LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, phải kể đến những khó khăn, trở ngại,
song nhờ sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp, tôi đã
hoàn thành đúng tiến độ.
Xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới Phó Giáo sư Tiến sĩ Đỗ
Huy Quang - người đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết để hướng tôi hoàn
thành luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Sau Đại học, các thầy
cô giáo Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo diều kiện thuận lợi, giúp đỡ
tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu và Hội đồng sư phạm
Trường Tiểu học Ngọc Thanh B, Tiểu học Ngọc Thanh C và Tiểu học Xuân
Hòa thị xã Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc, các bạn bè đồng nghiệp đã tạo điều kiện
giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện đề tài.
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố ở bất kì công
trình khoa học nào khác.
Tác giả
1.3. Học sinh tiểu học giàu trí tưởng tượng, cảm xúc và sáng tạo. Song
phần tư duy sáng tạo vẫn còn phiến diện, nghiêng về nhận thức cảm tính, tư
duy trừu tượng mới chỉ phát triển ở bước đầu, hình ảnh tưởng tượng còn đơn
giản, chưa bền vững và dễ thay đổi, hơn nữa vốn từ tiếng Việt còn nhiều hạn
chế, các em gặp khó khăn trong việc lựa chọn từ ngữ diễn đạt thành lời các ý
tưởng và suy nghĩ cũng như khi nghe, đọc hiểu nội dung truyện. Sự thiếu tự
tin, thiếu mạnh dạn, tâm lý rụt rè, e ngại trong giao tiếp cũng là một trở ngại
lớn đối với các em trong học tập. Do đó, dạy học như thế nào để hiệu quả hơn
là vấn đề trọng tâm được ngành giáo dục đặc biệt quan tâm. Vấn đề đặt ra ở
đây là làm thế nào để thúc đẩy quá trình dạy học hiệu quả nhằm đáp ứng được
nhu cầu nhận thức của HS, khai thác và điều chỉnh vốn sống mà các em đã tích
lũy được, phát huy tính tích cực, tự giác của HS, điều này sẽ giúp HS có cơ hội
rèn luyện kĩ năng giao tiếp bằng lời, tạo cho các em sự tự tin, mạnh dạn. Có
nhiều cách giải quyết vấn đề này nhưng khả thi nhất là việc đổi mới nội dung
và phương pháp dạy học.
Đến nay, việc triển khai chương trình SGK tiếng Việt 2,3 đã bước sang
năm thứ 9 nhưng phần lớn giáo viên tiểu học dạy lớp 2,3 vẫn rất lúng túng khi
dạy kể chuyện, chưa vận dụng được việc đổi mới phương pháp dạy kể chuyện
sao cho hiệu quả, phù hợp với mục đích, nội dung bài học nên hiệu quả các giờ
học kể chuyện chưa cao. Dạy kể chuyện thường nghiêng về việc dựa vào câu
hỏi đọc hiểu trong giờ Tập đọc để dạy. Kể chuyện chưa thực sự tạo được nhu
cầu nói, nhu cầu và điều kiện giao tiếp cần thiết cho HS. Đặc biệt việc tổ chức
dạy - học nhằm rèn kĩ năng nói cho HS trong phân môn KC nói chung và phân
môn KC lớp 2,3 nói riêng hiệu quả còn thấp. Do đó, việc giúp GV lựa chọn
phương pháp dạy học phù hợp nhằm huy động tối đa thời lượng tiết học tạo
điều kiện cho học sinh được rèn kĩ năng nói là vấn đề mang tính thời sự đặt ra
cho các nhà quản lí giáo dục để đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học
và thực hiện mục tiêu đào tạo con người mới trong xu thế hội nhập toàn cầu.
1.4. Hiện nay có nhiều tài liệu viết về việc dạy KC trong trường Tiểu
học như cuốn “Phương pháp dạy học tiếng Việt 2” xuất bản năm 1998 của hai
phát triển ngôn ngữ nói thông qua hình thức kể chuyện theo vai” của tác giả
Mai Xuân Minh,…
Trên đây là những công trình viết về dạy học Tiếng Việt nói chung và
dạy học phân môn KC nói riêng ở Tiểu học. Các công trình đó tuy không viết
riêng về vấn đề rèn kĩ năng nói cho HS như đề tài luận văn này quan tâm,
nhưng người nghiên cứu vẫn có thể tiếp thu nhiều điều bổ ích. Đó là các vấn
đề có tính lý luận về nguyên tắc, hình thức, phương pháp dạy học môn Tiếng
Việt nói chung và phân môn KC nói riêng. Bởi vậy, nghiên cứu vấn đề rèn kĩ
năng nói cho học sinh lớp 2,3 trong phân môn KC vẫn là một đề tài mới mẻ,
thú vị. Chúng tôi sẽ tiếp thu những thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học
đi trước để làm sáng tỏ cho các vấn đề mà đề tài chúng tôi quan tâm.
Xuất phát từ lý do trên nên chúng tôi đã chọn đề tài: “Rèn kĩ năng nói
cho học sinh lớp 2,3 trong phân môn kể chuyện” để một mặt chuẩn bị cơ sở
lí luận cho các biện pháp rèn luyện kĩ năng giao tiếp, mặt khác góp phần hoàn
thành mục tiêu giáo dục tất cả vì sự phát triển toàn diện của trẻ em lứa tuổi tiểu
học.
2. Mục đích nghiên cứu
- Xây dựng những biện pháp rèn kĩ năng nói cho HS để góp phần nâng
cao chất lượng hiệu quả giờ kể chuyện ở lớp 2,3, trên cơ sở vận dụng lý thuyết
giao tiếp, lý thuyết hội thoại và vận dụng các phương pháp dạy học tích cực
vào giờ kể chuyện.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc rèn kĩ năng nói cho HS
trong phân môn Kể chuyện lớp 2,3.
- Đề xuất một số biện pháp rèn kĩ năng nói cho HS để giờ dạy kể chuyện
lớp 2,3 đạt hiệu quả cao hơn, từ đó rèn và phát triển khả năng giao tiếp cho HS.
- Tổ chức thực nghiệm sư phạm.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Nội dung và phương pháp dạy học kể chuyện lớp 2,3 theo chương trình
hiện hành.
động phù hợp với quy tắc ấy trong quá trình giải quyết nhiệm vụ đã xác định”.
Tác giả A.V. Petrovxki cho rằng: “Kĩ năng là cách thức hành động dựa trên
cơ sở tổ hợp những tri thức và kĩ xảo. Kĩ năng được hình thành bằng con
đường luyện tập tạo khả năng cho con người thực hiện hành động không chỉ
trong điều kiện quen thuộc mà ngay cả trong điều kiện thay đổi”.Theo Nguyễn
Quốc Vỹ “Kĩ năng là khả năng của con người thực hiện có hiệu quả một công
việc để đạt được mục đích đã xác định bằng cách lựa chọn và áp dụng những
cách thức hành động phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và phương tiện nhất
định”
- Các nhà Giáo dục học phân tích kĩ năng thành hai loại kĩ năng bậc một
và kĩ năng bậc hai:
+ Kĩ năng bậc một là kĩ năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù
hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy, cho dù
là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ. Loại kĩ năng này thông qua luyện
tập đến mức hoàn hảo, các thao tác được diễn ra hoàn toàn tự động hoá không
cần có sự hiện diện của ý thức hoặc sự tham gia của ý thức rất ít thì biến thành
kĩ xảo. Ví dụ như kĩ năng viết, đan len, đi xe đạp
+ Kĩ năng bậc hai là khả năng thực hiện hành động, hoạt động một cách
thành thạo, linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với những mục tiêu trong những điều
kiện khác nhau. Trong kĩ năng bậc hai, yếu tố linh hoạt sáng tạo là yếu tố cơ
bản, đó là cơ sở cho mọi hoạt động đạt hiệu quả cao.
Dựa trên những quan niệm nêu trên, chúng tôi đưa ra khái niệm sau:
“Kĩ năng là hệ thống các thao tác, những cách thức hành động phù hợp để
thực hiện có kết quả một hoạt động dựa trên những tri thức nhất định”
* Kĩ năng nói: Kĩ năng nói là một trong những kĩ năng quan trọng cần
trang bị, rèn luyện cho mỗi người. Kĩ năng nói được hiểu là khả năng, trình độ
biểu đạt ngôn ngữ âm thanh. Theo đó, kĩ năng nói không đơn thuần chỉ là nói
mà còn thể hiện giọng nói, cử chỉ, điệu bộ, thái độ, nét mặt, khóe mắt, để
diễn đạt được chính xác nội dung, thể hiện đúng đắn, đầy đủ mọi ý định, bộc lộ
được những tình cảm tinh tế nhất. Vì vậy, có thể khẳng định được rằng việc
dẫn của người lớn, trẻ em mới có thể tiếp thu được những kho tàng quý báu
của nhân loại một cách có hiệu quả và kĩ năng nói của trẻ mới được rèn luyện
một cách thường xuyên.
1.1.1.3. Một số kĩ năng cơ bản cần rèn luyện
- Kĩ năng lắng nghe: Lắng nghe không đồng nhất với nghe. Nghe chỉ là
một hoạt động vô ý thức của con người còn lắng nghe là một khả năng của hệ
thần kinh. Khi lắng nghe, nhờ hoạt động của tư duy mà chúng ta hiểu được nội
dung thông báo. Lắng nghe không phải là bản năng mà là nghệ thuật, là kĩ
năng cần phải rèn luyện lâu dài.
Trong hoạt động giao tiếp nghe, nói là những hoạt động cơ bản trong việc
giao tiếp bằng ngôn ngữ của con người. Nếu chúng ta chỉ biết nói mà không
biết nghe, chỉ biết đọc mà không biết viết thì việc giao tiếp không thể đạt được
như mong muốn, khó có thể hiểu hết ý định của người khác. Bởi vậy, bên cạnh
việc rèn luyện kĩ năng nói, chúng ta cần phải rèn luyện kĩ năng nghe. Luyện
nghe chính là luyện một hoạt động của con người luyện hoạt động giao tiếp.
Mặt khác, trong giao tiếp bằng ngôn ngữ của con người thì hai phần ba là giao
tiếp miệng. Đối với giáo viên, tỷ lệ này còn cao hơn nữa. Người giáo viên
không chỉ biết nói tốt mà còn phải biết nghe tốt, nhất là nghe ý kiến của học
sinh. Vì vậy, yêu cầu rèn luyện kĩ năng lắng nghe sẽ giúp chúng ta ý thức đầy
đủ hơn về vai trò của hoạt động này trong giao tiếp.
+ Hình thức nghe: Nghe đối thoại (mang tính chủ động, vừa được nghe,
vừa được nói) và nghe độc thoại (mang tính bị động, chỉ được nghe).
Việc
phân chia này mang tính chất tương đối vì trong thực tế, ở những điều kiện và
hoàn cảnh nhất định chúng ta vẫn có thể biến nghe thụ động thành chủ động,
và ngược lại.
+ Điều kiện để nghe có hiệu quả: Cần xác định mục đích trước khi nghe,
có hứng thú và sự hiểu biết tối thiểu về nội dung trình bày , cần có trí nhớ tốt
- Kĩ năng diễn đạt: Cùng với kĩ năng lắng nghe, kĩ năng diễn đạt là một
diễn ra một hoạt động giao tiếp (gọi tắt là giao tiếp)”.[20.tr27]
Như vậy, GT là hoạt động tiếp xúc giữa các thành viên trong xã hội với
nhau, có thể GT với nhau bằng nhiều phương tiện: ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ,
dấu hiệu. Song phổ biến hơn, phong phú hơn vẫn là giao tiếp bằng ngôn ngữ.
Họ dùng ngôn ngữ để bày tỏ tư tưởng, tình cảm, trao đổi ý kiến, kiến thức,
nhận xét xã hội, con người, thiên nhiên. Mỗi cuộc GT tối thiểu phải có hai
người và phải dùng cùng một ngôn ngữ nhất định.
Xuất phát từ những nhận định trên, chúng tôi mạnh dạn đưa ra định nghĩa
sau: Giao tiếp là quá trình xã hội, trong đó các chủ thể trao đổi thông tin, cảm
xúc, nhân thức, đánh giá và điều chỉnh hành vi lẫn nhau, đồng thời tự điều
chỉnh hành vi của mình. Phương tiện giao tiếp đặc thù là ngôn ngữ.
Giao tiếp chủ yếu tồn tại dưới hai dạng: GT bằng lời (GT miệng) và GT
bằng văn tự (GT viết). Trong đó GT bằng lời là cơ sở. Vai trò mà GT đảm
nhận trong đời sống cộng đồng chính là chức năng của ngôn ngữ. Giao tiếp có
bốn chức năng chính đó là:
Chức năng thông tin (chức năng thông báo): Qua các cuộc GT người ta
trao đổi những thông tin (tin tức thời sự, chính trị, tri thức khoa học, văn hóa
nghệ thuật,…) dưới dạng nhận thức, tức là họ đã thực hiện chức năng thông
báo của GT nhằm đáp ứng nhu cầu nhận thức của con người. Đây chính là
chức năng mà ta thường gặp trong GT.
Chức năng tạo lập quan hệ: Không chỉ dừng lại ở việc trao đổi thông tin,
trong quá trình GT con người còn hướng tới việc xây dựng và duy trì các mối
quan hệ tốt đẹp giữa những cá nhân tham gia GT. Đôi khi mục đích này lại là
mục đính chính của cuộc GT. Tuy nhiên, chức năng này còn bao hàm cả chức
năng phá vỡ quan hệ.
Chức năng giải trí: Trong cuộc sống có những lúc con người phải làm
việc, hoặc học tập vất vả, những lúc như thế con người cần được nghỉ ngơi thư
giãn. Nghỉ ngơi thư giãn là một nhu cầu sinh lý. Hoạt động GT với những câu
chuyện, những lời đùa dí dỏm là liều thuốc xua tan những mệt mỏi ưu phiền,
làm ta cảm thấy thoải mái, cuộc sống có ý nghĩa và hứng thú hơn với công việc
đổi vai cho nhau khi tham gia GT.
- Hoàn cảnh giao tiếp: Hoạt động GT bằng ngôn ngữ cũng như các hoạt
động khác của con người luôn luôn diễn ra trong hoàn cảnh nhất định. Xét ở
phạm vi rộng thì hoàn cảnh GT là tổng thể những đặc điểm về điều kiện tự
nhiên, xã hội, đến bối cảnh lịch sử, thời đại, kinh tế, chính trị,…Những yếu tố
này có ảnh hưởng và chi phối nội dung GT, nó không tham gia trực tiếp vào
GT mà thường được thể hiện trong những hiểu biết, tư duy của nhân vật GT.
Xét ở phạm vi hẹp hơn, hoàn cảnh GT còn gọi là tình huống GT, bao gồm các
yếu tố thời gian, địa điểm, hình thức giao tiếp, tình trạng sức khỏe,… tồn tại
trong quá trình GT. Tình huống GT tạo ra những quy định bất thành văn về
cách thức nói năng, ứng xử mà mỗi thành viên tham gia GT trong hoàn cảnh
đó đều phải tuân thủ thông qua các yếu tố ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ sao cho
thích hợp. Hoàn cảnh GT hẹp có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của cuộc
GT.
- Mục đích giao tiếp: Hoạt động GT luôn nhằm vào một mục đích nào
đó, có thể là nhằm mục đích chính hoặc mục đích phụ. Khi đạt được mục đích
thì hoạt động GT cũng đạt được hiệu quả. Nhân tố mục đích luôn chi phối đến
hoạt động GT.
- Nội dung giao tiếp: Là mảng hiện thực được đề cập tới, đó là những sự
kiện, hiện tượng, sự vật trong thực tế khách quan. Cũng có thể thực tế đó là
những tâm trạng, sự kiện nội tâm của con người, của người phát, người nhận
hay người thứ ba nào đó không tham gia vào hoạt động GT. Nó tạo thành đề
tài và nội dung của hoạt động GT ngôn ngữ. Hiện thực được nói tới ở đây vừa
là xuất phát điểm của nội dung GT, vừa là điểm quy tụ cuối cùng quyết định sự
thành công hay thất bại của một hoạt động GT.
- Phương tiện và cách thức giao tiếp: Phương tiện GT được sử dụng là
ngôn ngữ và các yếu tố phi ngôn ngữ. Tùy từng phạm vi, từng lĩnh vực hoạt
động của con người mà lựa chọn những yếu tố thích hợp. Hơn nữa, GT còn có
thể được thực hiện theo những cách thức khác nhau: nói miệng hoặc dùng văn
bản viết…Ngôn ngữ đựoc sử dụng chính là chất liệu để tạo thành lời nói trong
+ Nội dung của ngôn bản là thành phần phản ánh thực tế, phản ánh thái
độ, tình cảm, sự đánh giá hiện thực được nói tới và phản ánh ý muốn tác động
tới hành động của người tiếp nhận ngôn bản khi GT. Nội dung của ngôn bản
được chia làm hai phần: Nội dung sự vật (nội dung miêu tả) được coi là quan
trọng nhất, bao gồm tất cả các yếu tố có liên quan đến hiện thực được nói tới
trong ngôn bản và nội dung này thực hiện đích thuyết phục về nhận thức khi
GT. Nội dung liên cá nhân (nội dung biểu cảm) bao gồm tất cả những gì thuộc
thái độ, tình cảm, sự đánh giá nhận xét của người tạo ra ngôn bản đối với nội
dung sự vật cũng như đối với người tiếp nhận. Thành phần nội dung liên cá
nhân là thành phần chủ yếu thực hiện đích thuyết phục về tình cảm, hành động
khi GT.
Nội dung và hình thức của ngôn bản có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Nội dung ngôn bản thường quyết định việc lựa chọn hình thức của ngôn bản,
ngược lại hình thức của ngôn bản lại thể hiện rõ nội dung của ngôn bản.
1.1.2.3. Dạy học Tiếng Việt hướng vào hoạt động giao tiếp
Ngôn ngữ được thể hiện trong những dạng lời nói khác nhau: nói, viết.
Mọi quy luật ngôn ngữ, mọi cấu trúc và hoạt động của hệ thống ngôn ngữ chỉ
được rút ra trên cơ sở nghiên cứu lời nói sinh động. Mặt khác, muốn hình
thành các kĩ năng, kĩ xảo ngôn ngữ, HS phải trực tiếp tham gia vào hoạt động
GT, trong cuốn Phương pháp dạy học Tiếng Việt của tác giả Lê A [2;tr9])
“Việc lĩnh hội lời nói của người khác sản sinh ra các lời nói đúng và hay vừa là
phương tiện đồng thời vừa là mục đích của bộ môn Tiếng Việt ở nhà trường
phổ thông” Dạy học Tiếng Việt hướng vào hoạt động GT được thực hiện dựa
trên sự nhận thức sâu sắc về vai trò, chức năng của Tiếng Việt trong GT xã
hội. Chỉ có dạy học hướng vào hoạt động GT mới phát triển được kĩ năng, kĩ
xảo GT. Vì thế, ta phải cung cấp cho HS các kiến thức về ngôn ngữ, kiến thức
lý thuyết tiếng Việt. Bởi vì ngôn ngữ là phương tiện GT quan trọng nhất và lời
nói là bản thân của sự GT bằng ngôn ngữ.
Dạy học hướng vào hoạt động GT bao gồm sự phát triển lời nói cho từng
cá nhân HS. Muốn đạt được điều đó, trong hoạt động dạy học phải có nội dung
tác, tiểu sử nhà văn, Những yếu tố này chưa được quan tâm ở cấp Tiểu học
mà được quan tâm xem xét ở cấp Trung học cơ sở và Trung học phổ thông.
+ Hoạt động GT trong văn bản KC được quan tâm nhiều ở Tiểu học.
gồm các nhân tố như:
Người nói trong văn bản (xác định được ai đang nói, các nhân vật nói):
là người kể chuyện, người dẫn chuyện và các nhân vật đang đối thoại, độc
thoại. Người kể chuyện có thể nói theo lời người dẫn chuyện, nói theo lời một
nhân vật trong câu chuyện.
Hoàn cảnh GT (Nói khi nào?Nói ở đâu?): là xác định bối cảnh, môi
trường diễn ra sự việc. Khi KC, người kể phải nói rõ điều này (Ví dụ: khi KC
phân vai, câu chuyện như diễn ra trên sân khấu, người thuyết minh cho câu
chuyện phải mô tả cách bài trí sân khấu, từ phong cảnh đến đạo cụ.)
Nội dung, cách thức, trình tự cuộc GT: là toàn bộ sự việc diễn ra trong
câu chuyện. Người kể phải kể lại theo từng đoạn, từng sự việc, từng chi tiết,
từng nhân vật theo diễn biến của câu chuyện
Mục đích GT: là chủ đề, là thông điệp nhà văn gửi đến người đọc, là ý
nghĩa của câu chuyện, là những bài học, lời khuyên,
- Với hoạt động kể chuyện: KC là người kể đang GT với người nghe:
+ Nội dụng GT chính là nội dung câu chuyện.
+ Mục đích GT là người nghe hình dung được diễn biến câu chuyện,
người nghe có cảm giác được chứng kiến, được tham gia các sự việc diễn ra
trong truyện và hiểu câu chuyyện. Người kể phải luôn ý thức được rằng mình
kể cho ai nghe. Ví dụ: HS khi kể phải xác định rõ kể cho các bạn trong lớp và
thầy cô giáo để từ đó xác định được cách xưng hô, giọng kể, tình cảm khi kể.
Lời mở đầu khi kể thường là:“Chào các bạn, tôi xin kể với các bạn câu
chuyện Sau đây, câu chuyện xin được bắt đầu.”
+ Hoàn cảnh GT là lớp học, trong giờ học. Người KC phải căn cứ vào vị
trí của mình (đứng tại chỗ kể hay đứng trên bục của thầy cô giáo để kể) để xác
định âm lượng khi kể và lựa chọn sử dụng các yếu tố kèm lời và phi lời
trong quá trình kể cho phù hợp.
giao tiếp nói với nhau. Tùy thuộc vào số lượng cụ thể của người tham gia GT
mà người ta chia thành song thoại (HT giữa hai người), tam thoại, tứ thoại, đa
thoai (HT nhiều người). Lời nói trong đa thoại là lời nói đối thoại, nó phải nằm
trong một mạch của nhiều lời nói do nhiều người nói lần lượt nối tiếp nhau. Để
đảm bảo cho cuộc thoại đạt kết quả tốt mỗi lời nói phải ăn nhập vào mạch
chung của nội dung câu chuyện và đòi hỏi giữa những người tham gia phải có
sự thỏa thuận ngầm về nội dung HT, cùng nhau thực hiện tốt quy tắc HT (như
phải biết trao lời, tiếp lời) và phải tôn trọng thể diện của nhau.
Trong phân môn Kể chuyện lớp 2,3. Phần lớn các dạng bài tập gồm cả
dạng đơn thoại và đa thoại. Đơn thoại, độc thoại chiếm tỉ lệ nhiều hơn (dạng
bài tập kể theo đoạn, kể toàn bộ câu chuyện, kể theo lời tác giả, kể theo lời
của mình, kể theo lời nhân vật), còn đa thoại chủ yếu là kiểu đối thoại (dạng
bài tậpkể chuyện theo hình thức phân vai). Trên cơ sở nắm vững khái niệm và
đặc điểm của các loại HT, khi rèn kĩ năng nói cho HS, GV cần luyện cho HS
biết dùng cả lời độc thoại và lời đối thoại. Với lời độc thoại, GV phải giúp HS
nói cho đầy đủ, nói có đầu có cuối một cách ngắn gọn, rành mạch, rõ ràng.
Với lời đối thoại, GV cần giúp HS biết lắng nghe người khác nói để nắm được
diễn biến, nội dung câu chuyện và có những lời nói phù hợp, đồng thời phải
giúp HS ý thức được khi nào cần nhường lời, tiếp lời, cũng như việc lựa
chọn, sử dụng thêm các yếu tố phi ngôn ngữ (cử chỉ, điệu bộ, nét mặt,…) phụ
trợ thêm cho lời nói của mình đạt kết quả cao nhất.
Trong chương trình KC lớp 2,3 có một số truyện về nghi thức lời nói
(Ai có lỗi, Các em nhỏ và cụ già - TV3). Khi dạy dạng bài này, GV phải giúp
HS xác định vai trò của mình trong từng tình huống GT cụ thể để các em lựa
chọn cách xưng hô, cách thể hiện thái độ cho đúng mực.
1.1.3.2. Các vận động hội thoại
- Vận động trao lời: Trong HT, thông thường khi một người nói ra và
hướng lời nói của mình tới người nghe thì người đó đã thực hiện một vận
động, ta gọi đó là vận động trao lời (trừ trường hợp độc thoại). Khi đóng vai
là người trao lời, người nói cần đảm bảo một số yêu cầu nhất định, cụ thể là:
Các tiêu chí để nhận diện một cuộc HT là: nhân vật thoại; tính thống
nhất về thời gian và địa điểm; tính đề tài và diễn ngôn; về danh giới của cuộc
thoại. Cuộc thoại nào cũng có sự vận động, từ lúc mở đầu đến lúc phát triển và
kết thúc. Mô hình điển hình của các cuộc thoại gồm ba loại đoạn thoại: Mở
đầu, các đoạn thoại phát triển nội dung; kết thúc HT.
- Đoạn thoại: Đoạn thoại được xây dựng trên cơ sở các cặp thoại liên kết
chặt chẽ với nhau về nội dung (chủ đề) về tính duy nhất của đích. Đoại thoại
ngắn nhất chỉ gồm một cặp thoại. Đoạn thoại lớn nhất không thể quy định số
cặp thoại. Tùy theo vị trí của đoạn thoại, ta có đoạn thoại mở đầu hay kết thúc
hoặc các đoạn thoại phát triển nội dung.
Đoạn thoại mở đầu có chức năng thực hiện sự thương lượng giữa các
thành viên để cuộc hội thoại có thể bắt đầu (thường có nội dung làm quen,
thống nhất đề tài hội thoại,…). Nhiều đoạn thoại mở đầu phải sử dụng nghi
thức lời nói để thể hiện sự văn minh trong ứng xử như cách chào hỏi mở đầu
các cuộc gặp.
Tùy theo đề tài cuộc trò chuyện, các cuộc thoại có thể gồm một vài đoạn
thoại phát triển nội dung đề tài cuộc thoại. Tiêu chí để phân biệt các đoạn thoại
này là sự kết thúc các tình huống GT nhỏ trong một tình huống GT lớn hay
giải quyết xong một vấn đề cụ thể ở tình huống GT nhỏ hay sự thay đổi các
nhân vật HT.
Đoạn thoại kết thúc cuộc thoại có chức năng đóng cuộc thoại. Giống
như đoạn thoại mở đầu, đoạn thoại kết thúc nhiều lúc cũng sử dụng các nghi
thức lời nói, rõ nhất là các đoạn kết thúc hội nghị, hội thảo, cuộc tranh luận,
thảo luận.
- Cặp thoại: Mỗi cặp thoại tối thiểu chỉ gồm một lời trao (lời dẫn nhập)
và một lời đáp (lời hồi đáp). Quy luật thông thường là trao gì, đáp nấy. Tuy
nhiên trong thực tế, cùng một lời trao có thể có nhiều lời đáp vì mỗi lời đáp lại
phù hợp với nhiều tình huống HT cụ thể. Vì thế quy luật trên chỉ có thể thực
hiện khi gắn với các tình huống giao tiếp cụ thể.
1.1.3.4. Các quy tắc hội thoại
bản thân vì có thể sẽ khiến cho người nghe khó chịu.
- Quy tắc cộng tác: Cộng tác HT có nghĩa là mỗi người tham gia HT
cần có sự cộng tác với nhau trong suốt quá trình HT về các mặt: nội dung, hình
thức và quan hệ HT. Theo H.P.Grice, quy tắc cộng tác có các phương châm
sau:
+ Phương châm về lượng: Không nên nói quá ít hoặc quá nhiều những
điều không đúng với đích cuộc thoại. Nếu nói quá nhiều sẽ làm người nghe
chóng mệt mỏi dẫn đến lơ đãng, không còn chú ý đến cuộc thoại
+ Phương châm về chất: Không nên nói những điều không có căn cứ
chắc chắn mình không tin lắm. Khi có vấn đề gì đó chưa rõ, chưa xác định thì
nên có sự tìm hiểu, kiểm tra lại thông tin hoặc tra cứu lại cẩn thận.
+ Phương châm về cách thức: Nói một cách rõ ràng, mạch lạc có hệ
thống và có tính lôgic chặt chẽ để người nghe dễ nhận ra ý mà mình định nói.
+ Phương châm về quan hệ: Cần trình bày sao cho câu chuyện của mình
có quan hệ với câu chuyện đang diễn ra.
1.1.3.5. Các yếu tố kèm lời và phi lời
Phương tiện chủ yếu để con người tham gia HT là lời nói. Nhờ lời nói,
khi HT mọi người có thể trao đổi thông tin, bày tỏ cảm xúc, tác động tư tưởng
tình cảm và hành động của nhau. Nhưng phương tiện HT không chỉ có thế,
ngoài lời nói chiếm vị trí quan trọng bậc nhất còn có yếu tố kèm lời và phi lời.
- Yếu tố kèm lời là các yếu tố gắn liền với lời nói, đi kèm cùng với lời
nói như ngữ điệu, trọng âm, cường độ, độ dài,…các yếu tố này có vai trò biểu
nghĩa rất rõ, đặc biệt là biểu nghĩa ngữ dụng.
- Yếu tố phi lời là những yếu tố không thuộc lời nói nhưng diễn ra song
song với lời nói thường được dùng trong HT mặt đối mặt như cử chỉ, vẻ mặt,
ánh mắt, tư thế cơ thể (lắc đầu, nhún vai…). Sự thay đổi khoảng cách không
gian (nhích laị gần hơn hay xa hơn, ) sự tiếp xúc của cơ thể ( ôm ấp, vỗ vai,
bắt tay) hay định hướng của cơ thể (quay mặt, quay ngoắt bỏ đi,…), các phản
ứng của người HT (huýt sáo, xô ghế, đạp bàn, ). Ngoài ra nhiều yếu tố khác
nếu được chuẩn bị với ý thức làm ảnh hưởng đến đối tác trong đối thoại cũng