ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG
CỦA NUÔI CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus)
TẠI TỈNH ĐỒNG THÁP
Thực hiện bởi
Đặng Thanh Sơn
Luận văn được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư Thủy Sản
Giáo viên hướng dẫn:
Nguyễn Văn Tư
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 09/2005
TÓM TẮT
Đề tài “Đánh giá tác động môi trường của nuôi cá tra tại tỉnh Đồng Tháp”
được thực hiện từ tháng 03/2006 đến tháng 05/2006 tại huyện Cao Lãnh và huyện
Châu Thành thuộc tỉnh Đồng Tháp. Khảo sát trực tiếp 17 hộ nuôi cá tra ở khu vực 1
(huyện Cao Lãnh) và 33 hộ nuôi cá tra khu vực 2 (huyện Châu Thành), chúng tôi thu
được những kết quả như sau:
-
Khu vực 1 là khu vực nuôi tập trung với nhiều hộ nuôi. Họ đều là những người
có vốn đầu tư lớn. Khu vực 2 đa số là những người mới vào nghề và là những
người tự chuyjển đổi cơ cấu từ nông nghiệp sang thủy sản.
-
ABSTRACT
The study of “Assessment environmental impacts of Tra catfish culture at
Dong Thap province” was carried out at Cao Lanh and Chau Thanh districts from
03/2006 to 05/2006. After investigating 17 households at Cao Lanh (area 1) and 33
households at Chau Thanh (area 2), finding of the study as follows:
- Famers in area 1 have had high investment; they used to culture Tra catfish
for many years and had much experience. The farmers in area 2 have just engaged in
Tra catfish culture for two years and their investment was low.
- The average pond area was more than one hectare in area 1 and less than 0,5
hectare in area 2. Most of the farmers in area 1 did not treat pond bottom mud before
discharging outside environment.
- Fish diseases frequently with serious level in area 1 compared to area 2.
-100% households agreed that water source became poorer.
- There was a complicate issue in using antibiotics. Some banned
antibiotics have been used for fish disease treatment by 62% households.
- 50% households said that fish culture associations were good operation but
26% households said that they have never joined these associations because they
haven’t received any help from them.
iii
CẢM TẠ
Chúng tôi xin chân thành gởi lời cảm ơn đến:
•
Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh.
•
Anh Huỳnh Đức Thiện – cán bộ kỹ thuật Trung tâm Giống Thủy sản tỉnh
Đồng Tháp
•
Toàn thể bạn bè trong và ngoài lớp đã tận tình giúp đỡ chúng tôi trong suốt
thời gian thực tập đề tài.
Do hạn chế về thời gian, kiến thức và năng lực còn nhiều yếu kém nên luận văn
không thể tránh được nhiều sai sót. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý
thầy cô cùng các bạn.
iv
MỤC LỤC
ĐỀ MỤC
TRANG
TRANG TỰA
TÓM TẮTii
ABSTRACT
CẢM TẠ
MỤC LỤC
DANH SÁCH BẢN ĐỒ, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ VÀ HÌNH ẢNH
DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU
i
2.2
2.2.1
2.2.2
2.2.3
2.3
2.3.1
2.3.2
2.3.3
2.3.4
2.3.5
2.3.6
2.3.7
2.3.8
2.3.9
Điều Kiện Tự Nhiên của Tỉnh Đồng Tháp
Vò trí đòa lý – đòa hình
Khí hậu
Tình Hình Kinh Tế – Xã Hội của Tỉnh Đồng Tháp
Dân số – lao động
Tình hình sử dụng đất đai
Giao thông
Vài Nét về Cá Tra
Phân loại
Phân bố
Đặc điểm hình thái, sinh lý
Đặc điểm dinh dưỡng
Đặc điểm sinh trưởng
Đặc điểm sinh sản
Lòch sử phát triển
3.1
3.2
3.2.1
3.2.2
3.3
3.3.1
3.3.2
Thời Gian – Đòa Điểm
Nội Dung và Phương Pháp Thực Hiện
Nội dung khảo sát
Phương pháp thực hiện
Phương Pháp Thu Thập và Xử Lý Số Liệu
Phương pháp thu thập số liệu
Phương pháp xử lý số liệu
13
13
13
13
13
13
14
IV
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
15
Ý thức người nuôi
15
15
18
20
21
25
27
27
27
29
32
32
33
34
36
V
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
38
5.1
5.2
Kết Luận
Đề Nghò
Bản đồ 4.2
Bản đồ hành chánh tỉnh Đồng Tháp
Khu vực nuôi cá tra xã Bình Thạnh, huyện Cao Lãnh
Khu vực nuôi cá tra xã An Nhơn, huyện Châu Thành
Sơ đồ
Nội dung
Sơ đồ 4.1
Nguyên nhân giảm chất lượng con giống
Hình
Nội dung
Hình 2.1
Hình 4.1
Hình 4.2
Hình 4.3
Hình 4.4
Hình 4.5
Hình 4.6
Hình 4.7
Hình 4.8
Nuôi cá sạch trong đăng quầng
Ao cá tra với cống ở trên
DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU
Bảng
Nội dung
Trang
Bảng 2.1
Bảng 2.2
Bảng 2.3
Bảng 2.4
Bảng 4.1
Bảng 4.2
Bảng 4.3
Bảng 4.4
Bảng 4.5
Bảng 4.6
Bảng 4.7
Bảng 4.8
Bảng 4.9
Bảng 4.10
Bảng 4.11
Bảng 4.12
Bảng 4.13
Tình hình dân số – Lao động tỉnh Đồng Tháp
Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Đồng Tháp
Thành phần thức ăn trong ruột cá tra ngoài tự nhiên
33
35
35
36
I. GIỚI THIỆU
1.1
Đặt vấn đề
Cá tra – cá basa là những đối tượng cá nước ngọt có năng suất nuôi cao nhất, có
giá trò dinh dưỡng khá cao và tiềm năng xuất khẩu lớn. Với những điều kiện thuận lợi
về tự nhiên như: nguồn nước, giống, thức ăn, khí hậu, …; về xã hội: kinh nghiệm, giao
thông, thò trường, … nên việc nuôi cá tra – cá basa ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
(ĐBSCL) trở nên phổ biến và mang lại lợi nhuận cao cho người nuôi. Tuy nhiên, việc
phát triển một cách ồ ạt, không quy hoạch cụ thể, không có sự kiểm soát chặt chẽ đã
làm cho môi trường nuôi ngày càng xấu đi, dòch bệnh lan tràn, đồng thời lợi nhuận từ
việc nuôi giảm đáng kể.
Điển hình cho những khó khăn là giai đoạn cuối năm 2005 và đầu năm 2006,
tình hình dòch bệnh diễn ra trầm trọng nhất làm hàng trăm tấn cá tra nuôi ao và nuôi
bè dọc sông Tiền và sông Hậu chết chỉ trong vòng có vài ngày. Hầu hết những mẫu cá
chết đưa đi xét nghiệm cho thấy đều có biểu hiện của bệnh mủ gan. Tình trạng dòch
bệnh diễn ra đã làm cho người nuôi điêu đứng do thua lỗ, nợ ngân hàng hàng chục tỉ
đồng.
Trước tình hình dòch bệnh ngày càng phát triển theo hướng phức tạp, Bộ Thủy
Sản đã chỉ đạo Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II phối hợp với các sở thủy sản
xây dựng, đònh hướng cho các vụ nuôi sau về: số lượng lồng bè, ao dọc hai sông; mật
độ thả, kỹ thuật, …; đề ra chính sách giúp nông dân thua lỗ vượt qua khó khăn.
Đồng Tháp là một trong số những “điểm nóng” của nghề nuôi cá tra. Mặc dù
II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1
Điều Kiện Tự Nhiên của Tỉnh Đồng Tháp
2.1.1
Vò trí đòa lý - Đòa hình
Đồng Tháp là một tỉnh thuộc Đồng Bằng Sông Cửu Long với vò trí:
- Bắc giáp Campuchia với đường biên giới dài 48,7 Km
- Nam giáp tỉnh Vónh Long
- Đông giáp tỉnh Long An và Tiền Giang
- Tây giáp tỉnh An Giang và Cần Thơ
Đòa hình chia làm hai vùng lớn: phía Bắc sông Tiền và phía Nam sông Tiền.
2.1.2 Khí hậu
2.1.2.1 Chế độ thủy văn
Chế độ thủy văn của tỉnh Đồng Tháp chòu tác động của ba yếu tố: nước lũ từ
thượng nguồn sông Mêkông, mưa nội đồng và thủy triều.
+ Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 06 năm sau: mức nước sông, kênh rạch
chòu tác động của thủy triều với biên độ triều rất lớn. Vùng phía Bắc sông Tiền biên
độ từ 0,4 đến 1,0 m. Đỉnh triều thường thấp hơn mặt ruộng từ 0,8 đến 1,5 m; đỉnh
triều dao động tùy theo cao độ từng vùng. Thời gian duy trì đỉnh triều ngắn nên mức
độ khai thác tự chảy bò giới hạn từ tháng 01 đến tháng 05.
+ Mùa lũ từ tháng 07 đến tháng 11 và cách 3 đến 5 năm lại có một trận lũ
lớn. Từ tháng 07 đến tháng 08, nước lũ vào đồng ruộng từ các cửa kênh rạch, khi vượt
qua bờ bao kênh, bờ bao ruộng với mức nước tương ứng tại Hồng Ngự là 3,5 m lũ bắt
đầu tràn vào đồng qua biên giới và gây lụt toàn bộ khu vực. Đỉnh lũ cao nhất xuất
hiện vào tháng 09 đến tháng 10. Độ ngập sâu trung bình lớn hơn 1,0 m đối với khu
vực Bắc sông Tiền và thấp hơn 1,0 m cho khu vực phía Nam sông Tiền. Trong mùa
- Thương nghiệp
- Thuỷ sản
- Nghề khác
Số lượng (người)
Tỷ trọng (%)
1.639.357
798.619
840.738
835.776
630.169
49.879
52.003
41.606
72.119
100,0
48,7
51,3
100,0
75,4
6,0
6,2
5,0
7,4
Qua bảng trên ta thấy: số người trong độ tuổi lao động là 835.776 người,
chiếm 51% dân số tỉnh. Đa số còn hoạt động trong lónh vực nông – lâm nghiệp
Tỷ lệ (%)
323.800
100,0
212.448
29.790
36.77
65,6
9,3
1,1
20.723
8.743
48.246
338
47.908
6,4
2,7
14,9
0,7
14,2
Qua bảng trên ta thấy: diện tích đất sử dụng trong nông nghiệp lớn nhất –
chiếm tỷ trọng 76%, chủ yếu sử dụng cho trồng lúa – hoa màu và cây ăn trái (xoài,
nhãn, cam). Thấp nhất là diện tích nuôi trồng thủy sản (1,1%). Tuy nhiên, vì thuỷ sản
chiều dài 2.838 km thuận lợi cho vận chuyển hàng hóa, hành khách liên tỉnh và nội
thành, đưa nước và rút nước cho đồng ruộng ... Các tuyến sông chính: sông Tiền, sông
Hậu, kênh Tân Thành – Lò Gạch, sông Sa Đéc – rạch Lấp Vò, rạch Nha Mân . . .
Ngoài ra, tỉnh còn có 2 cảng sông lớn: cảng Đồng Tháp và cảng Sa Đéc với các dòch
vụ quan trọng: đòa lý hàng hải, bốc xếp, kho hàng, giao nhận vận tải, chuyển tải cho
tàu biển Việt Nam và tàu nước ngoài.
2.3 Vài Nét về Cá Tra
2.3.1 Phân loại
Cá tra là một trong số 11 loài cá thuộc họ Pangasiidae, phân bố trong thuỷ vực
tự nhiên thuộc lưu vực sông Mêkông. Tài liệu phân loại gần đây nhất của tác giả
Rainboth (1996) (trích bởi Nguyễn Văn Khánh,1996) xếp cá tra nằm trong giống cá
tra dầu. Cá tra của ta khác hoàn toàn với cá nheo Mỹ (Ictalurus punctatus) thuộc họ
Ictaluridae.
Phân loại cá tra:
Bộ cá nheo: Siluriformes
Họ cá tra: pangasiidae
Giống cá tra dầu: Pangasianodon
Loài cá tra: Pangasianodon hypophthalmus
(Sauvage, 1878)
2.3.2 Phân bố
Cá tra phân bố ở khu vực sông Mêkông, có mặt ở bốn nước Việt Nam, Lào,
Campuchia và Thái Lan. Ở Thái Lan còn gặp cá tra ở lưu vực sông Mêklông và sông
Chao Phraya. Ở Việt Nam, do cá tra có tập tính sống di cư ngược dòng lên thượng
nguồn để sinh sản nên ít gặp cá tra trưởng thành trong tự nhiên.
-82.3.3 Đặc điểm hình thái, sinh lí
Cá tra là loài cá da trơn, thân dài, lưng xám đen, bụng màu bạc, miệng rộng,
hai đôi râu dài.
1,6
2,3
(Nguồn: Menon và Cheko, 1955; trích bởi Phạm Văn Khánh, 1996)
2.3.5
Đặc điểm sinh trưởng
Cá tra có tốc độ tăng trưởng nhanh: cá ương trong ao và sau 2 tháng đạt chiều
dài 10 – 12 cm (14 – 15 g). Trong tự nhiên đã bắt được cá nặng 18 kg, hoặc có con
dài 1,8 m. Cá có thể sống trên 20 năm trong tự nhiên. Cá nuôi trong ao sau 6 tháng đã
có thể đạt từ 0,8 - 1,2 kg/con.
-92.3.6
Đặc điểm sinh sản
Cá tra là loài di cư sinh sản ngược dòng về phía thượng lưu. Trong tự nhiên chỉ
gặp cá tra thành thục trên sông ở đòa phận của Campuchia và Thái Lan. Mùa thành
thục trong tự nhiên từ tháng 5 - 6 dương lòch. Tuổi thành thục của cá tra đực là 2 tuổi
và cá tra cái là 3 tuổi, trọng lượng cá thành thục lần đầu khoảng 2,5 – 3 kg. Cá trong
tự nhiên chỉ thành thục 1 lần/năm, cá nuôi vỗ trong ao có thể thành thục 1 – 3
lần/năm. Cá đẻ trứng dính, sức sinh sản tương đối có thể tới 135 ngàn trứng/kg cá cái.
Trứng thụ tinh sau 24 giờ nở thành cá bột và trôi về hạ nguồn.
2.3.7 Lòch sử phát triển
Cá tra là một trong các loài cá nuôi quan trọng nhất của khu vực Đông Nam
Á. Bốn nước lưu vực sông Mêkông đã có nghề nuôi cá tra truyền thống là Việt Nam,
Lào, Campuchia và Thái Lan. Ở Campuchia, sản lượng cá tra nuôi chiếm ½ tổng sản
lượng cá nuôi. Các nước như Malaysia, Indonesia đã nuôi có hiệu quả từ thập niên
Câ y thủ y sinh
13%
41%
Cá tra
Tô m cà ng xanh
6%
Nuô i nhử
Cá khá c
28%
Đồ thò 2.2 Tỷ trọng các đối tượng thủy sản tỉnh Đồng Tháp
Tổng sản lượng thuỷ sản đạt 139.000 tấn. Kim ngạch xuất khẩu đạt 63,8 triệu
USD, tăng 24,7 triệu USD. Đồng thời giải quyết việc làm cho 41.606 người.
Bảng 2.4 Thống kê diện tích và sản lượng nuôi cá tra – basa tỉnh Đồng Tháp năm
2005
Hạng mục
1/ Nuôi cá tra
- Nuôi ao
- Nuôi bè
2/ Nuôi cá basa
Diện tích
(ha)
Hiện nay, giá thành sản xuất cá tra, basa lồng bè cao nên số lồng bè đã
chuyển dần sang đối tượng khác như: cá bống tượng (Oxyeleotris marmoratus), cá
lóc (Chana striatus), …
2.3.9 Mối quan tâm phát triển nghề nuôi cá tra của tỉnh Đồng Tháp
Một trong những mối quan tâm hàng đầu của tỉnh là làm sao thiết lập được
vùng nuôi cá tra tập trung, có hệ thống cơ sở vật chất đầy đủ và đạt chất lượng. Đồng
thời, việc nuôi cá không làm ảnh hưởng đến môi trường môi trường sinh thái, chất
lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu.
Hiện nay, do yêu cầu chất lượng sản phẩm thủy sản nói chung và yêu cầu chất
lượng sản phẩm từ cá tra - basa nói riêng, khu vực ĐBSCL đã thiết lập được những
mô hình nuôi cá tra đạt tiêu chuẩn chất lượng để xuất khẩu như: nuôi cá sạch với mô
hình nuôi cá trong ao kín, nuôi cá sạch với mô hình nuôi đăng quầng. An Giang là
một tỉnh đi đầu trong việc thực hiện những mô hình này. Với mô hình nuôi cá sạch
trong ao kín, trong giai đoạn năm 2005 và nửa đầu năm 2006, An Giang đã xuất khẩu
được trên 60.000 tấn cá tra đạt tiêu chuẩn cá sạch. Ngoài ra, với mô hình nuôi cá
sạch trong ao đăng quầng, An Giang đã xuất khẩu được trên 1.000 tấn sang thò trường
Đức. Cá tra được nuôi trong mô hình nuôi sạch luôn bán với giá cao hơn cá tra nuôi
trong mô hình nuôi cá truyền thống, môi trường nước không bò ảnh hưởng nhiều,
người nuôi cá sạch được công ty chế biến ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm với giá cố
đònh nên không sợ cá rớt giá, …
- 12 -
Hình 2.1 Nuôi cá sạch trong đăng quầng
Do yêu cầu của thò trường, với sự khuyến khích của Hội nghề cá, cùng với
những kết quả khả quan của mô hình nuôi cá sạch, tỉnh Đồng Tháp đang hướng người
nuôi đến mô hình nuôi cá bền vững. Hiện nay, Trung tâm giống của tỉnh đang sản
xuất giống cá tra cho mô hình nuôi cá bền vững và bước đầu thực hiện mô hình trên
với mục tiêu đề ra cho năm 2007 là 50.000 tấn cá sạch.
Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu thu thập dựa trên phiếu điều tra có sẵn. Việc điều tra được tiến hành
ngẫu nhiên tại 2 huyện thuộc tỉnh Đồng Tháp.
- Số liệu sơ cấp: thu thập từ phỏng vấn người nuôi.
- Số liệu thứ cấp: thu thập từ Phòng Nông nghiệp huyện Châu Thành, Phòng
Nông nghiệp huyện Cao Lãnh, Cục Thống kê tỉnh Đồng Tháp, Sở Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn tỉnh Đồng Tháp.
- 14 3.3.2 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu thu thập sẽ được xử lý bằng phương pháp thống kê mô tả với phần
mềm Excel.
- 15 -
IV. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1
Phân Tích Các Yếu Tố Kỹ Thuật của Mô Hình Nuôi Cá Tra Ao Kín
4.1.1
Điều kiện ao nuôi
Trong tất cả các mô hình nuôi cá tra hiện nay (ao kín, ao lửng, đăng quầng,
lồng bè), yếu tố quan trọng nhất là vò trí khu vực nuôi. Việc chọn vò trí trong mô hình
nuôi ao đất để có được một ao nuôi thoáng, cấp thoát nước được dễ dàng, nguồn
nước sạch là điều quan trọng.
30.000 – 50.000
> 50.000
Độ sâu (m)
< 2.5
2,5 – 3
3–4
Điều kiện đất sử dụng trước khi nuôi
Đất hoang
Đất trồng cây ăn trái
Khác
Khu vực 1
Số hộ
Khu vực 2
0
2
5
10
33
0
0
0
0
13
4
về nhiệt độ. Và điều này cũng cho thấy sự suy luận của người dân là hợp lý. Bởi vì
theo lý thuyết, nếu độ sâu càng cao thì cá sẽ càng di chuyển nhiều hơn, tốn nhiều
năng lượng cho việc bắt mồi, hô hấp, … Tuy nhiên, xét theo đặc điểm sinh học và
thực tế nhận thấy, cá tra thích sống ở tầng nước sâu (Phạm Văn Khánh, 1996).
Về điều kiện sử dụng đất trước khi nuôi cá:
+ Ở khu vực 1 đa phần là đất hoang (với 13 hộ chiếm 76,5%). Vì đây là khu
vực bãi bồi mới, tính chất đất là đất phù sa, pH = 6,5 – 8,5, đất có khả năng giữ nước
tốt nên thích hợp cho nuôi cá tra. Tuy nhiên, vì đây là khu vực thuộc đất Nhà nước
nên các doanh nghiệp – hộ nuôi đều phải thuê và tự cải tạo. Đồng thời, Nhà nước
cũng đã lập dự án vùng nuôi cá tra nên các doanh nghiệp, hộ nuôi cũng được hỗ trợ
về vốn, kỹ thuật và một số điều kiện khác.
Bản đồ 4.1 Khu vực nuôi cá tra xã Bình Thạnh, huyện Cao Lãnh (khu vực 1)
+ Ở khu vực 2, đa số đất trước khi nuôi cá là đất dành cho trồng cây ăn trái. Với
lý do trồng cây ăn trái dễ bò thất mùa, giá lại không ổn đònh, đồng thời mỗi năm chỉ
thu hoạch được một tháng nên thu nhập không cao và không ổn đònh. Việc nuôi cá tra
mang lại lợi nhuận cao đã kích thích người dân chuyển đổi cơ cấu kinh tế, từ nông