VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Cao Xuân Cường
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH Sự ĐỐI VỚI
CÁC TỘI XÂM PHẠM TÌNH DỤC TRẺ EM TỪ THựC TIỄN
QUẬN TÂN BÌNH- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Cao Xuân Cường
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI
CÁC TỘI XÂM PHẠM TÌNH DỤC TRẺ EM TỪ THỰC TIỄN
QUẬN TÂN BÌNH- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự Mã
số
: 8.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
PLHS
Pháp luật hình sự
TP HCM
Thành phố Hồ Chí Minh
TAND
Tòa án nhân dân
TANDTC
Tòa án nhân dân Tối cao
TNHS
Trách nhiệm hình sự
TTHS
VKSND
Tố tụng hình sự
VKSNDTC
Viện kiểm sát nhân dân Tối cao
XPTDTE
hóa, văn minh xã hội trong cộng đồng.
Quận Tân Bình là một trong những quận, huyện tại TP. Hồ Chí Minh có diện
tích 22, 39 km2, địa giới hành chính chia làm 15 Phường (từ Phường 1 đến Phường
15), mật độ dân cư đông, trong đó có số lượng lớn dân nhập cư sinh sống và làm
việc, cũng như là nơi có nhiều trung tâm thương mại và doanh nghiệp lớn, đặc biệt
5
có sân bay Quốc tế Tân Sơn Nhất, một trong những cụm cảng hàng không lớn nhất
của Việt Nam cũng như trong khu vực. Điều này góp phần thúc đẩy kinh tế của Quận
phát triển nói riêng và đóng góp vào sự phát triển của Thành phố nói chung nhưng
mặt khác cũng kéo theo nhiều loại loại tội phạm phát triển có chiều hướng gia tăng
hết sức phức tạp, đặc biệt là các loại tội phạm XPTDTE đã đặt ra cho các cơ quan Tư
pháp quận Tân Bình những nhiệm vụ nặng nề trong công tác giữ gìn an ninh chính
trị, trật tự trị an tại địa phương, nhất là trong công tác áp dụng PLHS, xét xử của
TAND Quận. Từ năm 2013 đến năm 2017, Tòa án nhân dân quận Tân Bình, thành
phố Hồ Chí Minh đã đưa ra xét xử sơ thẩm 21 vụ án XPTDTE trên tổng số 27 vụ án
được thụ lý điều tra, đạt tỷ lệ giải quyết 77,78%.
Trong thời gian qua, việc đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này của các
ngành, các cấp, các cơ quan tư pháp quận Tân Bình ngày càng được nâng cao, đạt
được kết quả nhất định do có sự đồng bộ trong hệ thống pháp luật, tuy nhiên vẫn gặp
phải những khó khăn khi thực tiễn áp dụng pháp luật còn một số vướng mắc. Việc
hạn chế, thiếu sót trong quy định của pháp luật hình sự cũng như những vướng mắc
khi áp dụng pháp luật trong thực tiễn đã gây không ít trở ngại cho các cơ quan tư
pháp Quận, để kịp thời bảo vệ những đối tượng yếu thế bị xâm hại là trẻ em. Những
quy định của các điều luật về các tội XPTDTE nói chung cũng như các điều luật cụ
thể nói riêng, khi áp dụng vẫn gặp phải những quan điểm, đường lối xử lý thiếu
thống nhất, còn tùy nghi, do cách hiểu, cách tiếp cận những quy định pháp luật hình
sự của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án còn nhiều khác biệt. Điều này, dẫn
đến việc áp dụng PLHS vào thực tế các vụ án trên địa bàn quận Tân Bình, đôi lúc
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, năm 2004 “Phòng ngừa tội phạm xâm hại trẻ
em, theo chức năng của lực lượng Cảnh sát nhân dân”, do Trần Phương Đạt làm chủ
nhiệm; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, năm 2005 “Tội phạm xâm phạm tình dục
7
trẻ em ở các tỉnh, thành phố phía Nam; thực trạng và giải pháp phòng ngừa, đấu
tranh”, do Vũ Đức Trung làm chủ nhiệm.
Để phục vụ cho việc hoàn thành đề tài luận văn, tác giả luận văn còn tham
khảo các nghiên cứu khoa học về các tội XPTDTE, trong đó có thể kể đến: Khánh
Vân (2017) “Tìm hiểu các tội xâm phạm tình dục trẻ em trong Bộ luật hình sự
2015”- Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp; Luận văn thạc sỹ năm 2001 “Thực trạng
và các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh chống tội phạm
xâm phạm tình dục trẻ em, ở nước ta hiện nay”, của tác giải Đặng Thị Thanh; Luận
văn thạc sỹ năm 2014 “Các tội xâm phạm tình dục trẻ em theo pháp luật hình sự Việt
Nam, từ thực tiễn tỉnh Bình Phước ”, của tác giải Nguyễn Vinh Huy; Luận văn thạc
sỹ năm 2014 “Các tội xâm phạm tình dục trẻ em trong Luật hình sự Việt Nam”, của
tác giải Nguyễn Tấn Thiện.
Các công trình nghiên cứu khoa học nói trên đều nghiên cứu những vấn đề về
lý luận cơ bản, lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam; thực tiễn công tác đấu tranh
phòng, chống các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em trên phạm vi cả nước hoặc một
địa bàn cụ thể và đã có những kết luận, đưa ra những kiến nghị hữu ích áp dụng vào
thực tiễn. Tuy nhiên, có thể thấy các công trình khoa học này chưa có công trình nào
nghiên cứu áp dụng PLHS đối với các tội XPTDTE trên địa bàn quận Tân Bình. Đặc
biệt, từ ngày 01/01/2018, Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), có
hiệu lực thi hành, có những thay đổi, bổ sung thêm tội mới so với Bộ luật hình sự
năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009), nhằm phù hợp với thực tiễn xã hội và các quy
phạm pháp luật khác. Do vậy, đề tài “Ảp dụng pháp luật hình sự đối với các tội xâm
phạm tình dục trẻ em từ thực tiễn quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh” là đề tài
mới, lần đầu tiên được nghiên cứu ở cấp độ luận văn thạc sĩ.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Đề tài luận văn được nghiên cứu trong phạm vi chuyên ngành
Luật hình sự và Tố tụng hình sự; khía cạnh thực tiễn của đề tài được giới hạn ở định
tội danh và quyết định hình phạt đối với các tội XPTDTE.
về địa bàn nghiên cứu: Đề tài luận văn được nghiên cứu trong phạm vi quận
Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh.
về thời gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự
đối với các tội XPTDTE, trên địa bàn quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh, giai
đoạn từ năm 2013 đến năm 2017, gồm số liệu thống kê tại Viện kiểm sát nhân dân
quận Tân Bình và 21 bản án sơ thẩm.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử
và chủ nghĩa duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về Nhà nước và pháp luật; các chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà
nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền; về chính sách hình sự; về cải cách tư pháp;
về tội phạm và áp dụng pháp luật hình sự đối với các tội xâm phạm tình dục trẻ em.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các phương
pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật hình sự như: phương pháp phân tích và tổng
hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp;
phương pháp thống kê, điều tra xã hội học... để tổng hợp các tri thức khoa học luật
hình sự và luận chứng, giải quyết những nhiệm vụ đề tài đặt ra.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu đầu tiên và có hệ thống ở cấp độ
luận văn thạc sỹ luật học về việc áp dụng pháp luật hình sự đối với các tội XPTDTE
1
1
1
phát triển tự nhiên của trẻ em về quan hệ tính giao, xâm phạm đến thân thể, sức
khỏe, danh dự và nhân phẩm của trẻ em là “xâm hại tình dục trẻ em " [45].
Do đó, khi có các hành vi xâm hại tình dục trẻ em, thì sẽ đặt ra vấn đề áp dụng
pháp luật mang tính tổ chức quyền lực Nhà nước đối với người thực hiện chúng. Cụ
thể, Nhà nước thông qua các Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều tra, truy tố,
xét xử và đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự để quy kết trách nhiệm hình
sự đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội và buộc họ phải chấp hành không
phụ thuộc vào ý thức của họ.
Trong ngôn ngữ khoa học pháp lý hình sự, có quan điểm cho rằng, nội dung
của áp dụng pháp luật hình sự nhìn chung là “Toàn bộ những việc làm, những hoạt
động, những phương thức nhằm thực hiện những yêu cầu đặt ra trong pháp luật hình
sự trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội” [34, tr.227]. Trong nội hàm của quan
điểm này, thì áp dụng pháp luật hình sự bao gồm cả việc cụ thể hóa pháp luật hình sự
bằng những văn bản có tính hướng dẫn thi hành chi tiết như: Nghị định của Chính
phủ; Thông tư liên tịch của các cơ quan chức năng trong tố tụng hình sự; hướng dẫn
của Hội đồng thẩm phán
Tòa án nhân dân Tối cao... Có thể nói đây là quan điểm phản ánh tương đối rộng nội
dung của việc áp dụng hình sự của nước ta hiện nay.
Như vậy, có thể lý luận chung nhất về áp dụng pháp luật hình sự đối với các tội
XPTDTE, là hoạt động mang tính tổ chức quyền lực Nhà nước, được thực hiện bởi
Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (CQĐT, VKS, TA) nhằm vận dụng các quy định
của pháp luật hình sự để giải quyết các vấn đề liên quan đến trách nhiệm hình sự đối
với người phạm tội XPTDTE và được thực hiện theo một trình tự đặc biệt do pháp
luật tố tụng hình sự quy định.
Xuất phát từ khái niệm trên, có thể rút ra các đặc điểm cơ bản nhất của áp dụng
pháp luật hình sự đối với các tội XPTDTE, đó là:
1
3
1.1.2. Nội dung của áp dụng pháp luật hình sự đối với các tội xâm phạm
tình dục trẻ em
Trên cơ sở khoa học pháp lý hình sự, có thể hiểu nội dung của áp dụng PLHS
đối với các tội XPTDTE là những hoạt động nhằm cụ thể hóa, vật chất hóa những
quy định của pháp luật hình sự về các hành vi xâm hại tình dục trẻ em đến mức phải
truy cứu trách nhiệm hình sự. Có thể nói một cách khái quát và đơn giản nhất là pháp
luật hình sự quy định về hành vi xâm hại tình dục trẻ em như thế nào thì việc áp
dụng PLHS sẽ cá biệt hóa những quy định đó bằng những tội danh cụ thể và đối với
chủ thể cụ thể. Nhìn chung, về mặt lý luận và thực tiễn và với bản chất vốn có của
nó, thì nội dung của áp dụng pháp luật hình sự đối với các tội XPTDTE đặt ra là giải
quyết hai vấn đề: tội phạm và hình phạt. Hai vấn đề này khi được chuyển hóa vào
thực tế áp dụng pháp luật hình sự đối với nhóm hành vi này, chính là định tội danh
cho từng trường hợp xâm hại tình dục trẻ em cụ thể và quyết định hình phạt tương
xứng đối với các tội phạm này. Đây chính là 02 nội dung cơ bản của áp dụng PLHS
đối với tội phạm nói chung, đối với các tội XPTDTE nói riêng. Ngoài ra, áp dụng
PLHS còn bao hàm cả việc miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm mức
hình phạt đã tuyên...Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sỹ luật học, tác giả luận
văn chỉ tập trung nghiên cứu 02 (hai) nội dung cơ bản của áp dụng PLHS đối với các
tội nói trên là định tội danh và quyết định hình phạt.
- Định tội danh là một trong những nội dung cơ bản của áp dụng pháp luật
hình sự đối với các tội XPTDTE. Đây là việc chủ thể áp dụng pháp luật (CQĐT,
VKS, TA) “xác định hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện có phù hợp với mô
hình pháp lý, tức cấu thành tội phạm của một tội nào đó” [35; 46, tr 10] trong các tội
XPTDTE hay không. Trách nhiệm xác định có tội hay không có tội là hoạt động của
Tòa án nhưng không có nghĩa định tội danh chỉ diễn ra trong giai đoạn xét xử, việc
Như vậy, định tội danh và quyết định hình phạt là hai nội dung cơ bản nhất của
áp dụng pháp luật hình sự đối với các tội XPTDTE, đây là hoạt động của các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền (của các cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm CQĐT, VKS,
1
5
TA), để chuyển hóa những vấn đề quy định về tội phạm, hình phạt và những quy
định liên quan của BLHS về các hành vi xâm hại tình dục trẻ em thành những quyền
và nghĩa vụ cụ thể của các chủ thể là đối tượng bị áp dụng PLHS. Bản chất pháp lý
của nó là áp dụng những quy định về tội phạm và hình phạt của BLHS để định tính
một hành vi xâm hại tình dục trẻ em là nguy hiểm cho xã hội đã xảy ra trên thực tế
có CTTP hay không và định lượng trách nhiệm pháp lý đối với người thực hiện tội
phạm.
Qua các phân tích trên cho thấy, định tội danh và quyết định hình phạt đối với
các tội phạm nói chung, định tội danh và quyết định hình phạt đối với các tội
XPTDTE nói riêng, có bản chất là hoạt động áp dụng pháp luật và luật được áp dụng
ở đây là luật nội dung- luật hình sự. Mặc dù, “trong lý luận hình sự, việc áp dụng
các quy phạm PLHS nói chung được hiểu là một quá trình được tiến hành qua các
giai đoạn nhất định như: giải thích PLHS, xác định hiệu lực của văn bản pháp luật
về không gian và thời gian, định tội danh, quyết định hình phạt, xóa án ích... " [11, tr
39]. Song, nhìn từ khía cạnh bản chất của hoạt động áp dụng pháp luật hình sự, luật
được áp dụng có thể kết luận rằng, xét đến cùng việc định tội danh và quyết định
hình phạt trong áp dụng PLHS đối với các tội phạm nói chung, tội XPTDTE nói
riêng là các nội dung cơ bản nhất. Những hoạt động khác chỉ nhằm mục đích làm
sáng tỏ hoặc hỗ trợ hai nội dung này.
1.2. Cơ sở pháp lý của áp dụng pháp luật hình sự đối với các tội xâm
phạm tình dục trẻ em
1.2.1. Cơ sở pháp lý của định tội danh các tội xâm phạm tình dục trẻ em
1.2.1.1. Các quy định thuộc Phần chung của BLHS
đạt quy định tại Điều 15; tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội quy định tại Điều
16 BLHS năm 2015; trước đây quy định tại các Điều 17, Điều 18 và Điều 19 BLHS
năm 1999). Trong các trường hợp này việc áp dụng PLHS để định tội danh các tội
XPTDTE phải căn cứ vào Phần chung của BLHS.
1
7
Như đã phân tích ở trên về các nội dung của áp dụng pháp luật hình sự đối với
các tội XPTDTE, về mặt cấu trúc tội phạm được hợp thành bởi bốn yếu tố: khách
thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan của tội phạm, vốn được gọi là bốn yếu tố
của cấu thành tội phạm. “Cấu thành tội phạm là tổng hợp những dấu hiệu chung có
tính đặc trưng cho loại tội phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự” [20, tr 55].
Cấu thành tội phạm được coi là mô hình pháp lý, là sự mô tả khái quát loại tội phạm
nhất định. Cũng như bất kỳ loại tội phạm nào, các tội XPTDTE cũng được hình
thành bởi bốn yếu tố: khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan của tội
phạm. Việc nghiên cứu các dấu hiệu pháp lý của cấu thành các tội XPTDTE có ý
nghĩa quan trọng trong việc làm sáng tỏ bản chất pháp lý của loại tội này, cho phép
xác định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đồng thời
cho phép phân biệt giữa các tội phạm này và tội phạm khác. Bởi vậy, cấu thành tội
phạm được dùng làm cơ sở pháp lý cho việc định tội danh và truy cứu trách nhiệm
hình sự cũng như làm tiền đề cho việc áp dụng pháp luật khi quyết định hình phạt.
Cũng bởi vậy, để định tội danh đúng cần làm sáng tỏ cấu thành các tội XPTDTE,
theo đó:
- Khách thể của các tội xâm phạm tình dục trẻ em: là quyền bất khả xâm phạm
về tính mạng, sức khỏe, tình dục, nhân phẩm, danh dự của trẻ em. Mặt khác, hành vi
này còn xâm hại đến sự phát triển bình thường về mặt tâm sinh lý của trẻ em và gây
ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Cũng như các hành vi phạm tội khác, để
xâm phạm đến các khách thể của các tội XPTDTE, thì người phạm tội cũng phải tác
khác (chủ thể đặc biệt). Ví dụ: Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục
với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (quy định tại Điều 145 BLHS 2015; trước
đây quy định tại Điều 115 BLHS năm 1999); tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi
(quy định tại Điều 146 BLHS 2015; trước đây quy định tại Điều 116 BLHS năm
1999) và tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (quy định tại Điều
147 BLHS 2015- điều luật mới bổ sung so với BLHS năm 1999) thì đòi hỏi chủ thể
phải là người từ đủ 18 trở lên
1
9
- Mặt chủ quan của các tội xâm phạm tình dục trẻ em: Khoa học pháp lý hình
sự chỉ ra rằng, tội phạm là một thể thống nhất giữa hai mặt khách quan và chủ quan.
Nếu như mặt khách quan là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm thì mặt chủ
quan là hoạt động, thái độ tâm lý bên trong của người phạm tội đối với hành vi nguy
hiểm cho xã hội và hậu quả do hành vi đó gây ra cho xã hội. Với ý nghĩa là một mặt
của hiện tượng thống nhất giữa các yếu tố cấu thành tội phạm, mặt chủ quan của tội
phạm không tồn tại một cách độc lập mà luôn gắn liền với mặt khách quan của tội
phạm. Nói cách khác, hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội luôn gắn liền
với biểu hiện bên ngoài của tội phạm. Mặt chủ quan của tội phạm bao gồm lỗi, mục
đích và động cơ phạm tội. Trong đó, lỗi được phản ánh trong tất cả các CTTP, còn
động cơ, mục đích phạm tội chỉ là dấu hiệu bắt buộc trong một số CTTP cơ bản, đôi
khi có thể là dấu hiệu định khung.
Nghiên cứu Phần chung của BLHS (quy định tại Điều 10 BLHS năm 2015;
trước đây quy định tại Điều 9 BLHS năm 1999) và nhóm tội phạm XPTDTE trong
BLHS cho thấy, chủ thể của các tội phạm luôn thực hiện với lỗi cố ý. Bởi vì, về lý
trí, người xâm hại tình dục trẻ em nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của
hành vi trên cơ sở nhận biết đối tượng sẽ xâm hại là quyền bất khả xâm phạm tình
dục của trẻ em, nhận biết tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội... sẽ gây
thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tình dục, danh dự, nhân phẩm trẻ em. Về ý chí,
144- Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; Điều 145- Tội
giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13
tuổi đến dưới 16 tuổi; Điều 146- Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi;
Điều 329- Tội mua dâm người dưới 18 tuổi và bổ sung mới Điều 147- Tội
sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm; Các tội danh được
khái niệm, cụ thể hóa và mở rộng khái niệm “giao cấu hoặc thực hiện
hành vi quan hệ tình dục khác” nhằm phù hợp với thực tiễn áp dụng
PLHS, vì theo quy định của BLHS năm 1999 và theo quan điểm áp dụng
PLHS trước đây thì nếu những trẻ em là nam giới bị giao cấu trái ý muốn
thì chỉ có thể xử lý được về hành vi “dâm ô với trẻ em” hoặc “làm nhục
người khác”, điều này cũng có nghĩa chủ thể thực hành của tội hiếp dâm
nói chung, hiếp dâm trẻ em nói riêng chỉ có thể là nam giới và nạn nhân
chỉ có thể là nữ giới, theo quan điểm này trẻ em là nam giới không được
bảo vệ đầy đủ. Thực tiễn cuộc sống và áp dụng PLHS cho thấy, hành vi
giao cấu không chỉ giữa nam với nữ theo truyền thống, bản năng tính
giao mà còn có cả nam với nam hoặc nữ với nữ, vì vậy sự điều chỉnh này
trong BLHS năm 2015 là đúng đắn và phù hợp. Tuy nhiên trong thực tế áp
2
1
dụng PLHS thì chế định “giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác”
chưa rõ ràng và cần có văn bản hướng dẫn cụ thể của các cơ quan chức năng để áp
dụng đúng đắn và có hiệu quả. Ngoài ra, khái niệm, cụ thể hóa lại một số quy định
như “người đã thành niên” được thay bằng “người đủ 18 tuổi trở lên”; “nhiều người,
nhiều lần” được thay bằng “từ 02 trở lên”.... để đảm bảo tính thống nhất trong cách
hiểu và quá trình áp dụng pháp luật.
Để có thể định tội danh đúng các tội cụ thể XPTDTE, ngoài những điều đã
phân tích tại tiểu mục 1.2.1.1 trên đây, cần tập trung phân tích nội dung của các cấu
Hành vi dùng vũ lực ở tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi cũng tương tự như ở
một số tội phạm khác nhưng hành vi dùng vũ lực ở đây là nhằm giao cấu hoặc thực
hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 16 tuổi (người bị tấn công), hành
vi thông thường đó là: đánh, vật lộn, xô đẩy, giữ chân tay, bóp cổ, trói, xé quần
áo...nhằm làm tê liệt sự kháng cự của bị hại để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan
hệ tình dục khác. Thực tế áp dụng PLHS cho thấy, có trường hợp nạn nhân bị bất
tỉnh do hành vi dùng vũ lực nhưng người phạm tội vẫn thực hiện hành vi giao cấu
hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác đến cùng dẫn đến nạn nhân chết thì
ngoài việc áp dụng Điều 142, cần áp dụng thêm Điều 123 BLHS năm 2015 để truy
cứu TNHS đối với người phạm tội do ý thức bỏ mặc cho hậu quả chết người xảy ra.
Hành vi đe dọa dùng vũ lực, là hành vi dùng lời nói hoặc hành động uy hiếp
tinh thần người dưới 16 tuổi, như: dọa giết, dọa đánh, dọa tạt a xít, dọa bắn... làm
cho người bị hại sợ hãi, tê liệt ý thức tạm thời để giao cấu hoặc thực hiện hành vi
quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của họ. Tuy nhiên, hành vi đe dọa này phải
đến mức đủ mạnh, đủ trấn áp tinh thần, làm tê liệt ý chí kháng cự của người bị hại để
thực hiện được hành vi xâm hại.
Hành vi lợi dụng tinh thần không thể tự vệ được của nạn nhân, là trường hợp
nạn nhân không có khả năng chống trả khi bị người khác giao cấu hoặc thực hiện
hành vi quan hệ tình dục khác là do yếu tố khách quan, như: người dưới 16 tuổi đang
23
trong tình trạng được gây mê trước khi phẫu thuật, bị ngất xỉu không do người phạm
tội tác động. Tuy nhiên, cũng có trường hợp do chính người phạm tội tạo ra để thực
hiện hành vi xâm hại tình dục, như: lén lút bỏ thuốc mê vào ly nước cho bị hại
uống...
Hành vi dùng thủ đoạn khác, là chế định mở nhằm phục vụ cho việc áp dụng
PLHS trong thực tế, do thực tiễn cuộc sống có nhiều hành vi với những thủ đoạn tinh
vi mà nếu không nhận biết được sẽ bỏ lọt tội phạm. Tuy nhiên, khi áp dụng chế định
này để “nhận dạng” tội phạm, áp dụng chính xác PLHS cần lưu ý, đánh giá các thủ
nghiêm khắc.
Một vấn đề quan trọng đặt ra là giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình
dục khác với người dưới 16 tuổi, là một trong những hành vi khách quan của tội hiếp
dâm người dưới 16 tuổi. Tuy nhiên trường hợp người phạm tội mới có hành vi dùng
vũ lực nhằm giao cấu nhưng chưa giao cấu được (chưa thực hiện được hết hành vihậu quả chưa xảy ra) thì việc áp dụng PLHS đặt ra trong trường hợp này như thế
nào. Quan điểm của tác giả luận văn là vẫn phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi,
trường hợp này là hiếp dâm chưa đạt. Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là tội có
CTTP vật chất, nội hàm điều luật đã thể hiện, hành vi giao cấu hoặc thực hiện hành
vi quan hệ tình dục khác với người dưới 16 tuổi là dấu hiệu khách quan bắt buộc của
CTTP này, cụ thể “người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình
trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc dùng thủ đoạn khác giao cấu hoặc
thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
trái với ý muốn của họ ” hoặc “giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục
khác với người dưới 13 tuổi” [16, tr 91]. Cho thấy, giao cấu hoặc thực hiện hành vi
quan hệ tình dục khác là hành vi, đồng thời cũng là hậu quả xảy ra của CTTP tội
hiếp dâm người dưới 16 tuổi, ở đây hành vi giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ
tình dục khác không là nguyên nhân của hậu quả bị giao cấu hoặc bị thực hiện hành
vi quan hệ tình dục khác mà hậu quả bị giao cấu hoặc bị thực hiện hành vi quan hệ
tình dục khác là kết quả của hành vi dùng vũ lực nhằm giao cấu hoặc thực hiện hành
vi quan hệ tình dục khác.
25