VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
DƯƠNG MINH HIỀN
TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG THEO PHÁP
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – năm 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
DƯƠNG MINH HIỀN
TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG THEO PHÁP
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 838.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS. NGUYỄN NGỌC ANH
2.2. Tình hình và kết quả xét xử tội gây rối trật tự công cộng của ngành Tòa án tỉnh
Quảng Ngãi ...............................................................................................................44
2.3. Một số tồn tại, vướng mắc trong hoạt động xét xử tội gây rối trật tự công cộng
của ngành Tòa án tỉnh Quảng Ngãi ...........................................................................53
2.4. Nguyên nhân của tồn tại, vướng mắc trong hoạt động xét xử tội gây rối trật tự
công cộng của ngành Tòa án tỉnh Quảng Ngãi..........................................................59
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ XÉT XỬ TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG
CỘNG Ở TỈNH QUẢNG NGÃI ............................................................................62
3.1. Sự cần thiết và ý nghĩa của việc tiếp tục hoàn thiện các quy định của bộ luật
hình sự Việt Nam về tội gây rối trật tự công cộng ...................................................62
3.2. Hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm
2017) về tội gây rối trật tự công cộng ......................................................................64
3.3. Những giải pháp nâng cao hiệu quả xét xử tội gây rối trật tự công cộng ..........67
KẾT LUẬN ..............................................................................................................79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
Trang
Tổng số vụ án hình sự, số bị cáo đã xét xử và tổng số vụ, số bị
49
Số hiệu
Tên biểu đồ
Trang
Biểu đồ thể hiện tình hình hoạt động xét xử các vụ án hình sự
44
biểu đồ
2.1.
của ngành Tòa án tỉnh Quảng Ngãi thời gian từ 2013 - 2017
2.2.
Biểu đồ thể hiện tình hình xét xử các vụ án gây rối trật tự
45
công cộng của ngành Tòa án tỉnh Quảng Ngãi thời gian từ
2013 - 2017
2.3.
Biểu đồ thể hiện tỉ lệ xét xử các vụ án gây rối trật tự công
46
cộng và vụ án hình sự của ngành Tòa án tỉnh Quảng Ngãi
thời gian từ 2013 - 2017
khu đô thị, thị xã lớn đang là vấn đề nhức nhối của toàn xã hội, tuy loại tội phạm này
không có tính nguy hiểm cao so với các loại tội phạm khác nhưng nó có tính phổ biến,
đa dạng hình thức và có ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã
hội tạo dư luận xấu trong xã hội và gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Tội
phạm này thể hiện ở chỗ hành vi gây rối trật tự công cộng xâm phạm nghiêm trọng các
quan hệ xã hội trong lĩnh vực công cộng, gây tổn hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp
của nhà nước và công dân, hành vi này được thực hiện công khai và thường ở những
1
nơi đông người, biểu hiện ý thức coi thường kỷ cương xã hội, pháp luật của Nhà nước.
Hình thức biểu hiện của hành vi gây rối thường là hành hung, đánh lộn, đập phá, gây
lộn xộn ở nơi đông người, tụ tập đi xe máy tốc độ cao, lạng lách, đánh võng, gây huyên
náo đường phố... và ngày càng có xu hướng gia tăng, kèm theo đó là các hành vi hủy
hoại tài sản, chống người thi hành công vụ, cố ý gây thương tích, thậm chí là giết
người, v.v…
Vì vậy, để làm sáng tỏ các dấu hiệu pháp lý của tội gây rối trật tự công
cộng, phân biệt tội gây rối trật tự công cộng với một số tội phạm khác, phân
tích lịch sử hình thành và phát triển của luật hình sự Việt Nam về tội gây rối trật tự công
cộng, đánh giá thực tiễn xét xử loại tội phạm này ở tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian vừa
qua (2013-2017), trên cơ sở đó, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế trong thực tiễn, lý luận và
các nguyên nhân cơ bản, qua đó bước đầu tìm giải pháp hoàn thiện trên phương diện lập
pháp hình sự và giải pháp về mặt thực tiễn để góp phần phòng, chống tội phạm này, bảo
đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội có ý nghĩa chính trị - pháp lý và lý luận - thực tiễn
quan trọng. Đó còn là lý do để tác giả lựa chọn đề tài: "Tội gây rối trật tự công cộng theo
pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi " làm đề tài luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thời gian qua ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu, phân tích về
các tội xâm phạm trật tự công cộng nói chung và tội phạm gây rối trật tự công
Để hoàn thành việc nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu
khoa học như: Lịch sử; phân tích, tổng hợp; thống kê; so sánh; diễn giải... để làm
sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn là công trình nghiên cứu vấn đề áp dụng pháp luật hình sự trong
hoạt động tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng. Những kết quả nghiên cứu góp
phần bổ sung và phát triển lý luận phục vụ yêu cầu thực tiễn của việc không ngừng
nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật trong hoạt động tố tụng của các cơ quan tư
pháp trong công cuộc cải cách tư pháp hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể sử dụng là tài liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng
dạy hoặc làm tài liệu tham khảo cho các bộ môn Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự,
tội phạm học… Mặt khác, nội dung luận văn cũng có thể góp phần xây dựng kỹ
năng nghề nghiệp của những người tiến hành tố tụng trong việc áp dụng pháp luật
trước yêu cầu mới của tình hình hiện nay.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn được
kết cấu thành 3 chương:
5
Chương 1. Một số vấn đề chung về tội gây rối trật tự công cộng theo pháp
luật hình sự Việt Nam.
Chương 2. Tội gây rối trật tự công cộng theo quy định Bộ luật hình sự và
thực tiễn xét xử tại tỉnh Quảng Ngãi.
Chương 3. Một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả xét xử tội gây rối trật tự công cộng ở tỉnh Quảng Ngãi.
dung bao gồm những quy định chung về trật tự, vệ sinh, văn hóa; sự tuân thủ những
quy định của pháp luật và phong tục, tập quán, sinh hoạt được mọi người thừa nhận;
tình trạng yên ổn, có trật tự, tôn trọng lẫn nhau trong lao động, sinh hoạt, nghỉ ngơi
của mọi người.
7
Như vậy, nói đến trật tự an toàn xã hội là nói đến tình trạng (trạng thái) ổn
định, có trật tự, kỷ cương của xã hội. Trật tự, kỷ cương đó được xác lập trên cơ sở
các quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành (được gọi là những quy phạm pháp
luật) và những giá trị xã hội, chuẩn mực đạo đức truyền thống được mọi người
trong xã hội thừa nhận, tôn trọng, tuân thủ và nhờ đó mà mọi người có được cuộc
sống yên ổn. Nói cách khác: Trật tự an toàn xã hội là trạng thái xã hội có trật tự, kỷ
cương, trong đó mọi người có cuộc sống yên ổn trên cơ sở các quy phạm pháp luật
và chuẩn mực đạo đức, pháp lý xác định. Công tác đảm bảo trật tự an toàn xã hội là
giữ gìn trạng thái bình yên, an toàn, có trật tư, kỷ cương của xã hội, là phòng ngừa,
phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh chống tội phạm, tệ nạn và các hành vi vi phạm pháp
luật có ảnh hưởng đến trạng thái đó.
Theo từ điển tiếng Việt thì ‘‘an toàn" được hiểu: "Yên ổn hoàn toàn không
nguy hiểm" [50, tr.26], còn "công cộng" được hiểu là "chung cho hoặc thuộc về
mọi người" [50, tr.345]. Do vậy, "an toàn công cộng" có thể hiểu là trạng thái ổn
định, hoàn toàn không có nguy hiểm đối với mọi người xung quanh hoặc an toàn xã
hội đối với mọi người.
Theo Từ điển Luật học thì trật tự công cộng là: Trạng thái ổn định, có tổ
chức, có kỷ luật ở nơi công cộng. Những nơi phục vụ lợi ích công cộng như đường
phố, quảng trường, công viên, bệnh viện, nhà hát, rạp chiếu bóng, bãi biển, khu nghỉ
mát... được tổ chức sắp xếp ngăn nắp, các quy ước chung được mọi người tôn trọng,
thực hiện nghiêm chỉnh. Quy tắc bắt buộc phải tuân theo để bảo vệ lợi ích chung
của xã hội, thể hiện toàn bộ yêu cầu cơ bản của xã hội về các mặt chính trị, kinh
phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp
pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội
chủ nghĩa [37, tr.6].
An toàn công cộng, trật tự công cộng được coi là điều kiện bảo đảm cho mọi
công dân có cơ hội tồn tại, phát triển và sử dụng tốt năng lực, cống hiến của mình
để xây dựng một xã hội văn minh, dân chủ, giàu đẹp, có cuộc sống ấm no, bình
đẳng, tiến bộ và hạnh phúc. Các hành vi xâm phạm "an toàn công cộng, trật tự công
cộng" đều gây nên những thiệt hại nhất định cho cuộc sống bình thường của công
dân và cần thiết phải bị xử lý, tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi
vi phạm mà áp dụng hình thức xử lý khác nhau từ xử phạt hành chính đến xử lý
hình sự.
Dưới góc độ khoa học, khái niệm "các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật
tự công cộng" có nhiều quan điểm khác nhau. Có tác giả quan niệm: “Các tội xâm
10
phạm an toàn, trật tự công cộng là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy
định tại Chương XXI của Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự
thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến an toàn công cộng, trật tự công
cộng, gây ra những thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe của nhân dân, gây thiệt hại
đến tài sản của Nhà nước và của cá nhân” [51,tr.401]. Quan điểm này nêu tương
đối đầy đủ nội dung, nhưng trong dấu hiệu chủ thể của nhóm tội phạm này còn chưa
nêu dấu hiệu "đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự", vì đây là một dấu hiệu hoàn toàn
khác với dấu hiệu "có năng lực trách nhiệm hình sự".
Cũng có quan niệm khác như: “Các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng
là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, xâm phạm vào những quy định của
nhà nước về an toàn, trật tự công cộng trong các lĩnh vực giao thông vận tải, phòng
cháy chữa cháy, tin học, lao động sản xuất, quản lý vũ khí, phương tiện, công cụ hỗ
trợ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ và trong những lĩnh vực khác của trật tự xã
đều căn cứ vào sự phân loại các nhóm tội phạm theo Bộ luật hình sự năm 2015
(sửa đổi, bổ sung năm 2017) (từng nhóm quan hệ xã hội mà một nhóm tội phạm
xâm phạm đến) để thống nhất chia thành các tội xâm phạm an toàn công cộng,
trật tự công cộng thành 04 nhóm chính như sau:
Nhóm thứ nhất: Các tội xâm phạm an toàn giao thông. Nhóm tội
phạm này bao gồm các hành vi phạm tội đa dạng trên các lĩnh vực về xâm
phạm đến các quy định về giao thông vận tải bao gồm 26 tội trên các loại hình giao
thông như đường sắt, đường bộ, đường thủy, đường không, hàng hải. Việc quy
định những vấn đề này nhằm bảo đảm an toàn tài sản của Nhà nước, của tổ chức,
an toàn về tính mạng, sức khỏe và tài sản của công dân, bảo đảm sự bình yên, ổn
định của xã hội khi tham gia giao thông (từ Điều 260 đến Điều 285, Bộ luật hình sự
năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)).
Nhóm thứ hai: Nhóm các tội trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng
viễn thông bao gồm các hành vi, nhóm hành vi liên quan đến an ninh mạng, an
toàn viễn thông và các hoạt động xâm phạm đến các hoạt động liên quan đến
thiết bị điện tử, tin học. Nhóm tội này bao gồm 09 tội (từ Điều 286 đến Điều
294) như: Tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần
mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật; tội phát tán chương trình tin học
gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện
tử; tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn
thông, phương tiện điện tử; tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy
tính, mạng viễn thông; tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn
thông hoặc phương tiện điện tử của người khác; tội sử dụng mạng máy tính,
mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản; tội
13
thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài
khoản ngân hàng; tội cung cấp dịch vụ trái phép trên mạng máy tính, mạng
Tóm lại, căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ
sung năm 2017) thì các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng được
chia thành 4 nhóm. Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học luật hình sự, căn cứ vào
khách thể trực tiếp bị tội phạm xâm phạm đến (có thể là an toàn công cộng, trật tự
công cộng, có thể cả tính mạng, sức khỏe, tài sản của công dân hay tài sản của tổ
chức, của Nhà nước, sự ổn định, bình yên của đời sống xã hội; xâm phạm đến trật
tự chung của xã hội, vi phạm nếp sống văn minh, quy tắc của cuộc sống xã hội chủ
nghĩa, làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường, ổn định của những nơi công cộng.
Do đó, việc làm sáng tỏ khái niệm, các dấu hiệu pháp lý hình sự và phân biệt tội gây
rối trật tự công cộng với các tội phạm khác có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan
trọng, qua đó nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này
trong xã hội, cũng như góp phần định tội danh chính xác và đúng đắn hành vi
phạm tội trên thực tế của các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án.
1.2. Khái niệm và phân biệt tội gây rối trật tự công cộng với một số tội
phạm khác trong luật hình sự Việt Nam
1.2.1. Khái niệm tội gây rối trật tự công cộng
Trước khi đưa ra được khái niệm về tội gây rối trật tự công cộng, cần xuất
phát từ cái chung nhất đó là khái niệm tội phạm. Theo quy định tại Điều 8 Bộ luật
hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) “Tội phạm là hành vi nguy hiểm
cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm
hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm
độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ
chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội,
quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích
hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã
hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.” [9, tr. 51].
Khái niệm tội phạm là một trong những khái niệm cơ bản nhất của pháp
luật hình sự, có ý nghĩa là cơ sở thống nhất cho việc xác định những tội phạm cụ
thể trong phần các tội phạm cụ thể của Bộ luật hình sự.
trạng thái xã hội lành mạnh, ổn định, có tổ chức, có kỷ luật đòi hỏi Nhà nước, các
cơ quan, tổ chức và mỗi thành viên trong xã hội phải có trách nhiệm xây dựng,
thực hiện và bảo vệ các quy tắc của trật tự sinh hoạt chung trên các lĩnh vực của
16
đời sống xã hội. Đi ngược lại điều này là xâm phạm đến an toàn công cộng, trật tự
công cộng và bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Hai là, tội gây rối trật tự công cộng là hành vi hò hét, làm náo động, phá
phách, hành hung người khác hoặc có hành vi khác làm rối loạn các hoạt động ở
những nơi công cộng, gây thiệt hại cho trật tự an toàn công cộng, gây hậu quả
nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về
tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Ba là, tội gây rối trật tự công cộng do người có đủ năng lực trách nhiệm
hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi với hình
thức cố ý trực tiếp. Người thực hiện tội gây rối trật tự công cộng không có mục
đích chống chính quyền nhân dân.
Đối với tội gây rối trật tự công cộng được quy định tại Điều 318 Bộ luật
hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) bao gồm các cấu thành cụ thể:
Thứ nhất, hành vi gây rối trật tự công cộng là hành vi xâm phạm đến an
toàn công cộng, đến các quy tắc đi lại, làm việc, sinh hoạt, vui chơi của mọi người
nơi công cộng, làm trở ngại hoạt động của các nhân viên bảo vệ nơi công cộng. Là
hành vi làm phá vỡ các quy tắc, quy phạm đã được đặt ra tại nơi công cộng có tính
bắt buộc mọi người phải tuân theo, không tuân thủ các quy định chung về trật tự,
vệ sinh, văn hóa, pháp luật, thuần phong mỹ tục, tập quán, sinh hoạt được mọi
người thừa nhận, xâm phạm đến tình trạng yên ổn, có trật tự, tôn trọng lẫn nhau
trong sinh hoạt và nghỉ ngơi của cộng đồng tại nơi công cộng. Ở dạng hành vi này,
có thể thực hiện hành vi dưới hai dạng hành động. Hành vi gây rối trật tự công
cộng được thể hiện dưới dạng hành động như tập trung đông người ở nơi công
thi hành công vụ, cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức, do người có năng lực
trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý.
Khách thể của tội phạm này là an ninh đối nội, trật tự an toàn xã hội, còn có thể là
sức khỏe, tự do thân thể của con người, hoạt động bình thường của cơ quan nhà
nước, tổ chức xã hội. Ngoài ra, mặt chủ quan của tội phạm này được thực hiện do
cố ý, người phạm tội có mục đích nhằm chống chính quyền nhân dân. Đây là dấu
hiệu bắt buộc để phân biệt tội phá rối an ninh với tội gây rối trật tự công cộng.
Như vậy, so sánh với tội gây rối trật tự công cộng cho thấy những điểm
giống nhau như sau: Khách thể chung của các tội phạm này đều xâm phạm các
quy định của Nhà nước về trật tự xã hội, an toàn xã hội, hoạt động bình thường,
ổn định của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội. Hành vi khách quan đều là những
hành vi gây rối, chống đối, cản trở. Ngoài ra, chủ thể của các tội phạm này là
18