Các biện pháp rèn kỹ năng nghe nói cho học sinh khối lớp 2 thông qua phân môn tập làm văn - Pdf 14

Đề tài nghiên cứu khoa học môn Tiếng Việt
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC MÔN TIẾNG VIỆT
MỤC LỤC
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
I.1. Lý do đề tài
I.2. Mục đích nghiên cứu
I.3. Đối tượng và khách thể
I.4. Phương pháp nghiên cứu
I.5. Đóng góp về lý luận, thực tiễn
PHẦN II: NỘI DUNG
II.1. Cơ sở lý luận
II.2. Cơ sở thực tiễn
II.2.1. Vài nét khái quát về trường Tiểu học Đỗ Sơn
II.2.2. Thực trạng về năng lực tạo lập lời nói của học sinh lớp 2
II.3. Các biện pháp rèn kỹ năng nghe nói cho học sinh khối lớp 2 thông qua phân môn
Tập làm văn
II.4. Thực nghiệm
PHẦN III: KẾT LUẬN
III.1. Đề xuất biện pháp
Đề tài nghiên cứu khoa học môn Tiếng Việt
III.2. Kết luận
III.3. Bài học kinh nghiệm
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
Đề tài nghiên cứu khoa học môn Tiếng Việt
II.1. Lý do chọn đề tài.
Trong mọi lĩnh vực của cuộc sống xã hội, giao tiếp thường là một hoạt động
khởi đầu cho những hoạt động tiếp theo . Nó tồn tại song song và ảnh hưởng to lớn
đến kết quả của những hoạt động đó. Có thể nói giao tiếp là hoạt động không thể thiếu
trong xã hội. trong xã hội thì con người luôn có nhu cầu giao tiếp với nhau. Nhu cầu
đó cũng như các nhu cầu giao tiếp khác, giao tiếp cũng giống ăn, mặc, ở, hít thở

môn này là rèn luyện cho học sinh kỹ năng sản sinh ra các ngôn bản nói và ngôn bản
viết. Trong chương trình Tiếng Việt 2, cả hai dạng kỹ năng này đều được quan tâm
một cách thích đáng thông qua hệ thống bài tập rất phong phú và đa dạng, phù hợp
với mục tiêu của người học và phân môn.
Tuy nhiên cũng phải thừa nhận rằng hiện nay việc dạy học Tập làm văn ở
trường tiểu học còn hạn chế và chưa đạt được kết quả như mong muốn. Lý do của
hiện tượng này là do đa số các giáo viên chưa định hình được phương pháp giảng dạy
và trình tự tiến hành một bài tập làm văn làm thế nào cho phù hợp với mục tiêu và nội
dung của bài đặt ra. Bên cạnh đó học sinh tiểu học là những đối tượng có năng lực tư
duy hạn chế, ký năng sử dụng ngôn ngữ của các em cũng phát triển chưa cao. Nhiều
em còn dùng từ sai, câu sai, hoặc hoạt động của các em còn chưa phù hợp với hoàn
cảnh mục đích giao tiếp hoặc chưa đúng phương cách chức năng. Hiện tượng này
Đề tài nghiên cứu khoa học môn Tiếng Việt
khiến cho các em gặp phải nhiều khó khăn trong hoạt động học tập và giao tiếp. Các
em phải được thực hiện hoạt động nói năng trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể.
Môn Tập làm văn nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung được coi là một giải pháp
hiệu quả để thực hiện nhiệm vụ này.
Từ những phân tích trên đây, chúng ta có thể thấy rõ sự cần thiết của việc dạy
học rèn kỹ năng nghe nói trong phân môn Tiếng Việt ở tiểu học và cũng do tính cấp
thiết của vấn đề này mà tôi đã đi sâu nghiên cứu đề tài “Rèn kỹ năng nghe nói cho
học sinh trong phân môn Tập làm văn lớp 2”.
I.2. Mục đích nghiên cứu
Khi bắt tay vào nghiên cứu đề tài này giúp cho học sinh đạt được những mục
đích sau:
+ Giúp học sinh nắm chắc được các bài tập rèn luyện kỹ năng nghe nói trong phân
môn tập nói trong phân môn Tập làm văn lớp 2.
+ Giúp học sinh làm tốt bài tập phát triển lời nói trong phân môn Tập làm văn lớp 2
đạt hiệu quả cao.
I.3. Đối tượng và khách thể.
3.1. Đối tượng.

Mục tiêu của môn Tiếng Việt nói chung và phân môn tập làm văn nói riêng ở
Tiểu học.
Theo quyết đinh ngày 09/11/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo,
chương trình tiểu học chính thức được sử dụng trong cả nước, trong đó có quy định rõ
mục tiêu đối với từng môn học ở tiểu học.
Môn Tiếng Việt ở Tiểu học có mục tiêu chính nhằm hướng tới sự phát triển
một lời nói cho học sinh phát triển khả năng giao tiếp của các em. Mục tiêu này được
cụ thể như sau:
Về kiến thức: Môn Tiếng Việt cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản
về Tiếng Viết và tri thức sử dụng Tiếng Việt trong giao tiếp. Bên cạnh đó cung cấp
những hiểu biết đơn giản về tự nhiên, xã hội, con người, về văn hóa, văn học của Việt
Nam và nước ngoài.
Về kỹ năng: Hình thành và phát triển ở học sinh những kỹ năng sử dụng Tiếng
Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của
lứa tuổi.
Thông qua việc dạy học môn Tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác tư duy
của học sinh (phân tích, tổng hợp, khái quát hệ thống,…) và góp phần nâng cao phẩm
chất tư duy, năng lực nhận thức.
Đề tài nghiên cứu khoa học môn Tiếng Việt
- Về thái độ: Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác tư
duy của học sinh, hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt, góp
phần hình thành nhân cách con người Việt Nam và xã hội chủ nghĩa.
Như vậy thông qua việc cung cấp những tri thức về Tiếng Việt, môn Tiếng Việt
nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng nhằm phát triển ở học sinh những kỹ
năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp. Hay nói cách
khác, mục tiêu lớn nhất của phân môn Tập làm văn là nhằm phát triển lời nói cho học
sinh, phục vụ cho các hoạt động học tập, gián tiếp. Đây chính là cơ sở quan trọng đầu
tiên để chúng ta có thể đưa ra các dạng bài tập rèn kỹ năng nghe nói trong phân môn
Tập làm văn ở tiểu học cụ thể là ở lớp 2.
Việc lựa chọn và sắp xếp nội dung dạy học phải lấy hoạt động giao tiếp làm

dung tổ chức và học để tránh sự nhàm chán ở các em. Giáo viên cần từng bước giúp
học sinh ý thức hóa và hoàn thiện điều mà các em đã biết cung cấp cho các em những
tri thức, kỹ năng mới một cách tiết kiệm thời gian mà vẫn hữu hiệu.
Để thực hiện điều này, trong quá trình dạy học cần thực hiện những yêu cầu
sau:
- Giáo viên cần điều tra, nắm vững vốn Tiếng Việt của học sinh theo từng lớp, từng
vùng khác nhau để hoạch định nội dung kế hoạch và phương pháp dạy học.
- Phát huy tính tích cực chủ động của học sinh theo từng lớp, từng vùng khác nhau
để hoạch định nội dung kế hoạch, giáo viên cần hệ thống hóa, phát huy những năng
Đề tài nghiên cứu khoa học môn Tiếng Việt
lực tích cực của học sinh, hạn chế và xóa bỏ những tích cực về lời nói của các em
trong quá trình học tập.
Bên cạnh đó, trong quá trình dạy học Tiếng Việt cũng cần chú ý đến những đặc
điểm tâm, sinh lý của học sinh để đảm bảo tính vừa sức của các em. Tâm lý học
khẳng định ở mỗi độ tuổi, học sinh chỉ có thể nhận thức được hoặc làm được một số
việc nhất định. Vì vậy, khi xây dựng các bài tập rèn luyện kỹ năng nghe nói trong
phân môn Tập làm văn lớp 2 phải thích hợp với tâm lý nhận thức của học sinh tiểu
học. Chẳng hạn, bài tập đưa ra phải có yêu cầu rõ ràng, đặt học sinh vào tình huống
giao tiếp cụ thể và thích hợp với tâm lý nhận thức của học sinh tiểu học như: Chào
hỏi, giới thiệu, cảm ơn, xin lỗi,…
Sự khai thác vốn tiếng mẹ đẻ và chú ý đến những đặc điểm tâm sinh lý của học
sinh trong quá trình dạy học là một trong những điều kiện để dạy các bài tập rèn kỹ
năng nghe, nói đạt hiệu quả cao.
Phân môn Tập làm văn lớp 2, kiểu bài rèn kỹ năng nghe, nói gồm các bài sau
được nói theo các tình huống giao tiếp, ở chương trình Tập làm văn ở lớp 2 không còn
dạng bài tập nói thành dạng, bài.
II.2. Cơ sở thực tiễn
II.2.1. Vài nét giới thiệu về trường Tiểu học Đỗ Sơn.
Đề tài nghiên cứu khoa học môn Tiếng Việt
II.2.2. Thực trạng về năng lực tạo lập lời nói của học sinh lớp 2A

thường có cùng một kiểu cấu trúc. Một số học sinh còn rụt rè, ấp úng không đưa ra
cách ứng xử của mình khi tôi hỏi chuyện. Qua tìm hiểu và qua thực tế tôi nhận thấy
các học sinh này trong lớp rất nhút nhát, rụt rè. Trong các tiết học các em thường
không sôi nổi, mạnh dạn, thường tỏ ra ngượng ngập khi nói ra trước lớp. Như vậy,
chúng ta nhận thấy rõ năng lực tạo lập lời nói của học sinh còn nhiều hạn chế.
Để khắc phục hạn chế này, chúng ta phải tổ chức tốt hoạt động rèn kĩ năng
nghe nói trong các giờ Tập làm văn. Để làm rõ cách tổ chức trong các giờ Tập làm
văn hiện nay như thế nào tôi tiếp tục tiến hành khảo sát thực trạng dạy học các bài tập
rèn kĩ năng nghe nói trong phân môn Tập làm văn lớp 2.
II.3. Các biện pháp rèn kĩ năng nghe nói cho học sinh lớp 2 qua phân môn Tập
làm văn.
Để rèn kĩ năng nói cho học sinh thông qua tiết Tập làm văn người giáo viên cần
phối hợp giữa gia đình, nhà trường bằng các hình thức sau:
- Thường xuyên thông tin tình hình học tập của học sinh theo từng tháng, vào sổ
liên lạc của học sinh để gửi về gia đình. Gặp và trao đổi với phụ huynh của học sinh
mà trong giao tiếp còn sử dụng những từ ngữ thiếu văn hóa hoặc chưa mạnh dạn, bình
tĩnh tự tin trong giao tiếp. Từ đó tạo cho các em một môi trường giao tiếp lành mạnh,
có văn hóa. Điều đó có tác dụng lớn đén khả năng rèn kĩ năng nghe nói cho học sinh.
- Về phía nhà trường: Phối hợp với các tổ chức của nhà trường (Đội, Công
đoàn) và các tổ chức đoàn thanh niên của xã, tổ chức tốt các hội thi theo các phong
Đề tài nghiên cứu khoa học môn Tiếng Việt
trào các chủ đề của năm học. Hội thi học tốt, vẻ đẹp tuổi hoa, ngoại khóa bộ môn…
và các hoạt động khác để các em có môi trường giao tiếp phong phú. Từ đó sẽ rèn
được khả năng giao tiếp của các em cũng như sự thông minh và mạnh dạn tự tin khi
nói. Bên cạnh đó nhà trường tổ chức thực hiện các chuyên đề, tổ chức bàn bạc, thảo
luận tìm ra các phương pháp hay cho chuyên đề.
Tóm lại, việc rèn luyện kỹ năng nghe nói và khả năng diễn đạt văn bản miệng
cho học sinh bắt đầu từ việc học sinh trả lời câu hỏi một cách gãy gọn, trình bày tự tin
cho tới việc nhận xét đánh giá một vấn đề chính xác, khách quan trong quá trình giảng
dạy người giáo viên kiên trì tỉ mỉ, phải quan tâm đến từng đối tượng học sinh của lớp,

- Treo tranh minh họa và hỏi: Bức tranh
minh họa điều gì?
- Giáo viên hỏi: Khi gọi điện thoại đến
bạn nói thế nào?
+ Cô chủ nhà nói thế nào?
- Tranh minh cảnh một bạn học sinh gọi
điện thoại đến nhà bạn.
Bạn nói: Cô cho cháu gặp bạn Hoa ạ
+ Ở đây không có ai tên là Hoa đâu cháu
Đề tài nghiên cứu khoa học môn Tiếng Việt
+ Lời nói của cô chủ nhà là một lời phủ
định, khi thấy chủ nhà phủ định lời mình
hỏi, bạn học sinh đã nói như thế nào?
- Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta
thường xuyên được nghe lời phủ định của
người khác, khi đáp lại những lời này các
em cần có thái độ lịch sự nhã nhặn.
- Giáo viên gọi 2 học sinh lên bảng đóng
vai thể hiện lại tình huống trên.
- Gọi học sinh nhận xét, giáo viên nhận
xét 2 bạn đóng vai tốt chưa, lưu loát
chưa?
* Bài tập 2: Thực hành
- Giáo viên viết sẵn các tình huống vào
bảng giấy, gọi 2 học sinh lên thực hành
- Gọi học sinh dưới lớp lên bổ sung nếu
có cách nói khác
ạ.
+ Bạn nói: Thế ạ? Cháu xin lỗi cô.
- Đóng vai tốt, diễn đạt lưu loát.

ạ!/ Mẹ yên tâm nghỉ ngơi. Con làm được
mọi việc mà./ …
- Học sinh nghe kể chuyện
Đề tài nghiên cứu khoa học môn Tiếng Việt
- Treo bảng phụ có các câu hỏi:
+ Chuyện có mấy nhân vật? Đó là những
nhân vật nào?
+ Lần đầu về quê chơi, cô bé thấy thế
nào?
+ Cô bé hỏi cậu anh họ điều gì?
+ Cậu bé giải thích ra sao?
+ Thực ra con vật mà cô bé nhìn thấy là
con gì?
- Gọi 2 đến 4 học sinh kể lại câu chuyện
- Nhận xét, cho điểm
+ Hai nhân vật: Cô bé và cậu anh họ
+ Cô bé thấy mọi thứ đều lạ lẫm
+ Cô bé hỏi sao con bò này lại không có
sừng hả anh?/ Nhìn thấy một con vật đang
ăn cỏ, cô bé hỏi người anh họ “Sao con
bò này lại không có sừng, hả anh?”
+ Cậu bé giải thích: Bò không sừng vì
nhiều lý do, con thì bị gãy sừng, con còn
non chưa mọc, riêng con này không có
sừng vì nó là con ngựa.
+ Là con ngựa
- 2 đến 4 học sinh kể lại câu chuyện
4. Củng cố, dặn dò.
- Con đáp lại như thế nào khi:
+ Một bạn hứa cho em mượn truyện nhưng lại để quên ở nhà.

cảnh giao tiếp mình luôn là người chủ động, sáng tạo, tự tin linh hoạt khi nói, khi
trình bày,…
Để giúp học sinh có vốn từ ngữ phong phú biết sử dụng vốn từ vào việc nói và
viết trong các tiết học luyện từ và câu giáo viên cần giúp học sinh nắm chắc hệ thống
từ ngữ gắn với các chủ đề trong chương trình học. Trong các tiết tập đọc bước học
sinh tìm từ khó giáo viên nên để học sinh đề suất từ rồi để học sinh tự giải nghĩa từ.
Làm tốt điều này không những luyện cho học sinh kỹ năng nói và giúp học sinh hiểu
được nghĩa của từ này một cách thấu đáo, giúp các em có thêm kỹ năng dùng từ chính
xác trong các văn cảnh và các câu cụ thể.
Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh có sổ tay Tiếng việt ghi lại những câu văn
hay, những từ ngữ thường dùng để có vốn từ phong phú hơn. Khi học sinh đã có một
vốn từ dồi dào, giáo viên cần phải hướng dẫn các em biết sử dụng chúng vào việc
giao tiếp cho đúng, cho phù hợp nghĩa, có giá trị gợi cảm. Công việc này trong bước
tìm từ khó của các giờ tập đọc đã thực hiện một số phần, phần nữa là thông qua các
giờ luyện từ và câu, phần còn lại thông qua các tiết giáo viên nhận xét đánh giá các
loại bài tập nghe, bài tập nói trong giờ tập làm văn.
Để học sinh nói hoặc viết đúng cấu trúc ngữ pháp thì qua tiết luyện từ và câu
giáo viên cần khắc sâu kiến thức về kiểu câu mà các em đã được học như câu ở đâu?,
Đề tài nghiên cứu khoa học môn Tiếng Việt
Như thế nào?, Khi nào?,… Khi các em đã hiểu rõ cấu tạo và tác dụng của từng loại
câu thì các em sẽ biết sử dụng chúng trong từng trường hợp một cách hợp lý, khoa
học. Bên cạnh đó giáo viên cần sắp xếp thời gian hợp lý để hướng dẫn các em đọc
sách giúp các em nâng cao năng lực cảm thụ văn học tích lũy dần các tư liệu văn học.
Trong các tiết Tập làm văn lớp 2 nói riêng và trong tất cả các tiết học khác,
người giáo viên cần tạo ra nhiều tình huống để học sinh luyện nói nhiều, đưa ra nhiều
câu hỏi để các em tranh luận, suy nghĩ, ghi lại ý, trả lời đúng hoặc đưa ra các kiểu bài
tập để học sinh luyện nói như loại bài tập phát âm theo chuẩn Tiếng việt, loại bài tập
tạo ra tình huống giao tiếp, loại bài tập ngâm thơ, học thuộc lòng… Việc tạo ra các
tình huống như trên sẽ giúp học sinh khắc phục được những tồn tại khi nói, hay khi
trình bày một vấn đề như còn rụt rè, diễn đạt chưa chôi chảy, chưa thoát ý.

thức và tư duy của các em, môn Tiếng việt ở tiểu học có rất nhiều phân môn rất thiết
thực đối với các em để các em có được một văn bản hay có chiều sâu và giúp các em
có kỹ năng diễn đạt tốt thì Tập làm văn nghe nói là một môn học rất cần thiết. Mỗi
người thầy, người cô, cần có tinh thần trách nhiệm của mình luôn nghiên cứu, tìm tòi
cải tiến phương pháp giảng dạy nhằm góp phần nâng cao chất lượng và có hiệu quả
trong giảng dạy bộ môn.
Qua tham khảo tài liệu và dự giờ thăm lớp tôi rút ra một vài nét cơ bản trong
việc rèn kỹ năng nói cho học sinh tiểu học qua phân môn Tập làm văn lớp 2 như sau:
1. Giáo viên phải nắm vững nội dung chương trình môn Tập làm văn lớp mình giảng
dạy. Nắm vững nội dung yêu cầu từng tiết học để chọn phương pháp giảng dạy và
chuẩn bị đồ dùng trực quan, phục vụ cho bài dạy.
Đề tài nghiên cứu khoa học môn Tiếng Việt
2. Học sinh phải được giáo viên hướng dẫn và chuẩn bị tốt bài tập ở nhà trước khi đến
lớp. Hướng dẫn quan sát, hướng dẫn chuẩn bị bài ở nhà.
3. Tập làm văn cần phải đảm bảo đặc trưng của bộ môn. Được quan sát cụ thể, được
tập nói, tập diễn đạt nhiều.
4. Giáo viên phải biết hướng dẫn học sinh vốn từ, ngữ pháp của mình khi diễn đạt.
Khi học sinh diễn đạt, giáo viên phải lằng nghe và nhận xét bổ sung, sủa sai, khen
ngợi học sinh kịp thời.
5. Giáo viên cần nắm vững đối tượng của lớp, khi dạy phải chú ý cả 3 đối tượng học
sinh.
6. Cần tôt chức tiết học cho nhịp nhàng giữa thầy và trò, thầy chỉ đóng vai trò chủ
đạo, hướng dẫn.
7. Chú ý giáo dục đạo đức cho học sinh giữa mỗi bài dạy.
8. Giáo viên cần phải biết phối hợp giữa các lực lượng giáo dục để tạo môi trường
giao tiếp lành mạnh cho các em. Bản thân người giáo viên luôn mẫu mực trong mọi
hoàn cảnh giao tiếp, làm tấm gương sáng cho học sinh học tập và noi theo. Luôn luôn
cố gắng học tập không ngừng để nâng cao hiểu biết và nghiệp vụ sư phạm của mình.
Tóm lại, đổi mới phương pháp dạy môn Tập làm văn là một giải pháp tích cực
để khắc phục tình trạng học sinh có kỹ năng cách nói chưa tốt và chất lượng chuyên

- Phối kết hợp giữa 3 môi trường giáo dục: gia đình, nhà trường và xã hội.
- Thực hiện các tiết học, nắm vững nội dung chương trình sách giáo khoa ở Tiểu
học.
- Luôn cải tiến phương pháp dạy học, phát huy tính tích của học sinh. Tìm tòi các
hình thức dạy học vận dụng vào các giờ để dạy để giờ học diễn ra nhẹ nhàng và thoải
mái.
- Sử dụng triệt để và có hiệu quả bộ đồng dùng dạy học có sẵn, luôn có ý thức tự tạo
các đồ dùng dạy học để phục vụ cho các tiết dạy.
- Hướng dẫn học sinh có phương pháp học tập phù hợp với phân môn Tập làm văn.
- Không ngừng học hỏi trao đổi kinh nghiệm để nâng cao trình độ chuyên môn, tích
cực bồi dưỡng và tự bồi dưỡng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 (tập 1 + 2)
2. Sách thiết kế bài dạy Tiếng Việt 2.
3. Phương pháp giảng dạy Tiếng Việt 2.
4. Sách nâng cao Tiếng Việt 2.
5. Tạp chí khoa học.
6. Tập soạn giáo dục thời đại.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status