trình nghiên cứu nào chuyên xem xét về việc rèn kĩ năng đặt câu
cho học sinh tiểu học. Trong một số giáo trình Phƣơng pháp dạy học Tiếng
Việt ở Tiểu học cũng có đề cập đến vấn đề dạy về câu cho HS tiểu học nhƣng
chỉ viết ở mức độ sơ bộ.

4.1. Đối tượng nghiên cứu
Rèn kĩ năng đặt câu cho học sinh lớp 2, 3 qua phân môn Luyện từ và câu.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu các biện pháp rèn kĩ năng đặt câu cho học sinh lớp 2, 3.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc rèn kĩ năng đặt câu
cho học sinh tiểu học qua phân môn Luyện từ và câu lớp 2, 3.
- Đề xuất biện pháp rèn kĩ năng đặt câu cho học sinh tiểu học qua phân
môn Luyện từ và câu lớp 2, 3.
- Tiến hành thiết kế giáo án và thực nghiệm dạy học ở trƣờng Tiểu học.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phƣơng pháp đọc và phân tích tài liệu.
- Phƣơng pháp khảo sát thực tế dạy học.
- Phƣơng pháp dạy học thực nghiệm.
- Phƣơng pháp kiểm tra, đánh giá.

3


7. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Khóa luận
gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
Chƣơng 2: Một số biện pháp rèn kĩ năng đặt câu cho học sinh lớp 2, 3
qua phân môn Luyện từ và câu
Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm

4




- Về chức năng: câu thông báo một nội dung hoàn chỉnh, truyền đạt tƣ
tƣởng tình cảm của ngƣời nói.
1.1.1.2.Cấu tạo của câu Tiếng Việt
a. Thành phần nòng cốt: “Nòng cốt câu” là cụm từ chủ - vị làm cơ sở
cho câu đơn hai thành phần. Chính “ nòng cốt câu” giúp ta nhận diện đƣợc
loại câu.
Chủ ngữ là một trong hai thành phần chính của câu. Thƣờng đứng đầu
câu, có chức năng nêu lên ngƣời hoặc vật nói đến trong câu. Nó trả lời cho câu
hỏi Ai? Cái gì? Việc gì?. Chủ ngữ thƣờng do danh từ hoặc đại từ đảm nhiệm,
một số ít cũng có thể do động từ hoặc tính từ đảm nhiệm. Chủ ngữ có thể do
một từ, một ngữ chính phụ hay một kết cấu chủ vị dƣới bậc câu tạo thành.
Vị ngữ là một trong hai thành phần chính của câu. Nó nêu lên ý nghĩa
nhận xét, đánh giá, miêu tả về ngƣời hoặc sự vật đƣợc nói đến trong chủ ngữ.
Vị ngữ trả lời cho câu hỏi “làm gì?”, “như thế nào?”, “ra sao?”. Vị ngữ
thƣờng do tính từ hay động từ đảm nhiệm, một số ít cũng có thể do đại từ
hoặc số từ đảm nhiệm. Về mặt cấu tạo, nó có thể do một từ, một ngữ hay do
một kết cấu chủ vị dƣới bậc câu tạo thành.
Trong câu Tiếng Việt, trật tự phân bố của chủ ngữ thƣờng đứng trƣớc vị
ngữ là hiện tƣợng phổ biến. Tuy nhiên, trong một số trƣờng hợp, chủ ngữ có
thể đứng sau vị ngữ.
b.Thành phần phụ: ngoài hai thành phần chính là chủ ngữ và vị ngữ, câu
còn có các thành phần phụ khác nhƣ: Định ngữ, Bổ ngữ, Trạng ngữ... nhằm
bổ sung ý nghĩa cho các thành phần cấu tạo nên câu.
Định ngữ là thành phần phụ, đi kèm với danh từ, nhằm diễn tả chi tiết thêm
cho sự vật đƣợc nêu ở danh từ trong câu, góp phần tạo thành cụm danh từ.
Bổ ngữ là thành phần phụ đi kèm động từ và tính từ, nhằm nêu chi tiết,
cụ thể cho hành động, trạng thái, tính chất nêu ở động từ và tính từ trong câu

6



+ Vị ngữ: nêu đặc điểm, hoạt động, trạng thái, tính chất của đối tƣợng
đƣợc nhắc đến ở chủ ngữ, thƣờng do động từ hoặc tính từ đảm nhiệm. Có khi
danh từ và số từ giữ vai trò làm vị ngữ.
Câu rút gọn: là câu đơn có một trong hai hoặc cả hai thành phần chính
đƣợc lƣợc bỏ đi nhƣng dựa vào ngữ cảnh ngƣời nghe vẫn có thể hiểu đƣợc.
Câu đặc biệt: là câu do một từ, một cụm từ chính phụ hay đẳng lập tạo
nên, không phân chia thành phần câu. Câu vẫn thực hiện chức năng thông báo
tƣơng đối độc lập. Câu đặc biệt gồm hai loại:
+ Câu đặc biệt danh từ: do danh từ hoặc cụm danh từ tạo nên.
+ Câu đặc biệt vị từ: do động từ / cụm động từ hoặc tính từ / cụm tính từ
tạo nên.
- Câu phức
+ Khái niệm: câu phức là câu có từ 2 cụm CV trở lên, trong đó một cụm
CV làm nòng cốt, các cụm CV còn lại đóng vai trò làm thành phần câu.
+ Phân loại câu phức:
Câu phức thành phần chủ ngữ: có chủ ngữ là một cụm CV
Ví dụ: Tiếng sáo làm tôi thức giấc.
Câu phức thành phần vị ngữ: có vị ngữ là một cụm CV
Ví dụ: Chiếc khăn này là mẹ đan.
Câu phức thành phần trạng ngữ: có trạng ngữ là một cụm CV
Ví dụ: Vì trời mƣa to, tôi đƣợc nghỉ học.
Câu phức thành phần định ngữ: có định ngữ là một cụm CV
Ví dụ: Hoa chị mua tƣơi quá.
Câu phức thành phần bổ ngữ: có bổ ngữ là một cụm CV
Ví dụ: Nó làm tôi buồn.

8



1.2.1. Đặc điểm chú ý học sinh lớp 2, 3
Ở giai đoạn đầu tuổi tiểu học, chú ý có chủ định của trẻ con còn non yếu,
khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế. Ở giai đoạn này, chú ý
không chủ định chiếm ƣu thế hơn chú ý có chủ định. Do khả năng tổng hợp
nên sự chú ý của học sinh còn phân tán, vì thiếu khả năng phân tích nên trẻ
lúc này chỉ quan tâm đến chú ý đến những môn học, giờ học có đồ dùng trực
quan sinh động, hấp dẫn, có nhiều tranh ảnh, trò chơi,... Sự tập trung chú ý
của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững,chƣa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân
tán trong quá trình học tập.
1.2.2. Đặc điểm ngôn ngữ học sinh lớp 2, 3
Hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo. Khi trẻ vào lớp 1
bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết. Lên lớp 2, 3 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo
hơn. Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận
thức về thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh
thông tin khác nhau.
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm
tính và lí tính của trẻ. Nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tƣ duy, tƣởng
tƣợng của trẻ phát triển dễ dàng và đƣợc biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ
nói và ngôn ngữ viết của trẻ. Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ
ta có thể đánh giá đƣợc sự phát triển trí tuệ của trẻ.
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng nhƣ vậy nên các giáo viên phải
trau dồi vốn ngôn ngữ cho trẻ trong giai đoạn này để có thể giúp trẻ có đƣợc
một vốn ngôn ngữ phong phú và đa dạng.
1.2.3. Đặc điểm nhận thức học sinh lớp 2, 3
Trí nhớ trực quan – hình tƣợng và trí nhớ máy móc của học sinh tiểu học
phát triển hơn trí nhớ logic – từ ngữ. Nhiều học sinh chƣa biết tổ chức việc
ghi nhớ có ý nghĩa, chƣa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chƣa biết cách

10



Qua việc tìm hiểu về đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 2, 3 tôi thấy, tƣ
duy logic cũng nhƣ tƣ duy lập luận, khả năng trừu tƣợng của các em còn ở
mức độ đơn giản chính vì vậy mà những hoạt động này cần đƣợc lặp đi lặp lại
nhiều lần để các em hình thành thói quen và khả năng làm bài. Từ đó tôi đi
xây dựng các biện pháp để giúp các em rèn luyện kĩ năng đặt câu trong phân
môn luyện từ và câu.
1.3. Cơ sở thực tiễn
1.3.1. Khái quát nội dung chương trình Luyện từ và câu lớp 2, 3
1.3.1.1. Vị trí của phân môn Luyện từ và câu
Từ và câu có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ. Từ là
đơn vị cơ bản của hệ thống ngôn ngữ, muốn nắm đƣợc một ngôn ngữ nào đó
đầu tiên phải nắm đƣợc vốn từ. Câu là đơn vị nhỏ nhất để thực hiện chức năng
giao tiếp. Từ và câu trong hệ thống ngôn ngữ có vai trò quyết định tầm quan
trọng của việc dạy học luyện từ và câu ở tiểu học.
Việc dạy luyện từ và câu cho học sinh tiểu học với mục đích mở rộng, hệ
thống hóa làm phong phú vốn từ của học sinh; cung cấp cho học sinh những
kiến thức sơ giản về từ và câu, rèn cho học sinh kĩ năng dùng từ đặt câu và sử
dụng các kiểu câu để thể hiện tƣ tƣởng, tình cảm của mình, đồng thời giúp cho
học sinh có khả năng hiểu ngƣời khác nói gì. Luyện từ và câu còn giúp học
sinh trong việc nghe, nói, đọc, viết, phát triển ngôn ngữ và trí tuệ của các em.
Bên cạnh việc đƣợc xây dựng thành một phân môn độc lập, các kiến
thức về từ và câu còn đƣợc tích hợp trong các phân môn còn lại của bộ môn
Tiếng Việt và trong cả các bộ môn khác ở trƣờng tiểu học.
1.3.1.2. Nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu
Phân môn luyện từ và câu ở trƣờng tiểu học có 2 nhiệm vụ chính đó là
làm giàu vốn từ cho học sinh, phát triển năng lực dùng từ đặt câu của các em
và cung cấp một số kiến thức về từ và câu.


13


+ Sử dụng các dấu câu cho phù hợp với câu cần diễn đạt (dấu chấm, dấu
châm phẩy, dấu chấm than, dấu phẩy, dấu hai chấm, dấu chấm hỏi, dấu gạch
ngang). Trong đó trọng tâm nhất là dấu chấm và dấu phẩy.
b. Cung cấp một số kiến thức về từ và câu
Trên cơ sở vốn ngôn ngữ có đƣợc trƣớc khi đến trƣờng, từ những sự vật
hiện tƣợng cụ thể phù hợp với tiếng mẹ đẻ, phân môn luyện từ và câu cung
cấp cho học sinh một số kiến thức về từ và câu hết sức sơ giản, cần thiết, phù
hợp và vừa sức với các em. Luyện từ và câu trang bị cho học sinh những hiểu
biết cơ bản về cấu trúc của từ, câu, quy luật hành chức của chúng. Cụ thể đó
là các kiến thức về cấu tạo từ, nghĩa của từ, các lớp từ, từ loại; các kiến thức
về câu nhƣ cấu tạo câu, các kiểu câu, dấu câu, các quy tắc dùng từ đặt câu và
tạo văn bản để sử dụng trong giao tiếp.
Phân môn này còn phải tổ chức cho học sinh thực hành để rèn luyện các
kĩ năng cơ bản về ngữ pháp nhƣ kĩ năng đặt câu đúng ngữ pháp, kĩ năng sử
dụng các dấu câu, kĩ năng sử dụng các kiểu câu phù hợp với mục đích nói,
tình huống lời nói để đạt hiệu quả giao tiếp cao, kĩ năng liên kết các câu để
tạo thành đọan văn, văn bản.
Bên cạnh đó, qua phân môn này giúp học sinh tiếp thu một số quy tắc
chính tả nhƣ quy tắc viết hoa, quy tắc sử dụng dấu câu.
Ngoài các nhiệm vụ trên, Luyện từ và câu còn có nhiệm vụ rèn luyện tƣ
duy và giáo dục thẩm mĩ cho học sinh.
Để thực hiện tốt các nhiệm vụ thực hành, phân môn Luyện từ và câu phải
cung cấp cho học sinh một số khái niệm, một số quy tắc ngữ pháp cơ bản, sơ
giản và tối thiểu cần thiết: cấu tạo từ, các lớp từ có quan hệ về nghĩa, bản chất
của từ loại, thành phần câu, dấu câu, các kiểu câu, quy tắc sử dụng câu trong
giao tiếp và các phép liên kết câu để học sinh có cơ sở nắm đƣợc nghĩa của từ
một cách chắc chắn và biết hệ thống hóa vốn từ một cách có ý thức.

nhà trƣờng, yêu tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động... Chúng làm giàu nhận
thức, mở rộng tầm mắt của học sinh, giúp các em nhận thấy vẻ đẹp của quê

15


hƣơng, đất nƣớc con ngƣời, dạy các em biết yêu và ghét. Nội dung chƣơng
trình từ ngữ ở tiểu học phải phù hợp với yêu cầu phát triển ngôn ngữ của học
sinh đồng thời phải đảm bảo tính nguyên tắc giáo dục trong dạy từ.
Vốn từ các em đƣợc cung cấp thêm khoảng 300 – 350 từ ngữ (kể cả
thành ngữ, tục ngữ quen thuộc và nghĩa của một số yếu tố gốc Hán thông
dụng ) theo các chủ đề: học tập; ngày, tháng, năm; đồ dùng học tập; các môn
học; họ hàng, đồ dùng và công việc trong nhà; tình cảm, công việc gia đình;
tình cảm gia đình; vật nuôi; các mùa, thời tiết, chim chóc, các loài chim;
muông thú, loài thú; sông biển; cây cối; Bác Hồ; nghề nghiệp.
Ngoài ra vốn từ còn đƣợc cung cấp ở các chủ đề mở rộng vốn từ theo ý
nghĩa khái quát của từ (từ loại) trong các bài nhƣ: Từ chỉ sự vật, Từ chỉ hoạt
động, Từ chỉ trạng thái, Từ chỉ đặc điểm, Từ chỉ tính chất và trong một bài về
lớp từ: Từ trái nghĩa.
* Các mạch kiến thức và kĩ năng về từ và câu
Từ và câu:
+ Các lớp từ: Từ trái nghĩa.
+ Từ loại: Từ chỉ sự vật, từ chỉ hoạt động, trạng thái, từ chỉ đặc điểm,
tính chất.
+ Các kiểu câu: Ai là gì? Ai làm gì? Ai thế nào? Khẳng định, phủ định.
+ Cấu tạo câu (thành phần câu): Đặt trả lời câu hỏi “Khi nào?”, “Ở
đâu?”, “Nhƣ thế nào?”, “Vì sao?”, “Để làm gì?”.
+ Dấu câu: Dấu chấm hỏi, dấu phẩy, dấu chấm than, dấu chấm.
+ Ngữ âm – chính tả: Tên riêng và cách viết tên riêng.
b2. Nội dung kiến thức ở lớp 3

- Bƣớc đầu làm quen với các biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa
+ Về biện pháp so sánh, sách giáo khoa có nhiều bài tập nhƣ:

17


Nhận diện (tìm) những sự vật đƣợc so sánh, những hình ảnh so sánh, các
vế so sánh, các từ so sánh, các đặc điểm đƣợc so sánh,...
Tập nhận biết tác dụng của so sánh.
Tập đặt câu có dùng biện pháp so sánh.
+ Về biện pháp nhân hóa, sách giáo khoa có những loại hình bài tập nhƣ:
Nhận diện phép nhân hóa trong câu: Cái gì đƣợc nhân hóa? Nhân hóa
bằng cách nào?
Tập nhận biết cái hay của biện pháp nhân hóa.
Tập viết câu, đoạn có dùng biện pháp nhân hóa.
1.3.1.4. Các kiểu câu được học trong phân môn Luyện từ và câu lớp 2,3
a. Ở lớp 2
Học sinh đƣợc làm quen với ba kiểu câu trần thuật đơn (Ai là gì? Ai làm
gì? Ai thế nào?) và một số thành phần trong câu (bộ phận 1 và bộ phận 2)
b. Ở lớp 3
Học sinh đƣợc ôn lại các kiểu câu đã học ở lớp 2 (Ai là gì? Ai làm gì? Ai
thế nào?), các thành phần trong câu đáp ứng các câu hỏi: Ai? Là gì? Thế nào?
Ở đâu? Bao giờ? Nhƣ thế nào? Bằng gì? Vì sao? Để làm gì?
1.3.2. Thực trạng dạy học phân môn Luyện từ và câu lớp 2, 3
Trong thời gian đi kiến tập và thực tập tại trƣờng tiểu học, tôi thấy rõ
đƣợc thực trạng dạy và học của giáo viên và học sinh trong phân môn Luyện
từ và câu nhƣ sau:
1.3.2.1. Thực trạng dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 2, 3
Nhìn chung, tất cả các giáo viên đều có chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực
sƣ phạm vững vàng, thực hiện tƣơng đối tốt mọi mặt về giảng dạy, có trách

chắc và không sâu.
+ Vốn từ của các em còn ít ỏi nên kĩ năng nói và viết thành câu còn
hạn chế.

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status