LỜI CẢM ƠN
Là một giáo viên Tiểu học trong tương lai bên cạnh việc học tập để có kiến
thức chuyên môn sâu sắc, tôi đã không ngừng tìm hiểu, học hỏi nhằm tích luỹ kinh
nghiệm cho bản thân phục vụ tốt cho công tác giảng dạy sau này. Chính vì vậy, thực
hiện đề tài khoá luận là một công việc hết sức cần thiết và bổ ích. Đối với tôi đây
thực sự là những tháng ngày quý giá và có ý nghĩa. Khoá luận tốt nghiệp là bước
cuối cùng đánh dấu sự trưởng thành của một sinh viên ở giảng đường để trở thành
cử nhân. Trong quá trình thực hiện và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này, ngoài
sự nỗ lực, cố gắng của bản thân còn nhờ sự quan tâm giúp đỡ, hỗ trợ động viên từ
gia đình, quý thầy cô và các bạn. Sau đây em xin gửi lời cảm ơn sắc đến.
Ban giám hiệu nhà trường, quý thầy cô giáo trường Đại học Quảng Bình, các
thầy cô trong khoa Sư phạm Tiểu học-Mầm non đã quan tâm, tận tình dạy bảo trong
suốt thời gian học tập tại trường.
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS.Nguyễn Thị Nga, người đã
tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu khoá
luận.
Dù có nhiều cố gắng nhưng đề tài chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót,
tôi rất mong nhận được sự chỉ dẫn và góp ý của quý thầy cô giáo cùng các bạn để đề
tài được hoàn thiện hơn.
Sau cùng, tôi xin kính chúc quý thầy cô dồi dào sức khoẻ để tiếp tục thực hiện
sứ mệnh cao đẹp của mình là truyền đạt kiến thức cho thế hệ mai sau.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Đồng Hới, tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Lê Thị Thu Hương
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng
dẫn của TS.Nguyễn Thị Nga, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong khoá luận
là trung thực, khách quan và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào
1.2.3 Khảo sát thực trạng việc dạy - học phân môn Luyện từ và câu lớp 3 tại trường
tiểu học Đồng Phú – Đồng Hới – Quảng Bình ......................................................... 19
CHƯƠNG II: XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP NÂNG CAO VỀ TỪ VÀ CÂU
CHO HỌC SINH LỚP 3 TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỒNG PHÚ ............................... 25
2.1 Hệ thống hoá các dạng bài tập về từ và câu trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp
3
............................................................................................................................ 25
2.1.1. Hệ thống hoá các dạng bài tập ........................................................................ 25
2.1.2.Nhận xét hệ thống bài tập trong sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học phân môn
LTVC lớp 3............................................................................................................... 27
2.2 Xây dựng hệ thống bài tập nâng cao về từ và câu cho học sinh lớp 3 ............... 28
2.2.1 Mục đích xây dựng hệ thống bài tập ............................................................... 28
2.2.2 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập ............................................................ 29
2.3. Một số cách xây dựng bài tập ............................................................................ 31
2.3.1. Bài tập về từ theo từng chủ điểm .................................................................... 31
2.3.2. Bài tập về kiểu câu Ai là gì? Ai làm gì? Ai thế nào? ..................................... 46
2.3.3. Bài tập đặt và trả lời câu hỏi Khi nào? Ở dâu? Vì sao? Để làm gì? Bằng gì? 51
CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM........................................................... 59
3.1. Mục đích thực nghiệm ....................................................................................... 59
3.2. Khu vực và địa bàn thực nghiệm ....................................................................... 59
3.3. Kế hoạch thực nghiệm ....................................................................................... 59
3.3.1. Tiến trình thực nghiệm ................................................................................... 59
3.3.2. Nội dung thực nghiệm .................................................................................... 60
3.3.3.Phương pháp thực nghiệm sư phạm ................................................................ 71
3.4. Tiến hành thực nghiệm ...................................................................................... 71
3.5. Kiểm tra và đánh giá kết quả thực nghiệm ........................................................ 71
Nhà xuất bản
Tài liệu số 15 trang 9
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong xu thế phát triển toàn cầu như hiện nay, việc phát triển con người toàn
diện là việc thiết yếu. Là người Việt Nam sử dụng thuần thục ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ
là việc thiết thực. Môn Tiếng Việt ở các cấp học nói chung, ở tiểu học nói riêng,
phân môn luyện từ và câu giúp học sinh hình thành và phát triển các kỹ năng sử
dụng tiếng việt. Môn Tiếng Việt tập trung thể hiện 4 kỹ năng (nghe, nói, đọc, viết).
Đây là những kỹ năng quan trọng để học sinh học tập và giao tiếp trong các môi
trường đồng thời là cơ sở để học sinh tiếp thu và học tốt các môn học khác ở lớp
trên. Qua các bài tập về từ, câu học sinh được mở rộng tăng cường các kỹ năng
dùng từ, câu trong hoạt động giao tiếp, học tập.
Theo cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói : “Trong ngôn ngữ thì từ quan
trọng nhất, rồi đến câu sau đó đến văn”. Cho nên dạy từ và câu là rất cần thiết. Khi
từ và câu được trang bị đầy đủ thì mới tạo tiền đề cho văn hay, giao tiếp tốt. Bởi
muốn viết được bài văn hay, giao tiếp tốt thì học sinh phải có vốn từ, hiểu được từ
và từ đó chuyển thành câu. Chính vì vậy từ và câu luôn song hành với nhau và đều
quan trọng như nhau.
Từ là một đơn vị cơ bản của hệ thống ngôn ngữ. Muốn nắm được một ngôn
ngữ nào đó thì đầu tiên phải nắm được vốn từ. Nếu không làm chủ được vốn từ của
một ngôn ngữ thì không thể sử dụng ngôn ngữ đó như một công cụ để học tập và
giao tiếp. Ngoài ra vốn từ ngữ của một con người càng giàu bao nhiêu thì khả năng
lựa chọn từ ngữ của người đó càng lớn, khả năng diễn đạt của người đó càng chính
xác, tinh tế bấy nhiêu. Vì vậy, dạy luyện từ cho học sinh tiểu học là phải làm giàu
vốn từ ngữ cho học sinh phải chú trọng số lượng từ, tính đa dạng và tính năng động
của từ...
Tuy nhiên từ không phải là đơn vị trực tiếp sử dụng trong giao tiếp. Muốn
với phạm vi, mục đích nghiên cứu của đề tài, tôi xin điểm qua lịch sử vấn đề dạy
học từ và câu ở Tiểu học.
Có thể dẫn ra một số công trình tiêu biểu:
* Nguyễn Minh Thuyết, Hỏi - đáp về dạy học Tiếng Việt 3, NXB GD, 2004.
Trong cuốn sách này tác giả Nguyễn Minh Thuyết đã đề cập đến nhiều vấn đề xoay
quanh phân môn Luyện từ và câu thông qua hệ thống câu hỏi và câu trả lời. Đặc
biệt, tác giả đã đưa ra một số kiểu bài tập rèn luyện về từ, câu ở lớp 3, kèm theo
hướng dẫn cách dạy các kiểu bài đó.
2
Đóng góp của công trình này là đã giải đáp được một số nội dung rong chương
trình Tiếng Việt 3 mà nhiều giáo viên còn băn khoăn, thắc mắc. Tuy nhiên, những
bài tập đưa ra làm ví dụ minh họa ở đây đều được lấy ra từ sách giáo khoa Tiếng
Việt 3 nên đều là những bài tập quen thuộc với cả giáo viên và học sinh, và chưa có
tính hệ thống.
* Bùi Minh Toán, Viết Hùng, Luyện từ và câu Tiếng Việt, NXB Đại học Sư
phạm, 2005.
Cuốn sách này gồm 2 phần: Phần 1 trình bày: những điểm cần lưu ý về Luyện
từ và câu ở sách Tiếng Việt lớp 3, Phần 2 trình bày: gợi ý làm bài tập và các bài tập
bổ trợ.
Đây là cuốn sách tham khảo cho giáo viên và học sinh khi dạy phân môn
Luyện từ và câu trong sách Tiếng Việt 3. Cuốn sách này đã gợi ý được cách giải
những bài tập trong chương trình học một cách tương đối rõ ràng dễ hiểu. Đặc biệt
cuốn sách này đã đưa thêm được một hệ thống hỗ trợ cho từng bài học để giáo viên
có thể dùng trong giờ dạy, khiến tiết học thêm sinh động và ít lệ thuộc vào sách giáo
khoa hơn. Song các bài tập được trình bày cũng chưa thực sự có tính hệ thống.
*Các công trình nghiên cứu chính về các kiểu câu
- Diệp Quang Ban (2004), Ngữ pháp Tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội.
- Diệp Quang Ban (2006), Ngữ pháp Việt Nam, NXB Giáo Dục, Hà Nội.
bài tập chưa phong phú đa dạng. Đặc biệt chưa có một công trình nghiên cứu nào
xây dựng được hệ thống bài tập nâng cao dưới nhiều kiểu dạng bài tập có thể làm
tài liệu tham khảo cho giáo viên và học sinh. Từ nhu cầu thực tiễn của bản thânngười giáo viên Tiểu học tương lai và yêu cầu cung cấp kiến thức về từ và câu cho
học sinh lớp 3, tôi mạnh dạn xây dựng hệ thống bài tập nâng cao về từ và câu cho
học sinh lớp 3, dựa trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những thành tựu nghiên cứu của
người đi trước. Hệ thống bài tập trình bày trong khóa luận sẽ được sắp xếp theo trật
tự phù hợp với chương trình học, phù hợp với sự phát triển tư duy của học sinh và
đặc biệt phù hợp với phương pháp dạy – học môn Tiếng Việt nói chung và phân
môn Luyện từ và câu nói riêng.
3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tiếp thu những công trình liên quan đến đề tài. Đề tài khảo sát các
dạng bài tập ở trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 phân môn LTVC để từ đó đề
xuất xây dựng hệ thống bài tập nâng cao về từ và câu cho học sinh lớp 3, các dạng
bài tập phải mang tính sáng tạo, đảm bảo khoa học tính sư phạm đồng thời phù hợp
với mục tiêu dạy học phân môn Luyện Từ và câu.
4
4. Nhiêm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài và sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3
NXBGD.
Tìm hiểu về thực trạng dạy học từ và câu cho học sinh tiểu học thông qua phân
môn Luyện từ và câu.
Tìm hiểu một số cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài để làm căn cứ xây dựng
hệ thống bài tập nâng cao về từ và câu.
Tiến hành điều tra thực trạng dạy và học luyện từ và câu tại trường tiểu học
Đồng Phú để thu thập kết quả đánh giá bước đầu về thực tế dạy học các dạng bài tập
về từ và câu thông qua phân môn luyện từ và câu.
Xây dựng hệ thống bài tập nâng cao về từ và câu cho học sinh lớp 3 nhằm
nâng cao hiệu quả dạy và học phân môn LTVC.
Việc nghiên cứu đề tài góp phần:
- Làm sáng tỏ, cụ thể hóa lí luận về dạy học phân môn LTVC.
- Tìm hiểu về thực trạng dạy học từ, câu cho học sinh tiểu học qua phân môn
Luyện từ và câu thông qua hệ thống bài tập.
- Xây dựng hệ thống bài tập nâng cao về từ và câu cho học sinh lớp 3
- Là tài liệu tham khảo cho học sinh và giáo viên trong quá trình dạy và học
phân môn LTVC.
8. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung khoá luận được
triển khai làm ba chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài
Chương 2: Xây dựng hệ thống bài tập nâng cao về từ và câu cho học sinh lớp
3 trường Tiểu học Đồng Phú-Đồng Hới-Quảng Bình.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
6
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1.1 Từ là gì?
Khi phân tích một lời nói bất kì, chúng ta nhận thấy trong lời nói luôn luôn tồn
tại các loại đơn vị từ thấp đến cao: âm (âm vị), tiếng (hình vị), từ, mệnh đề, câu.
Các loại đơn vị ấy khác nhau về cấp độ và chức năng. Về cấp độ: Âm vị thuộc cấp
độ ngữ âm, hình vị thuộc cấp độ hình thái, từ thuộc cấp độ từ vựng và câu thuộc cấp
độ cú pháp. Về chức năng: âm vị có hai chức năng - phân biệt nghĩa và cấu tạo hình
vị, hình vị cũng có hai chức năng - biểu thị ý nghĩa và cấu tạo từ; từ cũng có hai
chức năng - định danh, biểu đạt khái niệm và cấu tạo câu, câu cũng có hai chức
số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định,nằm trong
những kiểu cấu tạo nhất định”. Định nghĩa này đã chỉ ra khá đầy đủ các đặc trưng
cơ bản của từ trong ngôn ngữ học đại cương nói chung, trong tiếng việt nói riêng:
- Là một trong một số âm tiết cố định, bất biến. Vì vậy trong tiếng việt vừa có
từ đơn tiết (như nhà, chạy, ăn, sông, lúa)… vừa có từ đa tiết (như giang sơn, nhỏ
nhắn, đủng đỉnh, cổ sinh vật, xã hội chủ nghĩa…)
- Mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định. Mỗi đơn vị từ luôn luôn mang
những đặc điểm ngữ pháp như khả năng kết hợp với những từ đứng trước hoặc
đứng sau nó. Chẳng hạn, từ nhà có thể kết hợp với từ đứng trước “cái nhà”, với
những từ đứng sau “nhà này”. Từ xanh có thể kết hợp với từ đứng trước “rất (hơi)
xanh”, với những từ những từ đứng sau “xanh lắm (quá)”. Từ đọc có thể kết hợp
với từ đứng trước “đã (đang, sắp, sẽ) đọc”, với từ đứng sau “đọc xong (rồi)”…Các
loại đơn vị dưới từ (hình vị) và trên từ (mệnh đề, câu ) đều không có đặc điểm này.
Mỗi đơn vị có khả năng (thực từ) hoặc không có khả năng (hư từ) đảm nhận các
chức vụ cú pháp ở trong câu như chủ ngữ, vị ngữ, định ngữ, bổ ngữ…..
- Nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định. Tiếng việt là một loại ngôn ngữ
thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập. Do đó từ trong tiếng việt vừa có cấu tạo đơn (một
hình vị), vừa có cấu tạo ghép (hai hình vị trở lên). Ví dụ: nhà, núi, sông ngòi, xã
hội, công nghiệp hóa, cổ sinh vật học,…Đối với các từ có cấu tạo ghép, nếu giữa
các từ có mối quan hệ về âm thanh thì được gọi là từ ghép âm (láy âm).Ví dụ: Xanh
8
xanh, đo đỏ, long lanh, rực rỡ, đủng đỉnh… Nếu giữa các từ có mối quan hệ về ý
nghĩa thì được gọi là từ ghép nghĩa (láy nghĩa). Ví dụ : nhà cửa, sông ngòi, ruộng
vườn, độc lập, thuyền câu, áo dài, hoa hồng….
- Ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định. Khác với các đơn vị cao hơn từ (câu,
mệnh đề) và thấp hơn từ (tiếng, hình vị), từ có chức năng định danh (gọi tên sự vật,
hiện tượng) và biểu thị khái niệm. Vì vậy, mỗi từ là một đơn vị thống nhất về nghĩa.
Ý nghĩa của từ biểu thị các mối quan hệ giữa từ, người sử dụng và hiện thực khách
Nhờ tính đồng loạt của các thành phần nói trên mà khi gặp một hình thức ngữ
âm nào đó, chúng ta có thể hiểu và kết luận rằng từ đó thuộc từ loại gì và sử dụng
nó như thế nào.
1.1.1.3. Định nghĩa về câu
Trong lịch sử ngôn ngữ học, so với các đơn vị ngôn ngữ khác như: âm vị, hình
vị, từ, cụm từ, văn bản thì câu là đơn vị được nghiên cứu sớm nhất - nó được nghiên
cứu từ thời cổ đại.
Thế kỷ III trước công nguyên, Alechxanđria định nghĩa: “Câu là sự tổng hợp
của các từ, biểu thị một tư tưởng tương đối trọn vẹn”[15,tr9].
Theo Nguyễn Thị Lương (2005), “Câu là đơn vị ngôn ngữ không có sẵn, dùng
để biểu thị sự tình, được tạo nên từ các đơn vị nhỏ hơn theo những quy tắc ngữ
pháp nhất định, có dấu hiệu hình thức riêng, được sử dụng trong giao tiếp nhằm
thực hiện một hành động nói” [15, tr19].
Nguyễn Thị Thìn (2002) quan niệm “Câu là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có
chức năng thông báo, được dung vào việc giao tiếp hằng ngày”[26,tr9].
Định nghĩa về câu của Diệp Quang Ban (2006) rất cụ thể, ngắn gọn nhưng
mang tính khái quát cao:
Câu là đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và
bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay
thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư
tưởng, tình cảm. Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ [5,
tr107].
1.1.1.4 Quan niệm về câu đúng
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về câu đúng. Nguyễn Khánh Nồng cho
rằng: Một câu đúng phải thể hiện cả hai mặt: cẩu trúc ngữ pháp và cẩu trúc ngữ
nghĩa[19,tr145].
10
Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng cho rằng một câu đúng thỏa mãn các câu
11
1.1.1.7. Khái niệm hệ thống bài tập
Là một tập hợp nhiều bài tập khác nhau được xếp thành các nhóm theo một
trình tự có chủ đích nhất định. Thông thường để đảm bảo tính khoa học về quá trình
nhận thức, hệ thống bài tập sẽ được sắp xếp theo thứ tự từ dễ đến khó, từ đơn giản
đến phức tạp, từ những kiến thức đơn lẻ đến những kiến thức tổng hợp nhằm rèn
luyện, phát triển kỹ năng cụ thể cho người học.
1.1.1.8. Hệ thống bài tập nâng cao
Hệ thống bài tập nâng cao là một tập hợp nhiều bài tập với các dạng khác
nhau, các nhóm bài tập có độ khó cao hơn so với các bài tập thông thường. Hệ
thống bài tập nâng cao đòi hỏi ở học sinh tư duy, sáng tạo hơn trong việc làm bài, từ
việc giải các bài tập cơ bản các em mới có thể giải được các bài tập nâng cao. Bài
tập nâng cao cũng được sắp xếp một cách khoa học từ bài tập nâng cao vừa cho đến
bài tập tương đối khó được sử dụng để phân loại học sinh giỏi, xuất sắc.
1.1.2. Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học
a, Chú ý của HS Tiểu học
Khái niệm chú ý: Chú ý là một trạng thái tâm lý của HS giúp các em tập trung
vào một hay một nhóm đối tượng nào đó để phản ánh các đối tượng này một cách
tốt nhất. Lứa tuổi tiểu học có hai loại chú ý: Chú ý không chủ định và chú ý có chủ
định.
Đặc điểm chú ý của HS tiểu học: Chú ý không chủ định có trước từ lúc 6 tuổi
và tiếp tục phát triển, những gì mới lạ, hấp dẫn, dễ dàng gây chú ý không chủ định
của HS. Do có sự chuyển hóa giữa hai loại này nên khi HS chú ý không chủ định,
GV đưa ra câu hỏi để hướng dẫn HS vào nội dung bài học thì chú ý không chủ định
chuyển hóa thành chú ý có chủ định. Chú ý có chủ định ở giai đoạn này được hình
thành và phát triển mạnh. Sự hình thành loại chú ý này là đáp ứng nhu cầu hoạt
động học ở giai đoạn đầu cấp, chú ý có chủ định hình thành nhưng chưa ổn định,
chưa bền vững.
là học sinh tiếp thu tri thức mới và tiến hành các thao tác với vật thật hoặc các hình
ảnh trực quan.
+ Giai đoạn 2: Tư duy trừu tượng bắt đầu chiếm ưu thế so với tư duy cụ thể,
nghĩa là học sinh tiếp thu tri thức của các môn học bằng cách tiến hành các thao tác
tư duy với ngôn ngữ, với các loại ký hiệu quy tắc.
13
1.1.3. Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 3
Lứa tuổi Tiểu học được chia thành hai giai đoạn. Giai đoạn một là học sinh lớp
1, 2, 3. Giai đoạn hai là học sinh lớp 4, 5. Giai đoạn một được xem là giai đoạn đầu
của bậc Tiểu học, giai đoạn hai là giai đoạn sau của bậc Tiểu học. Giai đoạn đầu của
bậc Tiểu học là giai đoạn mà học sinh còn thiên về tư duy cụ thể, cảm tính. Tuy vậy
học sinh lớp 3 là lớp cuối của giai đoạn đầu bậc Tiểu học vì vậy ở lứa tuổi này học
sinh đã bắt đầu chuyển dần từ tư duy cụ thể, cảm tính sang tư duy trừu tượng, khái
quát hơn.
Bên cạnh đó, trí tưởng tượng của HS lớp 3 đã được hình thành và phát triển
thông qua các hoạt động học tập. Tưởng tượng tái tạo từng bước được hoàn thiện
gắn liền với những hình tượng đã tri giác trước hoặc tạo ra những hình tượng phù
hợp với những điều mô tả, sơ đồ, hình vẽ… Như vậy biểu tượng của tưởng tượng
dần trở nên hiện thực hơn. Tưởng tượng của HS đã mất dần và thoát khỏi ảnh
hưởng của ấn tượng trực tiếp. Tưởng tượng của HS gắn liền với sự phát triển ngôn
ngữ và tư duy. Trong dạy học ở Tiểu học, GV cần rèn luyện và phát triển trí tưởng
tưởng của HS thông qua việc hình thành biểu tượng. GV cần sử dụng lời nói, cử
chỉ, điệu bộ như một phương tiện trực quan. Ngôn ngữ phải chính xác, giàu nhạc
điệu, tình cảm; đặc biệt cần sử dụng đồ dùng dạy học, tài liệu dạy học phong phú,
sinh động. Điều này thêm một lần nữa khẳng định vai trò của hệ thống bài tập Tiếng
Việt trong việc góp phần hình thành và phát triển tâm lí của HS. Tuy nhiên, cùng
một lứa tuổi nhưng trẻ em lại có đặc điểm tâm lí riêng và khả năng tư duy cũng
nói của mình chỉ có thể thực hiện tốt thông qua hoạt động thực hành luyện tâp, qua
các bài tập để các em nhận biết được lỗi sai, làm thế nào cho đúng, cho phù hợp…
Do đó, việc xây dựng hệ thống bài tập nâng cao sẽ góp phần hỗ trợ giáo viên
và học sinh lớp 3 trong việc dạy và học LTVC hiệu quả hơn.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Vị trí, nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu ở Tiểu học
* Vị trí
Chương trình TV tiểu học mới đã sát nhập hai phân môn Từ ngữ và Ngữ pháp
thành phân môn Luyện từ và câu. Cơ sở của việc sát nhập này là xuất phát từ mối
quan hệ chặt chẽ giữa từ và câu trong giao tiếp đồng thời coi trọng yêu cầu thực
hành của môn học.
15
Phân môn Luyện từ và câu có vị trí quan trọng trong chương trình Tiểu học.
Trước hết Luyện từ và câu cung cấp làm giàu vốn từ cho HS, đặc biệt là hệ thống từ
ngữ cung cấp cho HS được gắn với chủ điểm ở từng lớp nhằm tăng cường sự hiểu
biết của HS về nhiều lĩnh vực của cuộc sống.
Phân môn Luyện từ và câu cung cấp những kiến thức sơ giản về từ và câu, rèn
kĩ năng dùng từ đặt câu, sử dụng từ ngữ trong giao tiếp hàng ngày. Chính vì vậy HS
được làm quen với Luyện từ và câu ngay từ lớp 1 và được học với tư cách là một
phân môn độc lập của môn TV từ lớp 2 đến lớp 5
* Nhiệm vụ chủ yếu của việc dạy phân môn Luyện từ và câu ở tiểu học là giúp
HS:
- Về mặt Luyện từ: Phân môn này có nhiệm vụ tổ chức cho HS thực hành
làm giàu vốn từ, cụ thể là:
+ Chính xác hoá vốn từ (dạy nghĩa từ): là giúp HS có thêm những từ mới,
những
nghĩa mới của từ đã học, thấy được tính nhiều nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ.
- Ngoài các nhiệm vụ kể trên, phân môn Luyện từ và câu phải chú trọng việc
rèn luyện tư duy, giáo dục thẩm mỹ cho HS.
1.2.2. Nội dung chương trình và sách giáo khoa Luyện từ và câu lớp 3.
* Nội dung chương trình:
- Chương trình Luyện từ và câu lớp 3 gồm 31 tiết (học kì I: 16 tiết; học kì II:
15 tiết) mỗi tuần có một tiết gồm các nội dung:
- Mở rộng vốn từ, hệ thống hóa, tích cực vốn từ theo các chủ điểm được học ở
bài tập đọc. Hình thức luyện tập mở rộng vốn từ thông qua các bài tập. Hệ thống bài
tập luyện tập mở rộng vốn từ rất đa dạng, chủ điểm mở rộng hơn lớp 2, vốn từ nhiều
hơn:
+ Bài tập tìm từ ngữ theo chủ điểm
+ Bài tập tìm hiểu, nắm nghĩa của từ
+ Bài tập quản lí, phân loại vốn từ.
- Từ loại: ôn luyện các từ chỉ sự vật, hoạt động, trạng thái, đặc điểm đã học ở lớp 2.
- Về kiểu câu: Củng cố, ôn luyện các kiểu câu ở lớp 2: Ai làm gì? Ai là gì?
Các thành phần trong câu trả lời trong câu hỏi: Ai? Là gì? Làm gì? Thế nào? Ở đâu?
Bao giờ? Như thế nào? Bằng gì? Vì sao?. Hình thức luyện tập về câu thông qua các
dạng bài tập sau:
17
+ Trả lời câu hỏi
+ Tìm bộ phận câu trả lời câu hỏi
+ Đặt câu theo mẫu, ghép các bộ phận thành câu.
+ Đặt câu hỏi cho các bộ phận câu và mở rộng câu bằng trạng ngữ, phụ ngữ
(thông qua các câu hỏi và không gọi tên trạng ngữ), giúp HS hình dung được thành
phần cấu tạo của câu để học sinh giao tiếp có định hướng.
- Về dấu câu: Ôn luyện về một số dấu câu cơ bản: Dấu chấm, dấu phẩy, dấu
chấm hỏi, dấu chấm than, học thêm về dấu hai chấm thông qua các bài tập đa dạng.
Hình thức luyện tập về dấu câu gồm các bài tập:
*Một số thông tin về trường tiểu học Đồng Phú có liên quan đến đề tài
Trường tiểu học Đồng Phú là một trường nằm ở trung tâm thành phố Đồng
Hới. Là điểm sáng về giáo dục tiểu học tỉnh Quảng Bình. Trường đã có 15 năm liên
tục nhận được cờ dẫn đầu cấp tiểu học toàn tỉnh. Nhà trường được tặng thưởng huân
chương Lao động Hạng nhất, Hạng nhì, Hạng Ba. Là đơn vị duy nhất của nghành
Giáo dục- Đào tạo tỉnh được phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động thời kì đổi
mới. Những vinh dự đó nhờ có sự quan tâm động viên thường xuyên của phòng
Giáo dục – Đào tạo Đồng Hới, các cơ quan đoàn thể địa phương.Người dân trong
phường sống bằng các nghề khác nhau có 12% làm ruộng, 45% là cán bộ nhà nước,
43% còn lại là buôn bán nhỏ, công nhân…Do điều kiện kinh tế phát triển, chất
lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao, bởi vậy vấn đề giáo dục được chú trọng
và ưu tiên bậc nhất.
Trường gồm có 33 lớp. Trong đó khối lớp 3 gồm có 7 lớp. Môn Tiếng Việt do giáo
viên chủ nhiệm trực tiếp đảm nhận.
Những thuận lợi
- Về phía nhà trường:
+ Ban Giám hiệu nhà trường quan tâm chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục
học sinh, có nhiều biện pháp hỗ trợ giáo viên trong các hoạt động sư phạm. Nhà
trường đã tổ chức được việc dạy 2 buổi/ngày.
+ Đa số giáo viên dạy khối lớp 3 đã nhiều năm nên nắm khá tốt quan điểm chỉ
đạo dạy học; có nhiều kinh nghiệm giảng dạy
+ Giáo viên tận tụy tìm luôn tìm tòi những phương pháp phù hợp với đối
tượng học sinh để giảng dạy.
19
+ Cơ sở vật chất nhà trường về cơ bản đáp ứng được yêu cầu thực hiện nhiệm
vụ giảng dạy và giáo dục của học sinh.
- Về học sinh: Các em đã dược làm quen với phân môn Luyện từ và câu ở lớp