VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN DUY PHƯƠNG
ĐIỀU TRA VỤ ÁN VI PHẠM QUY ĐỊNH
VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN DUY PHƯƠNG
ĐIỀU TRA VỤ ÁN VI PHẠM QUY ĐỊNH
VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên nghành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 838.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Bên cạnh đó, tác giả xin được gửi lời cảm ơn đến đơn vị, bạn bè, đồng
nghiệp luôn quan tâm tạo điều kiện, chia sẽ, động viên tác giả trong suốt thời
gian học tập và thực hiện Luận văn.
Mặc dù đã cố gắng trong quá trình thực hiện, nhưng Luận văn không
tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả mong nhận được sự góp ý của quý Thầy,
Cô và bạn bè, đồng nghiệp
Tác giả luận văn
Trần Duy Phương
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU TRA VỤ ÁN VI PHẠM
QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ THEO PHÁP
LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM ............................................................ 6
1.1. Lý luận chung về tội phạm vi phạm quy định về tham gia giao thông đường
bộ ............................................................................................................................ 6
1.2. Điều tra vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo pháp
luật Tố tụng hình sự Việt Nam .............................................................................11
Chương 2. THỰC TIỄN ĐIỀU TRA VỤ ÁN VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ
THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG
HÌNH SỰ VIỆT NAM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM....................34
2.1. Tình hình, đặc điểm có liên quan đến điều tra vụ án vi phạm quy định về
tham gia giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Quảng Nam ..............................34
2.2. Điều tra tội phạm vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo
pháp luật Tố tụng hình sự của lực lượng Công an tỉnh Quảng Nam ...................45
2.3. Nhận xét, đánh giá về điều tra vụ án vi phạm quy định về tham giao thông
đường bộ theo pháp luật Tố tụng hình sự của lực lượng Công an tỉnh Quảng Nam
..............................................................................................................................58
: Cảnh sát giao thông
CSND
: Cảnh sát nhân dân
ĐKPTGTĐB
: Điều khiển phương tiện giao thông đường bộ
ĐTV
: Điều tra viên
KNHT
: Khám nghiệm hiện trường
KSV
: Kiểm sát viên
TGGTĐB
: Tham gia giao thông đường bộ
TNGT
: Tai nạn giao thông
tỉnh Quảng Nam từ năm 2013 đến tháng 02 năm
38
2018
Số vụ án tai nạn giao thông đường bộ trên địa bàn
2.2.
tỉnh Quảng Nam được khởi tố điều tra từ năm 2013
38
đến tháng 02 năm 2018
Độ tuổi tội phạm VPQĐ về ĐKPTGTĐB và VPQĐ
2.3.
về TGGTĐB trên địa bàn tỉnh Quảng Nam từ 2013
39
đến tháng 02 năm 2018
Thời gian xảy ra vụ án vi phạm quy định về
2.4.
ĐKPTGTĐB và VPQĐ về TGGTĐB trên địa bàn
40
tỉnh Quảng Nam từ 2013 đến tháng 02 năm 2018
diễn biến phức tạp gây tác động xấu đến mọi mặt của đời sống xã hội, làm thiệt
hại nghiêm trọng về tính mạng, sức khỏe, tài sản của con người cũng như gây ra
những hậu quả tiêu cực khác cho xã hội. “Tai nạn giao thông, đặc biệt tai nạn giao
thông đường bộ đã gây ra những thiệt hại to lớn về người, tài sản của Nhà nước
và nhân dân, đang là vấn đề xã hội hết sức bức xúc, nghiêm trọng” [7, tr.1]
Quảng Nam là một tỉnh ven biển thuộc miền Nam Trung Bộ của nước ta,
phía Bắc giáp với thành phố Đà Nẵng và tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Nam giáp với
tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Kon Tum, phía Đông giáp với biển Đông, phía Tây tiếp
giáp với tỉnh Sêkông của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Quảng Nam nằm
trong vùng quan trọng của miền Nam Trung bộ, có tốc độ phát triển kinh tế xã hội
cao đang thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài và phát triển công nghiệp, là nơi
trung chuyển giữa hai miền Bắc - Nam của nước ta, có tuyến quốc lộ 1A đi qua
dài 85km và nhiều tuyến quan trọng khác như quốc lộ Hồ Chí Minh dài 175km;
quốc lộ 14B dài 42km; quốc lộ 14D dài 74,4km; quốc lộ 14E dài 78,4km; 18
tuyến tỉnh lộ dài 420,9km; 179 tuyến huyện lộ và nội thị dài 1.150km; đường liên
2
thôn, liên xã dài 4.230km và tuyến đường ven biển dài 125km.
Với cơ sở hạ tầng giao thông dàn trải và số lượng phương tiện giao thông
trên địa bàn tỉnh đang gia tăng với tốc độ cao như hiện nay, tình hình tai nạn giao
thông đường bộ diễn ra ngày càng phức tạp. Từ năm 2013 đến tháng 02/2018 trên
địa bàn tỉnh xảy ra tai nạn giao thông xảy ra 1389 vụ, làm chết làm chết 877
người, bị thương 1.347 người và gây thiệt hại tài sản ước tính khoảng trên 20 tỷ
đồng. Nguyên nhân gây TNGT rất đa dạng nhưng chủ yếu là do người tham gia
giao thông chiếm tỷ lệ khoảng 80%.
Để làm rõ nguyên nhân của tình trạng trên, trong những năm gần đây Công an
tỉnh Quảng Nam đã có nhiều cố gắng, triển khai nhiều biện pháp để đấu tranh phòng
chống tội phạm liên quan đến giao thông đường bộ, đã có tác dụng tích cực, góp phần
làm giảm TNGT, phát hiện xử lý được nhiều vụ phạm tội VPQĐ về điều khiển
TP. Hồ Chí Minh;
Tuy vậy, những công trình trên đều đã diễn ra cách đây khá lâu và áp dụng
các quy định theo pháp luật hình sự năm 1999. Hiện nay, việc ban hành Bộ luật
hình sự 2015, Bộ luật TTHS 2015 đã có những thay đổi về quy định tội danh này
và quy trình thực hiện điều tra vụ án hình sự cũng đã có những thay đổi nhất
định. Do đó, với nội dung đề tài “Điều tra vụ án vi phạm quy định về tham gia
giao thông thông đường bộ theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn
tỉnh Quảng Nam" là nội dung mới và phù hợp với thực tế hiện nay.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn công tác điều tra vụ án VPQĐ về
TGGTĐB theo pháp luật TTHS trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Trên cơ sở đó, đề
xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác điều tra vụ án VPQĐ về TGGTĐB
theo pháp luật TTHS trên địa bàn tỉnh.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu đề tài đề ra, cần giải quyết các nhiệm vụ cụ thể
sau:
4
+ Nghiên cứu làm rõ những vấn đề nhận thức lý luận về tội phạm VPQĐ
về TGGTĐB và điều tra vụ án VPQĐ về TGGTĐB.
+ Phân tích làm rõ thực tiễn điều tra vụ án VPQĐ về TGGTĐB theo pháp
luật TTHS trên địa bàn tỉnh Quảng Nam từ năm 2013 đến tháng 2 năm 2018 do
cơ quan CSĐT Công an tỉnh và Cơ quan điều tra Công an các huyện, thị xã,
thành phố trên địa bàn tỉnh thực hiện.
+ Dự báo tình hình tội phạm VPQĐ về TGGTĐB, đề xuất giải pháp nâng
cao hiệu quả công tác điều tra vụ án VPQĐ về TGGTĐB
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được bố cục thành 3 chương.
Chương 1. Những vấn đề lý luận về điều tra vụ án vi phạm quy định tham
gia giao thông đường bộ theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam
Chương 2. Thực tiễn điều tra vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông
đường bộ theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
Chương 3.Giải pháp nâng cao hiệu quả điều tra vụ án vi phạm quy định về
tham gia giao thông đường bộ theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực
tiễn tỉnh Quảng Nam
6
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU TRA VỤ ÁN
VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Lý luận chung về tội phạm vi phạm quy định về tham gia giao
thông đường bộ
1.1.1. Khái niệm tội phạm vi phạm quy định về tham gia giao thông giao
thông đường bộ
Từ điển Bách khoa Công an nhân dân 2005 định nghĩa: “Vi phạm pháp luật
là hành vi không tuân theo hoặc làm trái pháp luật”; từ khái niệm trên ta có thể
hiểu: vi phạm quy định (VPQĐ) tham gia giao thông đường bộ (TGGTĐB) là
hành vi không tuân theo hoặc làm trái các quy định của Luật Giao thông đường
bộ và các văn bản pháp luật trên lĩnh vực an toàn giao thông đường bộ của người
tham gia giao thông.
Vi phạm quy định về tham gia giao thông thông đường bộ là một trong
những nguyên nhân dẫn đến các vụ tai nạn giao thông (TNGT) đường bộ gây
thiệt hại về người, tài sản hoặc đe dọa gây thiệt hại về người, tài sản của cơ quan,
tổ chức và cá nhân. Qua nghiên cứu các quy định của pháp luật giao thông
tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000đ.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03
năm đến 10 năm:
a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;
b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có
nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích
thích mạnh khác;
c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;
d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao
thông;
8
đ) Làm chết 02 người;
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà
tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%trở lên;
h) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000đ.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm
đến 15 năm:
a) Làm chết 03 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà
tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;
c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.
4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ trong trường hợp có
khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại các điểm a,b,c khoản 3 Điều này
nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến
50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03
tháng đến 01 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề
1.1.2.2. Mặt khách quan của tội phạm
- Hành vi nguy hiểm cho xã hội của tội phạm thể hiện qua việc vi phạm các
quy định của Nhà nước về TTATGT đường bộ được quy định trong Luật giao
thông đường bộ và các văn bản quy phạm pháp luật về giao thông đường bộ, làm
mất TTATGT, gây ra những thiệt hại nhất định đến tính mạng, sức khỏe của con
người, tài sản của người khác, hoặc tuy chưa gây ra những thiệt hại vật chất cụ
thể nhưng có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng ngay tức
khắc nếu không được ngăn chặn kịp thời. Người phạm tội đã vi phạm các nhóm
quy định của Luật giao thông đường bộ tại điều 8, chương I, các quy định về
quy tắc giao thông tại chương II, các điều 53,56,57...chương IV, điều
58,59,60,62… chương V Luật giao thông đường bộ… [16]
Các nhóm vi phạm cụ thể như sau:
+ Vi phạm các quy định đối với đối tượng tham gia giao thông như người
10
đi bộ, người điều khiển phương tiện giao thông thô sơ, người điều khiển phương
tiện giao thông cơ giới;
+ Vi phạm các quy tắc an toàn giao thông đường bộ, như các quy định về đỗ,
dừng, tốc độ, tránh vượt, phần đường, làn đường, biển báo, tín hiệu đèn…;
+ Vi phạm các quy định về thể lệ vận tải, như: quy định về xếp hàng
hóa trên phương tiện, trọng tải của phương tiện (chở quá người, quá tải); chở
các chất cháy, chất độc, chất nổ... không có các thiết bị chuyên dụng an toàn
theo quy định;
+ Vi phạm các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn của phương tiện
giao thông như: Phương tiện không kiểm định kỹ thuật an toàn, bảo vệ môi
trường; không đảm bảo các tiêu chuẩn về đèn chiếu sáng, về điều khiển, về
phanh hãm; về động cơ, hệ thống truyền lực…;
Người thực hiện hành vi VPQĐ về TGGTĐB chỉ bị coi là tội phạm và bị
truy cứu trách nhiệm hình sự khi gây ra hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng,
gây ra thiệt hại.
Đây là dấu hiệu pháp lý đặc trưng, là cơ sở khoa học để phân biệt giữa
tội VPQĐ về TGGTĐB với một số tội khác như tội giết người, cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác, huỷ hoại hoặc cố
ý làm hư hỏng tài sản… bằng các phương tiện giao thông.
1.1.2.4. Chủ thể của tội phạm
Theo quy định tại Điều 12 BLHS năm 2015, thì chủ thể của tội phạm
này là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi từ đủ 16 tuổi
trở lên; người phạm tội thực hiện hành vi vi phạm các quy định về TGGTĐB
dưới hình thức lỗi vô ý.
1.2. Điều tra vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm điều tra vụ án vi phạm quy định về tham gia
giao thông đường bộ
1.2.1.1. Khái niệm điều tra vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông
đường bộ
Điều tra là quá trình phát hiện, tìm kiếm, thu thập thông tin, tài liệu, số liệu
12
phản ánh khách quan về bản chất của một sự vật, hiện tượng, về tổ chức, con
người. Điều tra vụ VPQĐ về TGGTĐB là hình thức điều tra công khai, dựa trên
các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Quá trình tiến hành trong những
trường hợp nhất định có thể tiến hành hoạt động điều tra trinh sát để hỗ trợ.
Điều tra theo tố tụng hình sự là hoạt động của Cơ quan điều tra và cơ quan
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm xác định tội phạm
và người đã thực hiện hành vi phạm tội, lập hồ sơ đề nghị truy tố, tìm ra nguyên
nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các
biện pháp khắc phục, phòng ngừa. Hoạt động điều tra phải tôn trọng sự thật, tiến
hành một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định
dân nhằm làm rõ tai nạn đã xảy ra, có kết luận chính xác về nguyên nhân, diễn
biến vụ TNGT, mức độ lỗi và trách nhiệm của từng người có liên quan đến vụ tai
nạn, làm cơ sở cho việc xử lý đúng người vi phạm trước pháp luật, góp phần làm
giảm TNGT đến mức thấp nhất.
Điều tra vụ án VPQĐ về TGGTĐB là hoạt động điều tra được tiến hành
theo quy định của Bộ luật TTHS nhằm phát hiện, thu thập tài liệu, chứng cứ
chứng minh tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội đối với vụ TNGT
đường bộ đã xảy ra có đủ dấu hiệu của một tội phạm được quy định trong BLHS.
Trong quá trình điều tra vụ án VPQĐ về TGGTĐB, theo quy định của Bộ
luật TTHS năm 2015, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015, Thông
tư số 76/2011/TT-BCA ngày 22/11/2011 của Bộ trưởng Bộ Công an về việc Quy
định phân công trách nhiệm và quan hệ phối hợp trong công tác điều tra, giải
quyết tai nạn giao thông của lực lượng Cảnh sát nhân dân thì lực lượng CSĐT có
thẩm quyền điều tra các vụ án xâm phạm TTATGT, trật tự công cộng, bao gồm
nhiều tội danh trong đó có tội VPQĐ về ĐKPTGTĐB (theo luật hình sự 1999)
và nay là tội VPQĐ về TGGTĐB (theo luật hình sự 2015). Theo các văn bản
trên, CSĐT được tiến hành chủ trì điều tra từ đầu đến kết khi kết thúc các vụ
TNGT đường bộ có người chết tại hiện trường, hoặc chết trên đường đi cấp cứu.
Riêng các vụ án thuộc thẩm quyền điều tra ban đầu của CSGT, thì CSĐT có
14
trách nhiệm phối hợp CSGT trong giai đoạn điều tra ban đầu và thụ lý điều tra
tiếp theo sau khi lực lượng CSGT chuyển giao hồ sơ.
Như vậy, từ kết quả nghiên cứu nêu trên có thể đưa ra khái niệm về điều tra
vụ án VPQĐ về TGGTĐB như sau:
Điều tra vụ án VPQĐ về TGGTĐB là hoạt động điều tra được tiến hành
trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được giao và theo quy định của Bộ luật TTHS
nhằm phát hiện, thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh tội phạm, người thực
hiện hành vi phạm tội đối với vụ TNGT đường bộ do VPQĐ về TGGTĐB đã xảy
khác, để đảm bảo tính pháp lý của các tài liệu, chứng cứ việc thu thập phải
tiến hành đúng trình tự, thủ tục và bằng các biện pháp điều tra theo luật định.
Quá trình đó luôn diễn ra đan xen, ràng buộc và ảnh hưởng rất lớn đến quá trình
nhận thức của chủ thể điều tra.
- Điều tra vụ án VPQĐ về TGGTĐB là một hoạt động điều tra cụ thể của
điều tra hình sự.
Đây là đặc điểm cơ bản của công tác điều tra, nó thể hiện qua việc kế thừa
những kiến thức cơ bản của khoa học điều tra hình sự, từ việc nghiên cứu đặc
tính, đặc điểm của các vụ án, xác định những vấn đề cần chứng minh làm rõ
trong quá trình điều tra cho đến việc lựa chọn để sử dụng có hiệu quả những
phương pháp, chiến thuật điều tra hình sự nhằm làm rõ sự thật vụ án theo quy
định của pháp luật.
- Điều travụ án VPQĐ về TGGTĐB đòi hỏi chủ thể điều tra phải có hiểu
biết nhất định về kỹ thuật an toàn giao thông.
Khi tiến hành điều tra các vụ án VPQĐ về TGGTĐB các chủ thể thường
phải kiểm tra đánh giá tình trạng kỹ thuật của phương tiện có liên quan và khám
nghiệm cầu, đường hầm… nhằm xác định nguyên nhân, điều kiện vụ TNGT có
liên quan đến kỹ thuật phương tiện hoặc cầu đường. Vì vậy, đòi hỏi chủ thể điều
tra ngoài việc nắm vững về pháp luật, chiến thuật và kỹ thuật điều tra tội phạm,
còn phải có sự hiểu biết nhất định về kỹ thuật an toàn giao thông. Biết phân tích,
đánh giá chính xác các yếu tố kỹ thuật của phương tiện giao thông đường bộ
16
trong các hệ thống, như: phanh hãm, chuyển hướng, gầm, động cơ, còi, đèn,
truyền động, hoặc các yếu tố kỹ thuật của cầu, đường bộ… nhằm phát hiện các
sự cố, hư hỏng đóng vai trò là nguyên nhân xảy ra tội phạm.
- Điều tra vụ án VPQĐ về TGGTĐB đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa lực
lượng CSĐT với các lực lượng CSGT, lực lượng kỹ thuật hình sự, Cảnh sát phòng
cháy chữa cháy, Cảnh sát trật tự, Cảnh sát 113, Cảnh sát khu vực…
Một là, có hay không có vụ án VPQĐ về TGGTĐB xảy ra?
Để thực hiện yêu cầu nhiệm vụ trên, đòi hỏi cán bộ thụ lý vụ án trước tiên
phải xác định hậu quả của vụ TNGT và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi
VPQĐ về TGGTĐB với những thiệt hại trong vụ TNGT. Vì đây là yếu tố rất
quan trọng để xác định quy mô tổ chức tiến hành điều tra, chủ thể tiến hành điều
tra và là cơ sở để xác định trách nhiệm đền bù dân sự hoặc truy cứu trách nhiệm
hình sự. Đây là nhiệm vụ quan trọng được tiến hành xuyên suốt trong quá trình
điều tra.
Việc chứng minh hành vi VPQĐ về TGGTĐB phải thuộc một trong năm nhóm
hành vi vi phạm TTATGT đã được phân tích ở mặt khách quan của tội phạm. Các
hành vi này đã gây ra những thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản. Trường hợp
chưa gây ra những thiệt hại vật chất cụ thể thì phải chứng minh được nó đã đặt
quan hệ xã hội cần bảo vệ trong tình trạng đặc biệt nguy hiểm như thế nào? nếu
không được ngăn chặn kịp thời thì hậu quả của vụ phạm tội chắn chắn xảy ra. Và
đặc biệt phải xác định rõ mối quan hệ nhân quả giữa hành vi VPQĐ về
TGGTĐB với những thiệt hại về vật chất xảy ra trong vụ án.
Hai là, thời gian, địa điểm xảy ra vụ án.
Trên cơ sở các dấu hiệu pháp lý để xác định có hay không có vụ án VPQĐ
về TGGTĐB xảy ra, cơ quan thụ lý điều tra phải xác định chính xác thời gian,
địa điểm xảy ra vụ án, ghi rõ ngày, giờ, tháng, năm, đoạn đường, km số, phố,
làng, xã, huyện, tỉnh và một số tình tiết khác như tình trạng đường, tổ chức giao
thông, biển báo, ánh sáng, phương tiện giao thông, thời tiết khi xảy ra tai nạn…
để làm sáng tỏ được tính chất hoạt động giao thông lúc xảy ra vụ án, như: mật độ
người, phương tiện tham gia giao thông, thời tiết, ánh sáng, chất lượng đường sá,