Rèn kĩ năng Tiếng Việt cho học sinh lớp 2 dành cho buổi học thứ hai - Lớp học 2 buổi ngày - Pdf 40

NGUYỄN THANH BÌNH

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

------------------------------------bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o
Tr-êng §¹i häc s- ph¹m hµ néi 2

-------------------------------------

NGUYỄN THANH BÌNH
GIÁO DỤC HỌC (BẬC TI ỂU HỌC)

RÈN KĨ NĂNG TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 2
DÀNH CHO BUỔI HỌC THỨ HAI - LỚP HỌC 2 BUỔI/NGÀY

NGUYỄN THANH BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

KHÓA: 2011-2013
HÀ NỘI, 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

-------------------------------------

NGUYỄN THANH BÌNH


HỌC VIÊN

Nguyễn Thanh Bình


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoạn đây là đề tài nghiên cứu của cá nhân tôi. Các số liệu,
kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa có ai
công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào khác.

Hà Nội, ngày 05 tháng 12 năm 2013
HỌC VIÊN

Nguyễn Thanh Bình


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu .................................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu ............................................................................ 5
4. Nhiêm
̣ vu ̣ nghiên cƣ́u ............................................................................ 5
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ........................................................ 6
5.1. Đối tƣợng nghiên cứu : .................................................................. 6
5.2. Phạm vi nghiên cứu: ...................................................................... 6
6. Phƣơng pháp nghiên cƣ́u ..................................................................... 6
7. Giả thuyết khoa học .............................................................................. 6

1.2.2.2. Thực trạng dạy học rèn kĩ năng Tiếng Việt cho HS lớp 2 .... 31
CHƢƠNG 2 ................................................................................................ 41
CÁC BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG TIẾNG VIỆT CHO HS LỚP 2 –
BUỔI HỌC THỨ HAI / NGÀY ................................................................. 41
2.1. Rèn kĩ năng nghe - đọc cho HS................................................... 43
2. 1.1. Chuẩn bị cho hoạt động rèn kĩ năng nghe - đọc............... 43
2.1.2. Nhóm biện pháp rèn kĩ năng đọc đúng................................. 45
2.1.3. Nhóm biện pháp rèn kĩ năng đọc hiểu .................................. 55
2.2. Rèn kĩ năng nghe – nói cho HS................................................... 57
2.2.1. Biện pháp rèn kĩ năng tiếp nhận và phản hồi chính xác...... 57
2.2.2. Nhóm biện pháp rèn kĩ năng đối thoại ................................ 59
2.2.3. Sử dụng trò chơi để rèn kĩ năng nói cho HS lớp 2 trong giờ
kể chuyện ........................................................................................ 63
2.3. Rèn kĩ năng nói – viết cho HS ..................................................... 67
2.3.1. Sử dụng hệ thống câu hỏi chi tiết giúp HS tái hiện lại nội
dung kiến thức đã học ở buổi học thứ nhất.................................... 67
2.3.2. Hướng dẫn lại cho HS cách hình thành đoạn văn trên cơ sở
các câu hỏi gợi ý ............................................................................. 68
2.3.3. Sử dụng trò chơi để luyện kĩ năng nói cho HS ..................... 69
2.3.4. Giúp HS rèn kĩ năng quan sát để hình thành câu văn, đoạn
văn................................................................................................... 70
2.3.5. Giúp HS tích lũy và mở rộng kiến thức để sắp xếp và nói viết
câu văn phù hợp ............................................................................. 74
2.3.6. Thực hành rèn luyện về kỹ năng diễn đạt (nói, viết) qua
nhiều dạng bài cụ thể ..................................................................... 75
2.3.7. Sử dụng công nghệ thông tin để tăng thêm vốn sống và hỗ
trợ óc quan sát cho HS ................................................................... 75
CHƢƠNG 3 ................................................................................................ 78
THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ..................................................................... 78
3.1. Mục đích, ý nghĩa của thực nghiệm ................................................ 78

GV

3.

Học sinh

HS

4.

Phương pháp dạy học

PPDH

5.

Sách giáo khoa

SGK

6.

Thực nghiệm

TN

7.

Tiếng Việt


1. Lý do chọn đề tài
Tiếng Việt là một môn học quan trọng, chiếm vị trí chủ yếu trong
chương trình tiểu học. Môn học này có đặc trưng: cung cấp cho HS một khối
lượng kiến thức cơ bản nhằm đáp ứng được những mục tiêu, nhiệm vụ của
từng bài học, là môn học công cụ để học tập tất cả các môn học khác. Trẻ em
muốn có được kỹ năng học tập, trước hết cần nắm vững tiếng mẹ đẻ - chìa
khóa của nhận thức, của sự phát triển trí tuệ đúng đắn.
Theo mô hình trường học ngày hai buổi, hoạt động dạy tiếng Việt cho
HS tiểu học đã đặc biệt chú ý đến mục tiêu rèn các kĩ năng: nghe, nói đọc viết
cho HS. Chúng tôi nhận thấy thực tế hiện nay

, dạy tiếng Việt ở lớp

2 nói

chung và dạy tiếng Việt ở lớp 2 trong buổ i 2/ngày nói riêng , đa số các em đã
nắ m đươ ̣c kiế n thức cơ bản song để biế n những tri thức đó thành ki ̃ năng thì
các em còn gặp nhiều khó khăn . Ví dụ ở môn Tập đọc , các em chưa biết nhấn
giọng ở từ ngữ gợi tả, những từ ngữ trọng tâm - từ chìa khoá. Trong khi sắm
vai, đọc đối thoại các em cũng lúng túng, thiếu tự tin trong việc thể hiện
giọng đọc của mình. Khi viết các em còn mắc nhiều lỗi chính tả, lỗi liên kết ý
các câu trong đoạn với nhau,…
Hoạt động dạy học Tiếng Việt ở buổi thứ hai trong ngày đã giúp HS rất
nhiều trong rèn luyện các kĩ năng tiếng Việt còn yếu.
Rèn kĩ năng tiếng Việt nói chung và rèn kĩ năng tiếng Việt dành cho
buổ i ho ̣c thứ hai /ngày trong các trường Tiểu học đang là một vấn đề được các
trường, các nhà nghiên cứu và toàn xã hội quan tâm.


2

+ Nghiên cứu về hoạt động rèn kĩ năng tiếng Việt cho HS lớp 2 trong
buổ i ho ̣c thứ hai – lớp ho ̣c hai buổ i / ngày đã có một số tài liê ̣u đi trước đề câ ̣p
tới mô ̣t vài phương diê ̣n . Có thể tạm chia các công trình nghiên cứu đó theo
hai hướng nghiên cứu sau :
- Hƣớng thƣ́ nhấ t : biên soạn ngữ liệu mới cùng chủ điểm theo
chương trình Tiếng Việt buổi thứ nhất và hệ thống bài tập bổ sung để giúp
HS luyện tập Tiếng Việt . Đây là công trình nghiên cứu đươ ̣c thể hiê ̣n qua bô ̣
sách Luyện tập Tiếng Việt (dành cho buổi học thứ hai - lớp học 2 buổi/ngày)
của nhóm tác giả Lê Hữu Tỉnh (chủ biên), Nguyễn Thị Hạnh - Nguyễn Đức
Hữu - NXB Giáo dục Việt Nam.2012.
Các ngữ liệu trong tài liệu này được lựa chọn rất công phu đảm bảo
tính khoa học và tính sư phạm cao. Các câu hỏi bài tập hướng dẫn học đa
dạng, sinh động, phù hợp với tâm lí lứa tuổi.
- Hƣớng thứ hai: biên soạn hệ thống bài tập thực hành củng cố kiến
thức đã học ở buổi thứ nhất và luyện tập các kĩ năng tiếng Việt cho HS. Đây
là công trình nghiên cứu đươ ̣c thể hiê ̣n qua bô ̣ sách Cùng em học Tiếng Việt
(Hỗ trơ ̣ buổi học thứ hai , lớp học 2 buổi /ngày) của nhóm tác giả Nguyễn Trí
Dũng – Hoàng Minh Hương - Nguyễn Thanh Thủy - NXB Hà Nô ̣i.2012
Các tác giả của hướng nghiên cứu này đã bám sát nội dung chương
trình, sử dụng triệt để các ngữ liệu có trong sách giáo khoa Tiếng Việt và biên
soạn thêm hệ thống bài tập để rèn kĩ năng cho HS .
Các bộ sách của hai nhóm tác giả nói trên đều x ác định đúng kiến thức
và kỹ năng cơ bản nhất, cần thiết nhất, không dạy quá chương trình hay yêu
cầu cao hơn chuẩn đối với HS. Nội dung bộ sách là các bài tập thực hành
tiế ng Viê ̣t bám sát mục tiêu môn học, chương trình sách giáo khoa môn Tiế ng
Viê ̣t, theo chuẩn kiến thức – kỹ năng với mục đích:


4
- Cung cấp tài liệu để GV tham khảo, nhằm đổi mới phương pháp dạy

lớp 2 - Dành cho buổi học thứ hai - Lớp học 2 buổ i/ngày theo chương trình
Tiế ng Viê ̣t hiê ̣n hành . Đây là nô ̣i dung mà các công triǹ h đi trước do chú ý
đến phạm vi dạy học rộng cho HS tất cả các vùng miền mà chưa đi sâu cho
từng vùng cụ thể. Đây là khoảng trống còn bỏ ngỏ mà luận văn của chúng tôi
tiếp tục nghiên cứu.
Vì những lý do trên và do những yêu cầu cấp thiết của trường tiểu học
vùng chúng tôi đang dạy hiện nay, tôi mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu:
Rèn kỹ năng tiếng Việt cho HS lớp 2 - Dành cho buổi học thứ hai – Lớp ho ̣c
hai buổ i /ngày
3. Mục đích nghiên cứu
Xác định được nội dung và biện pháp dạy thích hợp cho hoạt động rèn
các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho HS trong buổi học thứ hai /ngày nhằ m
nâng cao chấ t lươ ̣ng da ̣y ho ̣c Tiế ng Viê ̣t cho ho ̣c sinh lớp

2 nói riêng và HS

tiểu học nói chung.
4. Nhiêm
̣ vu ̣ nghiên cƣ́u
Để đa ̣t đươ ̣c mu ̣c đić h trên , luâ ̣n văn phải thực hiê ̣n những nhiê ̣m vu ̣ cơ
bản sau:
- Tổ ng hơ ̣p những vấ n đề lí thuyế t và thực tiễn để xây dựng đươ ̣c cơ sở
lí luận cho đề tài .
- Tìm các biện pháp rèn kĩ năng tiếng Việt và xây dựng dược hệ thống
bài tập tiếng Việt cho học sinh lớp 2 trong buổ i ho ̣c thứ hai/ngày.
- Tiế n hành da ̣y thực nghiê ̣m để kiể m chứng tiń h khả thi của những đề
xuấ t mà luâ ̣n văn đã đưa ra .


6


8

NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Những vấn đề chung về mô hình dạy học 2 buổi trên ngày
Do mô hình dạy học ngày hai buổi mới được triển khai dạy cho HS tiểu
học ở nước ta chưa lâu, cho nên những vấn đề lí thuyết về mô hình dạy học
này chưa có nhiều. Để có cơ sở lí luận tin cậy làm chỗ dựa cho việc triển khai
các nhiệm vụ của đề tài chúng tôi dựa chủ yếu vào tài liệu tập huấn của
Chương trình đảm bảo chất lượng giáo dục trường học do Bộ Giáo dục và
đào tạo triển khai năm 2010.
1.1.1.1. Khái quát về mô hình trường tiểu học dạy cả ngày
* Trường tiểu học dạy cả ngày
Dạy học cả ngày (tiếng Anh: full day schooling, viết tắt là FDS) là mô
hình mà nhà trường tiểu học ở nhiều nước trên thế giới đã và đang thực hiện.
Đó là mô hình trường tiểu học mà HS được học tập, hoạt động ở trường cả
ngày, từ đầu buổi sáng tới cuối chiều (ở nhiều nước từ khoảng 9 giờ sáng đến
hơn 3 giờ chiều). HS có thể bán trú, ăn và ở tại trường vào buổi trưa hoặc về
nhà vào buổi trưa.
Ở Việt Nam thuật ngữ trường tiểu học hai buổi/ngày đề cập tới trong
nhiều văn bản pháp quy, nhiều văn bản hướng dẫn của Bộ GD- ĐT.
Ví dụ:


9
+ Trong Chương trình Tiểu học có nêu: Ở tiểu học thời lượng ít nhất là
35 tuần. Đối với các trường, lớp dạy học 5 buổi/tuần, mỗi buổi học không quá

giàu lòng nhân ái, có khả năng hợp tác và hội nhập.
- Thực hiện dạy học phân hóa, HS có nhiều cơ hội để phát huy các khả
năng và sở thích cá nhân; nhu cầu cảu cá nhân người học được đáp ứng tốt
hơn; HS yếu có nhiều cơ hội được quan tâm giúp đỡ hơn để đạt chuẩn của
chương trình.
- Dạy học cả ngày mang lại cơ hội được học tập trong môi trường thuận
lợi cho mọi trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em dân tộc ít
người, trẻ em gái. Đồng thời góp phần tạo sự bình đẳng về quyền lợi học tập
cho trẻ em ở những vùng, miền khác nhau, có điều kiện kinh tế không giống
nhau.
1.1.1.2 . Định hướng của Bộ Giáo dục Đào tạo về việc triển khai mô hình dạy
học hai buổi trên ngày
a) Nguyên tắc tổ chức dạy học
- HS có nhu cầu, cha mẹ tự nguyện; tiến tới học cả ngày là bắt buộc
thực hiện với chương trình tiểu học sau 2015;
- Nhà trường đảm bảo cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học tiên tiến;
- Đảm bảo đội ngũ GV (đủ theo biên chế hoặc GV tình nguyện dạy
thêm giờ, GV thỉnh giảng);
- Công khai, minh bạch thu chi (phục vụ bữa ăn, phát triển năng khiếu,
điều kiện cơ sở vật chất như quạt, nước uống, phương tiện, tổ chức câu lạc
bộ,...)


11
- Đảm bảo cho sự phát triển hài hòa nhân cách cho HS.
b) Nội dung dạy học
Chương trình tiểu học hiện hành được thiết kế cho trường học
1buổi/ngày thực hiện được. Các trường tiểu học học 2buổi/ngày học theo
chương trình chung.
Theo công văn số 6176/TH (2002), hướng dẫn kế hoạch dạy học 2

2011-2020 với định hướng tăng cường giáo dục đạo đức, kĩ năng sống, hoạt
động giáo dục ngoài giờ lên lớp và phát triển năng khiếu của HS.
c) Hình thức dạy học
Nội dung 1 được dạy chủ yếu trong buổi 1, nội dung 2 được dạy trong
buổi còn lại, nhưng cũng có thể bố trí linh hoạt thời gian cho 2 nội dung này
tùy thuộc vào điều kiện thực tế về GV, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, trình
độ HS.
Tổ chức dạy học cả ngày không phải là học thêm, làm thêm bài tập
Toán, Tiếng Việt mà là tổ chức các hoạt động giáo dục toàn diện, đảm bảo
cho HS đạt được các yêu cầu của chuẩn kiến thức, kĩ năng, phát triển năng
khiếu phù hợp với nhu cầu và khả năng. Việc phụ đạo hay bồi dưỡng về
Toán, Tiếng Việt chỉ dành cho những đối tượng cần thiết hoặc có khả năng và
nhu cầu.


13
- Tổ chức theo hướng các hoạt động giáo dục phù hợp đối tượng, có thể
chia HS ở cùng một khối lớp (hoặc khác khối lớp) theo các nhóm hoạt động
trên cơ sở phù hợp khả năng và nhu cầu, có thể là:
+ Nhóm củng cố kiến thức.
+ Nhóm bồi dưỡng năng khiếu, sở thich với các hoạt động như: Thực
hành đo đạc, giải toán nhanh, ứng dụng kiến thức toán vào thực tế, bồi dưỡng
kĩ năng giáo tiếp, đọc diễn cảm, đọc thơ, thi kể chuyện, thi hùng biện, viết
chữ đẹp, câu lạc bộ, ...
+ Nhóm phát triển thể chất với các hoạt động như: võ, cờ vua, cầu lông,
tập thể dục nhịp điệu,…
+ Nhóm phát triển nghệ thuật với các hoạt đông về nhạc dân tộc, đàn
ooc gan, múa, vẽ, nặn, trang trí,…
+ Nhóm hoạt động xã hội với các hoạt đông về tìm hiểu tự nhiên, lịch
sử, địa lí, văn hóa truyền thống,…

hoạt động giáo dục giúp mở rộng kinh nghiệm học tập của HS và giúp việc
học gắn với thực tiễn.
- Xây dựng môi trường giáo dục thân thiện, tạo hứng thú, hỗ trợ và thúc
đẩy việc học tập của HS; phát huy tính tích cực tự giác, vai trò làm chủ ở
trường của HS.
e) Tổ chức dạy học cả ngày trên cơ sở phù hợp với đặc điểm địa
phương
- Vùng khó khăn: Trước mắt thực hiện chương trình khoảng 30T/tuần.


15
Hiệu trưởng, GV chủ nhiệm căn cứ trình độ HS của lớp bố trí nội dung,
yêu cầu và thời lượng hợp lí để đảm bảo mọi HS đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng
hai môn Tiếng Việt, Toán và tổ chức một số hoạt động giáo dục để HS thấy
vui, thích học và học được các môn học. Không nhất thiết phải phân chia cụ
thể dành bao nhiêu tiết cho môn Tiếng Việt, bao nhiêu tiết cho môn Toán.
- Vùng thuận lợi: thực hiện chương trình khoảng 35T/tuần
Hiệu trưởng, GV căn cứ trình độ HS của lớp bố trí thời lượng hợp lí để
đảm bảo mọi HS đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học; căn cứ điều kiện
của nhà trường, nhu cầu của cha mẹ HS mà bố trí học ngoại ngữ, tin học và
phát triển năng khiếu HS; tổ chức một số hoạt động giáo dục đểHS thấy vui,
thích học và học được các môn học.
Ví dụ: Với cùng một thời lượng giành cho củng cố kiến thức, với HS
trung bình thì dùng để củng cố kiến thức, làm bài tập đạt chuẩn kiến thức, kĩ
năng; với HS giỏi lại dùng để phát triển năng khiếu. Phân bố nội dung, bồi
dưỡng phù hợp đối tượng như vậy sẽ vừa đảm bảo không quá tải với HS trung
bình, vừa không nhàm chán với HS giỏi.
1.1.2. Cơ sở giáo dục học, tâm lí học
1.1.2.1. Cơ sở giáo dục học
a) Quan điểm Unesco về giáo dục con người


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status