MỞ ĐẦU
1. Lí do lựa chọn đề tài
1.1.Rèn KNNN là rèn KN sống cho HS
Nghe - nói - đọc - viết là những hoạt động diễn ra thường xuyên trong cuộc
sống của chúng ta. Trong bốn dạng hoạt động này, xét về tần số xuất hiện, thì cặp
hoạt động nghe - nói diễn ra liên tục hơn, đậm đặc hơn. Cặp hoạt động này có hai
đặc tính nổi bật:
- Thứ nhất, nghe - nói là cặp hoạt động ngôn ngữ nói - dạng giao tiếp trực tiếp
bằng âm thanh trong hoạt động ngôn ngữ. Hoạt động nghe - nói luôn luôn là một
phương tiện đắc lực song hành cùng con người, giúp con người nhận thức và tìm
hiểu thế giới xung quanh một cách có hiệu quả. Vì thuộc lĩnh vực âm thanh như
vậy, nên hoạt động nghe - nói có thể diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc, ít bị phụ thuộc vào
điều kiện xung quanh hơn việc giao tiếp bằng chữ viết. Trên thực tế, một người có
thể không đọc, không viết một trang sách nào nhưng rất ít ai lại không nghe, không
nói một lời nào.
- Thứ hai, nghe - nói là cặp hoạt động mang cả đặc tính của việc tiếp nhận lời
nói lẫn việc tạo lập lời nói. Nếu như nghe là tiếp nhận lời người khác thì nói là tạo
lập lời nói của chính mình. Một người, trong hoạt động giao tiếp không thể chỉ biết
nghe mà không biết nói. Ngược lại, cũng không thể chỉ biết nói mà không biết
nghe. Hai hoạt động này thường luân phiên, thay thế nhau trong giao tiếp của con
người.
Muốn sử dụng KNNN một cách có hiệu quả thì cũng cần phải có sự luyện tập
thường xuyên, liên tục và có kế hoạch. Có thể khẳng định, KNNN chỉ hình thành
qua luyện tập và bằng con đường luyện tập. Hiện nay, nhà trường phổ thông đang
cố gắng hình thành cho HS được những KN sống cơ bản nhất. Trong số những KN
ấy, KN giao tiếp là một trong số những KN quan trọng. Chính vì vậy, việc nghiên
cứu tìm ra những nội dung cũng như các biện pháp rèn KNNN cho HS nói chung,
HS đầu cấp TH nói riêng một cách hiệu quả là hết sức cần thiết.
1.2.Nghe - nói tốt giúp HS nhận thức và khám phá thế giới có hiệu quả
Hoạt động nghe - nói là hoạt động quan trọng trong việc nâng cao chất lượng
học tập của HSTH nói chung và HS lớp 1 nói riêng. Nghe - nói tốt sẽ giúp các em
quá trình dạy học là một cấp độ thiển cận. Điều đó làm HS thụ động và không phát
triển tư duy. Đa số các GV cho rằng một lớp học trật tự là một lớp học đang học
tập. Việc rèn KNNN cho trẻ thông qua cách thảo luận theo nhóm hay việc tổ chức
một số hình thức luyện tập khác cần đầu tư nhiều thời gian và công sức. Vì vậy,
không phải GV nào cũng quan tâm đến vấn đề này một cách nghiêm túc.
Ngoài vấn đề nhận thức của GV về vai trò quan trọng của KNNN trong quá
trình học tập môn TV cho HSTH thì việc tổ chức rèn KNNN cho HS đầu cấp TH
của chúng ta hiện nay cũng có một số vấn đề khó khăn:
Thứ nhất, có quá nhiều các môn học được đưa vào trong chương trình giảng
dạy từ giáo dục thể chất, nghệ thuật, âm nhạc, tin học, ngoại ngữ, tự nhiên xã hội,
khoa học cho đến chính tả, tập viết, tập đọc, toán, đạo đức, lịch sử, địa lí… và một
số chương trình đặc biệt trong hoạt động ngoài giờ lên lớp. Trong khi đó, khả năng
tích hợp các vấn đề về nội dung, KN học tập cho HS đối với GV còn non kém.
Điều đó dẫn đến một thực tế là GV không đủ thời gian cần thiết để quan tâm tới
nội dung của hoạt động nghe - nói và càng khó khăn hơn trong việc tổ chức rèn
KNNN cho HS.
Thứ hai, hệ thống các bài tập chưa tập trung nhiều vào việc rèn KN nghe -
nói. Các kiểu loại bài tập chưa phong phú, nội dung các bài tập rèn KNNN chưa
thực sự hấp dẫn đối với HS.
Thứ ba, cách thức tổ chức rèn KNNN trong nhà trường hiện nay còn đơn
điệu, nhàm chán chưa thực sự lôi cuốn sự tham gia tích cực của HS. Để tăng cường
hiệu quả việc rèn KNNN cho HS, GV cần phải chú ý đến các yếu tố: khả năng bộc
lộ các KN, khả năng thể hiện kiến thức, khả năng xác định nội dung, đối tượng,
mục đích và hoàn cảnh giao tiếp phù hợp để giao tiếp hiệu quả. HS cần học cách
nói chuyện với chính bản thân mình, tham gia các cuộc hội thoại, phỏng vấn, thảo
luận theo nhóm nhỏ, nói chuyện với GV và những người thân xung quanh. Các em
3
phải học cách nói chuyện phù hợp với các tình huống và đối tượng giao tiếp khác
nhau.
1.4.Yêu cầu đổi mới việc dạy học TV và rèn KNNN cho HSTH
hiệu quả hơn trong nhà trường.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích
Luận án hướng đến hai mục đích chính sau đây:
- Đưa ra những định hướng về nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức
rèn KNNN cho HS lớp 1 nhằm giúp GV tháo gỡ những khó khăn trong quá trình tổ
chức hoạt động dạy TV theo định hướng giao tiếp.
- Đưa ra quy trình rèn KNNN phù hợp thông qua HTBT tương ứng nhằm
nâng cao hiệu quả dạy học nói chung đồng thời giúp HS nâng cao năng lực ngôn
ngữ, đặc biệt biết cách sử dụng ngôn ngữ nói như một công cụ trong hoạt động
giao tiếp cũng như các hoạt động học tập và vui chơi khác.
2.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận án phải thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau:
- Tổng quan nghiên cứu về vấn đề rèn KNNN cho HSTH trong và ngoài nước
thông qua vệc tìm kiếm, tập hợp tư liệu tham khảo.
- Hệ thống hóa, phân tích một cách chi tiết, cặn kẽ những cơ sở lí luận khoa
học về tâm lí học, ngôn ngữ học, tâm lí học hoạt động của việc rèn KNNN cho HS
đầu cấp TH.
- Khảo sát chương trình, hệ thống BT rèn KNNN trong SGK TV1; khảo sát
tình hình rèn KNNN cho HS lớp 1 trong thực tiễn dạy học. Trên cơ sở đó, phát
hiện những ưu điểm và hạn chế của việc rèn KNNN cho HS lớp 1 và xác định
hướng đề xuất của đề tài.
- Xây dựng nội dung và biện pháp tổ chức quá trình rèn KNNN.
- Đề xuất HTBT rèn KNNN cho HS lớp 1 và thiết kế một số giờ dạy mẫu
nhằm cụ thể hoá quy trình hình thành KNNN.
- Kiểm chứng khả năng thực thi của các đề xuất được nêu ra trong luận án
bằng tổ chức thực nghiệm đánh giá để đưa ra kết luận và kiến nghị cần thiết.
5
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng
4.3. Phương pháp thống kê, phân loại, so sánh
Phương pháp thống kê, phân loại là phương pháp bắt buộc khi chúng tôi tiến
hành khảo sát, phân loại, thống kê hệ thống các BT rèn KNNN trong SGK TV1
hiện hành. Dựa trên những kết quả đó, đề tài phát hiện ra điểm mạnh, điểm yếu của
việc rèn KNNN trong quá trình dạy học. Từ đó, đề tài xây dựng những tiêu chí phù
hợp hơn cho nội dung rèn KNNN nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học.
Phương pháp thống kê, so sánh lại được sử dụng một cách có hiệu quả sau
quá trình thực nghiệm. Kết quả của việc so sánh, đối chứng chính là một trong
những sự kiểm chứng về tính khả thi của đề tài.
4.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Đây là một phương pháp nhằm kiểm tra, đánh giá và xem xét tính khả thi của
những nội dung, phương pháp rèn KNNN cho HS đã đưa ra trong luận án. Ngoài
việc lấy ý kiến của các chuyên gia, cán bộ quản lí, GV, đề tài còn tiến hành quan
sát thực tiễn dạy học của GV, HS, xử lí số liệu khảo sát một cách tỉ mỉ, công phu
và chính xác. Quá trình thực nghiệm cũng là quá trình thăm dò, kiểm nghiệm từng
bước đi một cách chắc chắn trong suốt quá trình nghiên cứu và triển khai theo định
hướng ban đầu của đề tài.
Luận án đã sử dụng các loại thực nghiệm cơ bản sau:
- Thực nghiệm thăm dò nhằm thăm dò khả năng thực hiện các nội dung và
phương pháp rèn KNNN mà luận án đã đưa ra nhằm tăng cường KN sử dụng ngôn
ngữ cho HS lớp 1.
- Thực nghiệm kiểm tra, đánh giá (thực nghiệm dạy học): nhằm kiểm tra,
đánh giá việc ứng dụng các nội dung và phương pháp rèn KNNN trong quá trình
dạy học môn TV ở đầu cấp TH.
5. Giả thuyết khoa học
Hiện nay, việc rèn KNNN cho HS đầu cấp TH còn chưa được GV chú trọng.
Hình thức luyện tập chưa thật lôi cuốn, hấp dẫn và đặc biệt là HS còn có tâm lí e
ngại khi đứng trước lớp nên việc rèn KNNN chưa đạt được kết quả mà nhà trường
7
mong muốn. Vì vậy, nếu chúng ta dựa trên một cơ sở lí luận khoa học chắc chắn,
- Phần nội dung gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan những nghiên cứu về vấn đề rèn KNNN cho HS đầu
cấp TH
Chương 2: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc rèn KNNN cho HS lớp 1 qua
môn TV
Chương 3: Tổ chức rèn KNNN cho HS lớp 1 trong dạy học môn TV
Chương 4: Thực nghiệm sư phạm
- Phần Kết luận chung gồm những kết quả đạt được, những đóng góp mới
và đề xuất của luận án.
Ngoài 4 phần chính, luận án còn có:
- Phần tài liệu tham khảo: Thống kê tài liệu tham khảo được sử dụng trong
quá trình hoàn thành luận án.
- Phần phụ lục: Giới thiệu phiếu điều tra và kết quả điều tra dành cho cán bộ
quản lí, GVvà HS về vấn đề rèn KNNN ở đầu cấp TH; giới thiệu một số giáo án
mẫu về tiết dạy rèn KNNN cho HS lớp 1.
9
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ VẤN ĐỀ
RÈN KĨ NĂNG NGHE - NÓI CHO HỌC SINH ĐẦU CẤP TIỂU HỌC
1.1. Việc nghiên cứu hoạt động nghe - nói và dạy học nghe - nói cho HS đầu
cấp TH ở một số nước trên thế giới
1.1.1. Một số công trình nghiên cứu về rèn KNNN
Hiện nay, trên thế giới có nhiều nghiên cứu về năng lực sử dụng ngôn ngữ
của HSTH nói chung và vấn đề hình thành KNNN cho HS đầu cấp TH nói riêng.
Trong phạm vi và khuôn khổ của đề tài, chúng tôi tập trung nghiên cứu một số
công trình có đề cập đến vấn đề rèn KNNN cho HS đầu cấp TH mà đề tài quan
tâm.
- Đầu tiên, cần khái quát về quan điểm dạy Tiếng mẹ đẻ của các nhà khoa
học Nga. Đây có thể được xem là những định hướng, gợi ý quan trọng cho việc rèn
KNNN cho trẻ đầu cấp TH mà chúng tôi đưa ra trong luận án.
+ Tài liệu “Teaching Speaking and Listening in the Primary School” (Dạy
nói và nghe trong trường TH) (2000) của nhóm tác giả Elizabeth Grugeon, Lyn
Dawers, Carol Smith and Lorraine Hubbard [136]. Tài liệu này đã cung cấp một
cách nhìn tổng quan về vai trò và sự phát triển của KNNN trong nhà trường. Tài
liệu cho thấy các hình thức tổ chức việc rèn KNNN trên sân chơi hay trong lớp
học, tổ chức cho HS hoạt động theo nhóm dưới hình thức đối thoại, tổ chức luyện
nói thông qua thảo luận, trò chơi, đóng vai và kể chuyện cũng là những hình thức
mang lại hiệu quả tích cực. Đặc biệt, tài liệu còn khẳng định vai trò tổ chức và
hướng dẫn, cách đặt câu hỏi và khuyến khích HS nói, cách lắng nghe và chia sẻ
của GV đối với HS là một trong những yếu tố tạo nên sự thành công. Tài liệu cũng
đưa ra một số hình thức tổ chức rèn KNNN thông qua một số những phương tiện
hiện đại: máy tính, phim truyền hình Điều quan trọng nhất là trong chương 8 của
tài liệu có giới thiệu về cách kiểm soát và đánh giá KNNN trong lớp học. Từ việc
lập kế hoạch cho đến việc thu nhập những kết quả về KNNN của HS trong quá
trình phát triển. Và cuối cùng là việc kiểm tra khả năng nghe - nói độc lập cũng
như đánh giá mức độ KNNN của các em khi tham gia hoạt động nhóm dưới các
hình thức khác nhau.
11
Tài liệu giúp chúng tôi hiểu và tiếp cận được phần nào đó việc giảng dạy và
rèn KNNN trong trường TH nước Anh và có cái nhìn đầy đủ, toàn diện hơn trong
việc đề xuất các biện pháp rèn KNNN cho HS đầu cấp TH của mình.
+ Cuốn sách “Curriculum Guidance for the Foundation Stage” (Hướng dẫn
chương trình giảng dạy cho giai đoạn khởi đầu) - (Xuất phát điểm cho giáo dục và
hướng nghiệp (DfEE)/ Những tiêu chuẩn và cơ sở của Chương trình giảng dạy
(QCA)2000: 44 - 5) [143] đã đặt sự phát triển và năng lực sử dụng ngôn ngữ trong
giao tiếp làm trung tâm trong hoạt động học tập của trẻ nhỏ.
+ Cuốn sách “National Literacy Strategys: Framework for Teaching” (DfEE
1998c:3) [143] - (Chiến lược dạy chữ quốc gia: khung chương trình giảng dạy) đặt
hai KNNN là trọng tâm trong chương trình dạy chữ. Hai KN này được coi là một
phần thiết yếu trong hoạt động học tập của HSTH mặc dù không được xác định
o Dạy cách nghe hiểu và diễn đạt câu
o Dạy nghe hiểu và diễn đạt chủ đề
Trên cơ sở đó, cuốn sách còn dạy HS vận dụng cách sử dụng ngôn ngữ
trong học tập và giao tiếp.
- J.A. Foley (2006), “New Dimentions In The Teaching of Oral
Communication” (Anthology series 47 Published by Seameo Regional language
Centre) [138] đã tập hợp 16 vấn đề đã được lựa chọn để đại diện cho những ý
tưởng và quan điểm về “Những chuẩn mực mới trong giảng dạy giao tiếp”. Các
vấn đề trên được chia làm 3 nhóm: lí thuyết nền tảng, ứng dụng thực tế và đánh giá
giao tiếp. Nhìn chung, tài liệu đã đề cập đến vai trò của KN nói trong việc học tập
một ngôn ngữ, trong đó đặc biệt quan tâm tới sự phát triển ngôn ngữ của trẻ.
-
R.J. Campbell (2006), “Developing the primary School Curriculum” [139]
giúp ta có cái nhìn tổng quan về chương trình phát triển giáo dục ở TH, bao gồm
các vấn đề: tình hình chính trị, học thuyết về chương trình phát triển giáo dục, vai
trò của giáo viên; cung cấp những kinh nghiệm nghiên cứu về chương trình giáo
dục của một số nước; đưa ra một mô hình nhà trường lí tưởng trong đó nhấn mạnh
nhận thức của GV về vai trò của họ và điều kiện môi trường làm việc của GVTH.
Qua đó, ta có một hình dung tổng thể về vị trí vấn đề đang nghiên cứu được đặt
trong một hệ thống chung.
13
- Ngoài ra, chúng ta còn có thể kể đến tác giả Wilson, Julie Anne [135]. Các
tác giả này đã cung cấp cho chúng ta một cái nhìn chung về chương trình phát triển
KNNN cho trẻ đầu cấp TH thông qua tài liệu “A Program to Develop the listening
and speaking skill of children in a first grade classroom” (1997). Các tác giả đã
khẳng định tầm quan trọng của KNNN đối với trẻ em: “Những trẻ có thể diễn giải
suy nghĩ và ý kiến của mình bằng lời nói sẽ có thể thành công hơn trong học tập.
Quan trọng hơn, những trẻ không phát triển khả năng nghe - nói có nguy cơ chịu
ảnh hưởng cả đời bởi chính sự thiếu hụt KN này” [135,tr.12].
hội một cách thoải mái.
Như ta thấy, mục tiêu rèn các KN nói chung và việc đề cao vai trò của KNNN
trong giai đoạn đầu cấp TH của các nước trên đều khẳng định thông qua việc
chiếm lĩnh ngôn ngữ như một công cụ sắc bén để tư duy và giao tiếp.
Nếu nghiên cứu các chương trình dạy Tiếng mẹ đẻ trên thế giới, ta có thể chia
làm 2 nhóm: nhóm cấu tạo dạy theo phân môn và nhóm cấu tạo dạy theo năng lực
ngôn ngữ.
+ Ở nhóm cấu tạo dạy theo phân môn ta có thể kể tới Cộng hòa dân chủ Đức,
Pháp, Nga, Việt… Dưới đây là bảng thống kê các phân môn dạy ngôn ngữ nói và
ngôn ngữ viết của Đức và Pháp:
Nước
Các phân môn
dạy ngôn ngữ nói
Các phân môn dạy ngôn ngữ viết
CHDC Đức Diễn đạt nói và viết
Đọc, tập viết, chính tả, ngữ pháp, diễn
đạt nói và viết.
Cộng hòa
Pháp
Thực hành ngôn ngữ
nói
Đọc, tập viết, chính tả, ngữ pháp, từ ngữ,
sử dụng thơ để học ngôn ngữ diễn đạt
nói và viết
Qua bảng thống kê trên, ta thấy thời lượng và dung lượng tri thức, KN phục
vụ cho việc dạy ngôn ngữ viết nhiều hơn ngôn ngữ nói. Nhóm cấu tạo dạy theo
phân môn chia việc học Tiếng mẹ đẻ để thành nhiều phân môn, có môn dạy kiến
thức, có môn dạy KN. Như vậy, nhóm cấu tạo theo phân môn đề cao việc rèn KN
đọc - viết hơn KNNN.
15
16
- Rèn KNNN nhằm giúp HS tăng cường năng lực ngôn ngữ, biết cách sử dụng
công cụ ngôn ngữ vào quá trình giao tiếp trong môi trường sống của các em.
1.2. Việc nghiên cứu hoạt động nghe - nói và dạy KNNN cho HSTH ở Việt
Nam
1.2.1. Những nghiên cứu về việc dạy nghe - nói ở Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề giáo dục văn hóa giao tiếp cho HS nói chung và giáo dục
rèn KNNN nói riêng đã bắt đầu được quan tâm nghiên cứu. Chúng tôi xin điểm lại
một số tài liệu có liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu của đề tài:
- Cuốn sách “Một số vấn đề về dạy hội thoại cho HSTH” [118] của tác giả
Nguyễn Trí đã cung cấp những hiểu biết cơ bản về hội thoại, giới thiệu nội dung
chương trình hội thoại dựa theo chương trình TH ban hành năm 2001 và 2006, giới
thiệu các kiểu BT dạy học KNNN trong bộ SGK TV TH, trong đó có kiểu BT rèn
KNNN cho HS. Trên cơ sở xác định mục đích, cấu trúc các kiểu BT đó, tác giả đề
xuất ý kiến: phương pháp đóng vai là phương pháp đặc trưng dạy các BT hội thoại
và dạy học KNNN cho HSTH.
- Bài viết “Kinh nghiệm dạy học ngôn bản theo phương pháp giao tiếp ở một
số nước” [115] của tác giả Nguyễn Trí đã bàn về cơ cấu hệ thống chương trình dạy
ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói cho HSTH. Theo tác giả, phương hướng dạy học
giao tiếp và để giao tiếp đã làm thay đổi nội dung chương trình dạy Tiếng mẹ đẻ
của một số nước trên thế giới.
- Tác giả Phan Phương Dung trong luận án “Các phương tiện ngôn ngữ biểu
hiện tính lễ phép trong giao tiếp TV” [24] đã tìm hiểu một cách có hệ thống các
phương tiện ngôn ngữ biểu thị tính lễ phép. Tác giả đã bàn về một số mẫu BT dạy
lời nói văn hóa cho HSTH và HS trung học cơ sở. Cũng tác giả này, trong bài viết
“Các phương tiện từ ngữ biểu đạt tính lễ phép trong giao tiếp và khả năng ứng
dụng trong dạy học TV ở TH” đã đề cập một cách cụ thể các phương tiện từ ngữ
biểu đạt tính lễ phép trong giao tiếp và việc ứng dụng từ ngữ biểu đạt tính lễ phép
trong giao tiếp và trong dạy học TV ở TH. Những tài liệu này chính là căn cứ để
chúng tôi suy nghĩ về phương pháp dạy KNNN cho HSTH nhằm khắc phục được
cấp học như một vấn đề lớn mà chưa được nghiên cứu sâu ở mỗi lớp học một cách
cụ thể. Các phương pháp tăng cường hiệu quả rèn KNNN cho HSTH gắn với
18
chương trình và sách giáo khoa hiện nay đã được đề cập tới vẫn chưa được khai
thác sâu sắc và triệt để. Do vậy, nghiên cứu nội dung để tìm biện pháp nâng cao
hiệu quả KN sử dụng KNNN cho HS lớp 1 là một việc làm cần thiết, nhằm hỗ trợ
cho GV trong quá trình dạy học TV theo định hướng giao tiếp ở các khối lớp tiếp
theo.
1.2.2. Một số quan điểm về rèn KNNN thông qua môn TV trong trường TH
1.2.2.1. Quan điểm về việc rèn KNNN trong môn TV ở trường TH Việt Nam trước
năm 2000
- Thời Pháp thuộc
Tiếng mẹ đẻ không có vị trí xứng đáng trong nhà trường. Thay vào đó, HS
bắt buộc phải dùng tiếng Pháp. Những công trình nghiên cứu TV của Đào Duy
Anh, Trương Vĩnh Ký với các cuốn từ điển đầu tiên mới chỉ mang tinh thần dân
tộc trong cách học Tiếng mẹ đẻ chứ chưa đưa đến cho người học cách học khoa
học. Đặc biệt, vấn đề rèn các KN ngôn ngữ, mới chỉ dừng lại ở việc dạy đọc và
viết chữ quốc ngữ, còn KNNN chưa được đề cập đến.
- Từ thời kháng chiến đến hoà bình lập lại
Tiếng mẹ đẻ được đưa vào nhà trường nhưng cũng chưa có gì khởi sắc bởi
hạn chế của việc nghiên cứu TV. Cách học thời đó vẫn là đánh vần từng tiếng một.
Người học hoàn toàn thụ động trong việc ghép âm, ghép vần rồi đánh vần, thậm
chí cả “đánh vật” với các tiếng khó. Và đương nhiên, cách thầy đọc - trò chép, thầy
giảng - trò ghi là cách dạy học cơ bản nhất của cả một thời. Giai đoạn này, các nhà
nghiên cứu mới chỉ quan tâm tới việc cung cấp tri thức TV chứ chưa hề quan tâm
tới vấn đề nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ thông qua việc rèn các KNNN bên
cạnh việc rèn các KN đọc - viết.
- Từ cuối những năm 50 cho đến năm 1976
Việc nghiên cứu dạy TV nói chung vẫn chưa được quan tâm nhiều, mặc dù
lúc này đội ngũ các nhà nghiên cứu đã tiếp cận được với những thành tựu khoa học
ngay từ ngày đầu HS mới đến trường.
Tóm lại, sau khi rà soát sơ lược chương trình TV ở TH trước năm 2000, ta
có thể có một vài nhận xét cơ bản như sau:
- Về mục tiêu
20
Quan niệm về dạy TV chưa đầy đủ, chưa làm rõ được việc dạy TV nhằm
mục đích chính là dạy cho HS biết sử dụng TV hiệu quả trong giao tiếp, chương
trình TV chưa quan tâm đúng mức tới yếu tố văn hoá truyền thống của dân tộc để
dạy văn hoá ứng xử trong giao tiếp.
- Về nội dung
Chương trình TV ở TH trước năm 2000 coi nhẹ việc rèn các KN nghe và
KN nói TV. Hầu như các chương trình đều chưa quan tâm đúng mức tới việc dạy
TV trong hội thoại, nâng cao năng lực giao tiếp trong hội thoại cho HS. KN giao
tiếp chỉ được hình thành một cách tự phát trong quá trình học TV tại nhà trường
cũng như trong đời sống hàng ngày của HS.
Quan niệm về các KN sử dụng TV chưa toàn diện, bỏ qua một số KN cần
thiết như KNNN trong hội thoại, trong giao tiếp ở gia đình, nhà trường, xã hội…
mà chỉ quan tâm đến hai KN chủ yếu là đọc - viết. Bên cạnh đó, quan niệm cũ
chưa khai thác vốn TV sẵn có của HS trong quá trình dạy học TV. Quan niệm về
các văn bản dùng làm ngữ liệu dạy học chưa toàn diện, thiên về các văn bản mang
tính nghệ thuật, chưa coi trọng các loại văn bản khác cần sử dụng trong đời sống.
- Về phương pháp
Các phương pháp dạy học theo quan điểm giao tiếp chưa được sử dụng
trong dạy và học TV. Việc luyện tập các KN chưa được đảm bảo độ thành thạo,
thuần thục nên đã hạn chế đến kết quả học TV nói chung.
1.2.2.2. Quan điểm về việc rèn KNNN trong môn TV ở trường TH Việt Nam những
năm gần đây
- Chương trình TV năm 2000 được biên soạn dựa trên những định hướng:
Dạy TV thông qua hoạt động giao tiếp; tận dụng những kinh nghiệm sử dụng TV
của HS; vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy TV; kết hợp dạy TV với dạy văn
theo định hướng giao tiếp nhằm nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ và KN sử
dụng ngôn ngữ trong các hoạt động học tập và vui chơi của HS, nhưng sau một
thời gian dài triển khai, ta thấy chương trình bộc lộ một số vấn đề cần xem xét,
điều chỉnh, bổ sung và nghiên cứu lại cho phù hợp với thực tiễn dạy học và đáp
ứng tốt nhất cho mục tiêu chương trình đã đề ra:
22
Thứ nhất, chương trình hiện tại chưa chú trọng vào phần luyện ngữ âm, đặc
biệt là phần luyện KN phát âm phân biệt các âm- vần khó.
Thứ hai, hình thức rèn KNNN còn đơn điệu, chủ yếu thông qua hình thức
quan sát tranh, nói từ, câu chứa âm - vần được học. Nội dung rèn KNNN thông
qua giao tiếp còn hạn chế.
Thứ ba, các biện pháp rèn KNNN chưa phong phú và đa dạng nên chưa thực
sự hấp dẫn đối với HS lớp 1.
1.2.2.3. Chương trình TV Công nghệ giáo dục
Chương trình được xây dựng trên quan điểm lựa chọn khoa học ngôn ngữ về
TV hiện đại làm tiền đề và diễn đạt nó dưới hình thức một môn học theo nguyên
tắc mới: nguyên tắc phát triển, nguyên tắc chuẩn mực, nguyên tắc tối thiểu. Dựa
vào những nguyên tắc trên, chương trình TV Công nghệ Giáo dục đã xác định một
quy trình dạy học tường minh. Thông qua hệ thống việc làm, HS chiếm lĩnh được
tri thức khoa học cùng với các KN tương ứng.
Việc hình thành và phát triển các KN sử dụng TV luôn được đặt bên cạnh
mục tiêu cung cấp tri thức TV cho HS. Đặc biệt, khi đề cập đến KN, chương trình
TV Công nghệ giáo dục luôn xem xét các KN trong mối quan hệ chặt chẽ không
thể tách rời. Các KN nghe - nói - đọc - viết có tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn
nhau. KNNN là KN cơ bản ban đầu tạo tiền đề vững chắc cho KN đọc và viết. Cả
bốn KN nghe - nói - đọc - viết sẽ được tổng hợp và kiểm soát bằng quy trình trong
việc hình thành và phát triển KN viết. Chính vì vậy, dạy học theo quy trình công
nghệ là dạy học theo quy trình 4 việc. Ngoài việc tự chiếm lĩnh các kiến thức qua
hoạt động tự trải nghiệm của mình với HS còn được hình thành các KN tương ứng
một cách tự nhiên. Ngay tên gọi hệ thống việc làm trong quy trình dạy học đã thể
thức ngôn ngữ đã được học vào trong thực tiễn giao tiếp. Vì thế, HS có thể rất giỏi
về kiến thức ngôn ngữ nhưng chưa chắc đã có khả năng giao tiếp tốt.
- Dạy Tiếng như dạy một lời nói: Theo quan điểm này, việc dạy Tiếng trong
nhà trường chủ yếu là cung cấp cho HS những mẫu lời nói cụ thể thường xuất hiện
trong đời sống thường ngày. Quan điểm dạy Tiếng như dạy một lời nói hình thành
cho HS những mẫu lời nói cơ bản trong nghi thức giao tiếp hàng ngày. Quan niệm
này chú ý nhiều tới việc rèn KN mà ít quan tâm tới đặc điểm cấu trúc ngôn ngữ.
Tuy nhiên, các mẫu lời nói không phải lúc nào cũng vận dụng thích hợp với các
tình huống giao tiếp đa dạng trong cuộc sống.
- Dạy Tiếng như tổ chức một hoạt động nói năng: Quan điểm này vừa chú ý
tới giá trị của các yếu tố ngôn ngữ trong hệ thống cấu trúc vừa chú ý tới giá trị của
chính các yếu tố này trong hoạt động giao tiếp. Theo đó, việc dạy học Tiếng ở nhà
trường phổ thông được chú ý cả trong việc cung cấp lí thuyết ngôn ngữ lẫn việc
vận dụng lí thuyết vào thực hành giao tiếp và rèn KN nghe - nói - đọc - viết. Việc
dạy Tiếng theo quan điểm này là việc dạy qua giao tiếp và bằng giao tiếp, tức là
dạy trong hoạt động ngôn ngữ. Quan điểm dạy học này đòi hỏi sự kết hợp hài hòa
giữa tri thức, KN và sự vận dụng các tri thức, KN đó trong giao tiếp.
Trên thế giới, việc rèn KNNN đã được nhiều tác giả quan tâm sâu sắc.
Chương trình dạy học các KNNN đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường như
một nhiệm vụ trọng tâm. Đặc biệt, KNNN được đặt ngang hàng với các KN khác
25