VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HOÀNG THIÊN AN
TỘI HỦY HOẠI HOẶC CỐ Ý LÀM HƯ HỎNG TÀI SẢN
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
TỈNH ĐỒNG NAI
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐẶNG QUANG PHƯƠNG
HÀ NỘI - 2018
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.................................................................................................................. 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LẬP PHÁP HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ
TỘI HỦY HOẠI HOẶC CỐ Ý LÀM HƯ HỎNG TÀI SẢN....................................5
1.1 Những vấn đề lý luận về tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản.............5
1.2.
Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội hủy hoại hoặc cố ý
làm hư
hỏng tài sản từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015.........14
Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của Bộ luật hình sự năm
2015
trong xét xử.............................................................................................................67
KẾT LUẬN.............................................................................................................76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS
: Bộ luật hình sự : Tòa án nhân dân : Thành
TAND
phố Hồ Chí Minh
TP.HCM
Bảng 2.1. Hình sự sơ thẩm (Thuộc thẩm quyền cấp tỉnh)
Bảng 2.2. Hình sự phúc thẩm
Bảng 2.3. Hình sự sơ thẩm (Thuộc thẩm quyền cấp huyện, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh)
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời gian gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách pháp luật phục vụ công
tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Nhằm cụ thể hóa và tổ chức thực hiện tốt chủ trương trên, trong thời gian
ngắn, Bộ Chính trị đã ban hành hai Nghị quyết 48-NQ/TW về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
luật Việt Nam định hướng đến 2020 và Nghị quyết 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp, mục tiêu chung là
- Giáo trình luật hình sự Việt Nam , Đại học luật Hà Nội (2011), Nhà xuất bản Công an nhân dân; Giáo
trình luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm xâm phạm sở hữu) của Khoa luật, Đại học quốc gia Hà Nội, Nhà
xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội (2002), Giáo trình sau đại học về luật hình sự Việt Nam phần các tội phạm của
GS.TS. Võ Khánh Vinh chủ biên (2014), Nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà nội...
Tuy nhiên, hiện nay công trình nghiên cứu chuyên sâu đầy đủ riêng đối với tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư
hỏng tài sản vẫn chưa nhiều. Nhất là vẫn chưa có công trình nghiên cứu về tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài
sản từ thực tiễn khoanh vùng một địa phương cụ thể. Do đó luận văn này sẽ đóng góp phần nào về việc nghiên
cứu lý luận cũng như thực tiễn đối với các hành vi cụ thể quy định trong Bộ luật hình sự đối với tội hủy hoại hoặc
cố ý làm hư hỏng tài sản trên thực tiễn địa bàn tỉnh Đồng Nai.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này là phân tích khoa học để làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận, thực
tiễn đối với tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam và các giải pháp bảo đảm
áp dụng đúng trong xét xử.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài này là :
- Nhằm làm rõ những vấn đề lý luận và pháp luật về tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo pháp
luật hình sự Việt Nam, cụ thể là làm rõ về khái niệm, dấu hiệu pháp lý và hình phạt của tội hủy hoại hoặc cố ý làm
hư hỏng tài sản;
- Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản và nghiên cứu
thực tiễn thi hành trên địa bàn tỉnh Đồng Nai ở hai cấp xét xử (Tòa án nhân dân các huyện, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh và Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai);
- Quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản và các giải pháp
bảo đảm áp dụng đúng trong xét xử.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
khoa học luật hình sự, cho các cán bộ thực tiễn đang công tác trong các cơ quan bảo vệ pháp luật như Cơ quan
điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và các sinh viên chuyên ngành luật hình sự.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và lập pháp hình sự Việt Nam về tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài
sản
3
Chương 2: Quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản và thực
tiễn thi hành tại tỉnh Đồng Nai.
Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp luật về tội hủy hoại hoặc
cố ý làm hư hỏng tài sản trong xét xử
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LẬP PHÁP HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI
HỦY HOẠI HOẶC CỐ Ý LÀM HƯ HỎNG TÀI SẢN
1.1 Những vấn đề lý luận về tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản
1.1.1
Khái niệm
Tội hủy hoại hoặc làm hư hỏng tài sản là một trong các tội xâm phạm sở hữu, vì vậy khái niệm tội hủy
hoại hoặc làm hư hỏng tài sản phải thỏa mãn khái niệm chung của các tội xâm phạm sở hữu, đồng thời phải thỏa
mãn các các dấu hiệu đặc thù nói riêng.
Khái niệm chung về các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong
Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến
quan hệ sở hữu của cơ quan, tổ chức và của công dân.
Như vậy khái niệm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản là hành vi có lỗi gây thiệt hại cho quan hệ
sở hữu và sự thiệt hại này phải phản ánh đầy đủ nhất bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và cụ
thể hành vi này là hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác.
động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế, cũng như xâm hại đến trật tự an toàn xã hội.
Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản là hành vi làm cho tài sản bị mất giá trị sử dụng hoặc làm giảm
đáng kể giá trị sử dụng của tài sản. Đây là tội phạm gồm hai hành vi độc lập nhưng lại cùng tính chất, nên nhà
làm luật quy định chung trong cùng một điều luật. Do đó, tùy từng trường hợp cụ thể mà xác định người phạm tội
hủy hoại tài sản hay chỉ cố ý làm hư hỏng tài sản. Nếu người phạm tội có cả hai hành vi hủy hoại và cố ý làm hư
hỏng tài sản thì phải định tội là hủy hoại và tội cố ý làm hư hỏng tài sản, chứ không định tội là hủy hoại hoặc cố ý
làm hư hỏng tài sản.
Tóm lại, từ phân tích căn cứ tội phạm ta có thể đưa ra khái niệm “ tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài
sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố
ý xâm phạm đến tài sản của người khác (bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng) có giá trị do Bộ luật hình sự quy định”.
1.1.2.
1.1.2.1.
Các dấu hiệu pháp lý
Khách thể của tội phạm
Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xâm hại quan hệ sở hữu. Đối tượng của tội phạm này là tài sản.
5
Tài sản theo quy định của pháp luật dân sự bao gồm: vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các
quyền về tài sản.
Tuy nhiên khi xác định tài sản là đối tượng tác động của tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản cần
lưu ý:
- Một số loại tài sản là các công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia lại không phải là đối
tượng tác động của tội này;
- Vật khi không còn là tài sản vì đã bị chủ tài sản hủy bỏ cũng sẽ không còn là đối tượng tác động của tội
phạm này;
Hành vi làm hư hỏng tài sản là hành vi làm giảm giá trị sử dụng của tài sản và giá trị ban đầu của tài sản
có thể khôi phục lại được (có thể khôi phục lại như cũ, nhưng có thể chỉ khôi phục lại được một phần).
Hành vi hủy hoại hoặc hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác có thể được thực hiện bằng bất kỳ
phương pháp nào, có thể là hành động như đập phá, đốt v.v. hoặc không hành động. Hành vi hủy hoại có thể được
thực hiện bằng phương pháp và với phương tiện hoặc công cụ phạm tội khác nhau. Người phạm tội có thể đập
phá tài sản bằng tay không hoặc có công cụ phạm tội. Họ có thể hủy hoại tài sản bằng thuốc nổ hoặc thuốc độc,
bằng hóa chất hoặc bằng cách đốt cháy. Hình thức hành vi phạm tội (hành động hay không hành động) cũng như
phương pháp, phương tiện hay công cụ phạm tội không có ý nghĩa về mặt định tội mà chỉ có thể có ý nghĩa đối
với việc quyết định hình phạt. Cụ thể, một số phương pháp hay phương tiện phạm tội được quy định là tình tiết
định khung tăng nặng của tội này.
Như vậy, hai hành vi nói trên được thực hiện dưới dạnh hành động hoặc không hành động với lỗi cố ý.
Khi xác định hành vi khách quan của tội phạm này cần chú ý: do tính chất đặc biệt nên một số loại tài sản
(công trình quan trọng về an ninh quốc gia, tài nguyên rừng v.v.) không được coi là đối tượng của hành vi hủy
hoại hoặc làm hư hỏng trong nhóm tội xâm phạm sở hữu. Hành vi hủy hoại hoặc làm hư hỏng các loại tài sản này
cấu thành tội tương ứng trong các chương khác của Bộ luật hình sự.
Tuy nhiên, trong một chừng mực nhất định thì sự phân biệt rạch ròi hành vi hủy hoại với hành vi cố ý làm
hư hỏng tài sản không phải trong trường hợp nào cũng được xác định khác nhau hoàn toàn. Sự khác biệt giữa hủy
hoại và cố ý làm hư hỏng tài sản chủ yếu căn cứ vào hậu quả của hành vi gây ra đối với tài sản, nếu tài sản bị hư
hỏng hoàn toàn không có khả năng khôi phục thì coi là hủy hoại, nếu tài sản không bị mất hẳn giá trị sử dụng và
có khả năng khôi phục lại toàn bộ hoặc một phần giá trị sử dụng thì coi là cố ý làm hư hỏng tài sản.
Đây là tội phạm gồm hai hành vi độc lập nhưng lại cùng tính chất, nên nhà làm luật quy định chung trong
cùng một điều luật. Do đó, tùy từng trường hợp cụ thể mà xác định người phạm tội hủy hoại tài sản hay chỉ cố ý
làm hư hỏng tài sản. Nếu người phạm tội có cả hai hành vi hủy hoại và cố ý làm hư hỏng tài sản thì phải định tội
là hủy hoại và cố ý làm hư hỏng tài sản, chứ không định tội là hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản.
7
- Hậu quả của tội phạm:
Cấu thành tội phạm tội này đòi hỏi có hậu quả là tài sản bị hủy hoại hoặc bị làm hư hỏng. Tội phạm được
Như vậy, hậu quả của tội phạm này gây ra chủ yếu là thiệt hại về tài sản, thiệt hại về tài sản là thước đo để
đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.
- Quan hệ nhân quả:
Quan hệ nhân quả là dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản.
Người có hành vi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về thiệt hại tài sản bị hụy hoại hoặc bị hư hỏng nếu giữa thiệt
hại này và hành vi của họ có quan hệ nhân quả với nhau, nghĩa là thiệt hại đó do chính hành vi của họ gây ra. Việc
xác định quan hệ nhân quả là cần thiết nhằm tránh trường hợp sai lầm khi buộc người không gây ra thiệt hại phải
chịu trách nhiệm hình sự.
Như vậy, đối với tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản hậu quả là dấu hiệu bắt buộc nếu chưa có hậu
quả xảy ra thì chưa cấu thành tội phạm và tội phạm này cũng không có giai đoạn phạm tội chưa đạt và chuẩn bị
phạm tội.
1.1.2.3.
Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm này là chủ thể thường, là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật
hình sự quy định.
Đối với tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản, chủ thể của tội phạm cũng tương tự như đối với các tội
xâm phạm sở hữu, đó là: những người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, có năng lực trách nhiệm hình sự,
đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 143 BLHS năm 1999 với khung
hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (khoản 1 Điều 143) và từ 02 năm đến 07 năm (khoản 2 Điều 143) thì độ tuổi
người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này vì hai khoản
này chỉ là tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, nhưng phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm
này quy định tại khoản 3, và khoản 4 của điều luật vì hai khoản này là tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc
biệt nghiêm trọng (khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự năm 1999) nhằm đảm bảo tính minh bạch, nhân đạo trong xử
lý đối với đối tượng này theo tinh thần của Hiếp pháp năm 2013 và Công ước của Liên Hiệp quốc về quyền trẻ
em.
Người phạm tội từ đủ 16 tuổi trở lên sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này theo quy định tại
khoản 1 Điều 12 BLHS năm 1999.
Mục đích của người phạm tội là mong muốn hủy hoại hoặc làm hư hỏng tài sản của người khác. Ngoài
mục đích này, người phạm tội không có mục đích nào khác và mục đích này cũng là dấu hiệu bắt buộc của cấu
thành tội phạm. Nếu người phạm tội có mục đích khác, còn việc hủy hoại tài sản hoặc làm hư hỏng tài sản chỉ là
phương pháp để đạt được mục đích khác thì không phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản mà tuỳ
trường hợp cụ thể mà người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội tương ứng.
Động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội này. Người phạm tội có thể có động cơ khác nhau như
thù tức, bất mãn, để che giấu tội phạm v.v.. Việc định tội không đòi hỏi phải xác định động cơ cụ thể. Hành vi hủy
1
0
hoại hoặc làm hư hỏng dù do động cơ nào thúc đẩy cũng đều cấu thành tội phạm. Việc xác định động cơ nhất định
có ý nghĩa trong việc xác định khung hình phạt.
1.2. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản từ
năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015
1.2.1.
Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1985
- Giai đoạn sau cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền nhân dân non trẻ mới được thành lập phải
đối mặt với nhiều khó khăn, để kịp thời điều chỉnh các quan hệ xã hội, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản
pháp luật, trong đó có những văn bản pháp luật hình sự quy định về các tội xâm phạm sở hữu công cộng và tội
xâm phạm sở hữu công dân. Bên cạnh những văn bản này, một số văn bản pháp luật của chế độ cũ cũng tạm thời
được áp dụng. Tuy nhiên, do yêu cầu tình hình thực tiễn nên việc đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm tuy
được Nhà nước quan tâm trong giai đoạn này song các chính sách hình sự của Nhà nước chủ yếu tập trung đối với
các loại tội phạm xâm hại về an ninh chính trị và các loại tội đặc biệt nghiêm trọng khác như: giết người, cướp
của, hiếp dâm..., đề cao vai trò của chế độ sở hữu tài sản trong đó đặc biệt coi trọng đến sở hữu xã hội chủ nghĩa.
Một số văn bản pháp luật hình sự quy định đối với hành vi hủy hoại tài sản
như:
- Sắc lệnh số 06-SL (15/1/1946) quy định các hành vi trộm cắp, phá hủy, dây điện thoại, điện tín;
được yêu cầu giữ vững chính quyền nhân dân, chuẩn bị cho cuộc trường kỳ kháng chiến của nhân dân ta sau này.
Tuy nhiên, việc quy định tội phạm và hình phạt trong nhiều văn bản pháp luật hình sự đã dẫn đến việc khó khăn
trong áp dụng thống nhất pháp luật.
- Giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
(1954 -1975): sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, miền Bắc được hoàn toàn giải
phóng, miền Nam tạm thời bị đế quốc Mỹ và bọn tay sai thống trị. Tình hình đó đã hình thành ở nước ta hai miền
Nam - Bắc bị chia cắt có chế độ chính trị và xã hội khác nhau. Ở miền Bắc lúc này đang tiến hành cuộc cách
mạng xã hội chủ nghĩa, tạo thành hậu phương vững mạnh cho miền Nam tiến hành cuộc cách mạng giải phóng
dân tộc, dân chủ nhằm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Pháp luật hình sự giai đoạn này thực
hiện nhiệm vụ lịch sử được đặt ra cho cả hai miền Bắc Nam. Nhà nước đã tiếp tục ban hành một số văn bản pháp
luật hình sự, một mặt chấm dứt áp dụng luật lệ của chế độ cũ, mặt khác hoàn thiện các quy định về tội phạm và
hình phạt để có cơ sở xử lý các hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu của Nhà ước và sở hữu của công dân. Chưa có
văn bản pháp luật hình sự nào ghi nhận khái niệm tội phạm và tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trong
thời kỳ này. Pháp luật hình sự thời kỳ này chủ yếu theo sát tình hình thực tế để phục vụ kịp thời các yêu cầu về
chính trị. Ngày 30/6/1955, Thông tư số 19-VHH của Bộ Tư pháp đã khẳng định việc hoàn toàn xóa bỏ mọi luật lệ
của chế độ cũ. Ngày 15/6/1956, Sắc lệnh số 267-SL ban hành đã quy định hàng loạt hành vi phạm tội bị trừng trị
để bảo vệ sự nghiệp xây dựng kinh tế và văn hoá, chống lại những âm mưu, hành động phá hoại, làm thiệt hại đến
tài sản Nhà nước, tập thể và công dân. Các Pháp lệnh ban hành vào năm 1967 và 1970 quy định một hệ thống các
tội phạm với đầy đủ tên gọi và các dấu hiệu cấu thành tội phạm, trong đó có quy định về hành vi hủy hoại hoặc
làm hư hỏng tài sản. Điều này trước tiên thể hiện sự tiến bộ trong kỹ thuật lập pháp hình sự của nước ta. Mặt
khác, nó thể hiện sự quyết tâm của Nhà nước ta trong việc trấn áp kẻ thù của chủ nghĩa xã hội, đồng thời bảo vệ
cơ sở vật chất và kỹ thuật, bảo vệ nền kinh tế kế hoạch hoá, chống mọi âm mưu và hành động phạm tội.
1
2
- Pháp lệnh số 149-LCT do Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội ban hành ngày 21/10/1970 về việc trừng trị các
tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa đã quy định về tội phạm xâm phạm sở hữu, trong đó ghi nhận Tội cố ý huỷ
tài sản xã hội chủ nghĩa và tài sản của công dân nên được quy định thành hai tội phạm khác nhau trong hai pháp
lệnh.
Mặt khác, do tính chất nền kinh tế lúc này là tập trung, bao cấp đối với toàn xã hội, tài sản của Nhà nước
được bảo vệ đặc biệt nên chính sách xử lý đối với tội cố ý hủy hoại hoặc làm hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa
nghiêm khắc hơn ở tội cố ý hủy hoại hoặc làm hư hỏng tài sản của công dân, ở tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư
hỏng tài sản của công dân có mức hình phạt cao nhất là 20 năm tù trong khi ở tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng
tài sản xã hội chủ nghĩa có mức hình phạt cao nhất và nghiêm khắc nhất là tử hình.
Nhìn chung, pháp luật hình sự của nước ta trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đã có
những bước tiến rất rõ nét xét về kỹ thuật lập pháp. Chúng ta có thể thấy, hàng loạt các khái niệm như lỗi, các giai
đoạn thực hiện tội phạm, đồng phạm...được quy định, các tội phạm xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, xâm phạm
tài sản công dân cũng được quy định cụ thể, rõ ràng, chặt chẽ.
Pháp luật hình sự ở miền Nam: dù chiến tranh diễn ra ác liệt, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà
miền Nam Việt Nam cũng đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật hình sự tuy nhiên do chiến tranh khốc
liệt nên hoạt động xây dựng pháp luật hình sự rất hạn chế.
- Giai đoạn từ sau khi thống nhất đất nước đến trước khi ban hành bộ luật hình sự 1985 : đặc điểm của
pháp luật hình sự trong thời kỳ này có đặc thù riêng do nước ta về mặt Nhà nước thì vẫn chưa thống nhất, tạm
thời tồn tại hai Nhà nước ở hai miền Bắc, Nam, mỗi Nhà nước có pháp luật riêng. Ở miền Bắc, các văn bản pháp
luật hình sự đã ban hành trước đó vẫn tiếp tục được áp dụng. Ở miền Nam, Nhà nước đã kịp thời ban hành một số
văn bản pháp luật hình sự phục vụ việc thực hiện nhiệm vụ cấp bách là trấn áp bọn phản cách mạng và các tội
phạm khác, bảo vệ vững chắc an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Ngày 15/3/1976, Nhà nước Cộng hoà
miền Nam Việt Nam đã ban hành một số văn bản pháp luật hình sự, trong đó có ban hành Sắc luật số 03/SL-76,
quy định về các tội xâm phạm sở hữu nói chung và tội hủy hoại hoặc làm hư hỏng tài sản nói riêng.
Điều 4: Sắc luật số 03-SL/76, quy định "Tội xâm phạm đến tài sản công cộng” trong đó có quy định ”Tài
sản công cộng bao gồm tài sản của Nhà nước và của Hợp tác xã, của các tổ chức xã hội và của tập thể nhân dân.
Tài sản công cộng là thiêng liêng, tuyệt đối không ai được xâm phạm”.[10,Tr.1]
Tuy nhiên, so với các Pháp lệnh, thì các quy định của Sắc luật vì muốn bảo đảm yêu cầu ngắn gọn cho nên
xã hội chủ nghĩa tại Điều 138 (Tội hủy hoại tài sản xã hội chủ nghĩa) và Chương XIV về các tội xâm phạm sở hữu
của công dân tại Điều 160 (Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của công dân).
Về cơ bản hai tội "Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa" và tội "Hủy hoại hoặc cố ý
làm hư hỏng của công dân" vẫn tiếp tục được quy định với nội dung như hai pháp lệnh ngày 21/10/1970 và được
thay đổi phù hợp với tình hình diễn biến mới của tội phạm.[17]
Tội cố ý làm hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa có tính chất gần giống như tội hủy hoại tài sản xã hội chủ
nghĩa, khác nhau ở mức độ làm mất giá trị sử dụng của tài sản. Ở tội hủy hoại hành vi khách quan là hành vi hủy
hoại, hành vi này làm giá trị sử dụng của tài sản bị mất ở mức độ không có hoặc khó có điều kiện khôi phục lại
được, hậu quả là thiệt hại tài sản xã hội chủ nghĩa bị hủy hoại; còn ở tội cố ý làm hư hỏng thì hành vi khách quan
là hành vi làm hư hỏng, hành vi này làm giá trị sử dụng của tài sản bị mất ở mức độ còn điều kiện khôi phục lại
1
5
được, hậu quả là thiệt hại tài sản xã hội chủ nghĩa bị hư hỏng. Do đó, hai tội này được quy định cùng trong một
điều luật (Điều 138 BLHS năm 1985) và có cùng những khung hình phạt giống nhau. Tương tự tội cố ý làm hư
hỏng tài sản của công dân và tội hủy hoại tài sản của công dân cũng được quy định trong cùng một điều luật với
những khung hình phạt giống nhau (Điều 160 BLHS năm 1985).
Cả hai tội quy định tại Điều 138 và Điều 160 BLHS năm 1985 đều là tội có cấu thành vật chất, là những
hành vi cố ý làm mất giá trị sử dụng của tài sản. Sự khác nhau của hai điều luật này đó là đối tượng tác động của
hành vi phạm tội là hai loại tài sản khác nhau, đó là tài sản xã hội chủ nghĩa và tài sản của công dân.
Qua quá trình áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự 1985 cùng với sự thay đổi của tình hình kinh tế xã hội, nền kinh tế nước ta chuyển đổi từ kinh tế quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường nên về cơ chế quản
lý cũng như việc ban hành các văn bản pháp luật còn nhiều sơ hở, đã tạo điều kiện thuận lợi cho các tội phạm xâm
phạm sở hữu nảy sinh và phát triển với những diễn biến phức tạp trong đó có tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng
tài sản. Do đó để đáp ứng đòi hỏi của công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm phạm sở hữu nói chung và
tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản nói riêng, Bộ luật hình sự năm 1985 đã được sửa đổi, bổ sung 4 lần
vào các năm 1990,1991, 1993 và 1997.
1.2.3.
với người phạm tội, ngược lại nếu hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa thì được áp
dụng Điều 143 Bộ luật hình sự năm 1999 để xử lý đối với người phạm tội. Việc sáp nhập hai tội thành một là một
đòi hỏi khách quan. Ý nghĩa của việc sáp nhập thể hiện trước hết sự tôn trọng nguyên tắc bình đẳng trước pháp
luật của các thành phần kinh tế. Nó phù hợp với tâm lý không chỉ của người phạm tội mà của mọi người nói
chung. Theo đó, ý nghĩa của tài sản không phải nó thuộc sở hữu nào mà ở giá trị và giá trị sử dụng. Việc chỉ có
một chương các tội xâm phạm sở hữu cũng như chỉ có một tội danh cụ thể cho một loại hành vi xâm phạm sở hữu
(dù là sở hữu nào) không chỉ thuận lợi cho kĩ thuật lập pháp mà cũng thuận lợi cho việc áp dụng khi không phải
xác định tài sản bị xâm phạm thuộc sở hữu nào, điều mà không phải luôn luôn dễ dàng.
Điều 143 BLHS năm 1999 có nhiều điểm mới. Nếu trước đây người phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư
hỏng tài sản bất kỳ có giá trị là bao nhiêu cũng bị coi là tội phạm, thì nay Điều 143 Bộ luật hình sự năm 1999 quy
định chỉ coi là tội phạm khi tài sản bị hủy hoại hoặc hư hỏng có giá trị từ 500.000 đồng trở lên và Bộ luật hình sự
năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 nâng mức giá trị tài sản bị hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng lên 2.000.000
đồng cho phù hợp với tình hình thực tế đời sống kinh tế xã hội.
Trường hợp tài sản bị thiệt hại dưới 2.000.000 đồng thì phải kèm theo điều kiện gây hậu quả nghiêm trọng
hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản, hoặc đã bị kết án về tội hủy
hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản, chưa được xoá án mà còn vi phạm mới bị coi là tội phạm. Ngoài các tình tiết
định tội, nhà làm luật còn quy định thêm các tình tiết là yếu tố định khung hình phạt. Hình phạt bổ sung cũng
được quy định ngay trong cùng điều luật.
1
7
Điều 143 Bộ luật hình sự 1999 quy định 4 khung hình phạt.
- Phạm tội quy định tại khoản 1 Điều 143 Bộ luật hình sự là trường hợp phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm
hư hỏng tài sản không có các tình tiết định khung hình phạt, đây là cấu thành cơ bản của tội hủy hoại hoặc cố ý
làm hư hỏng tài sản. Khung hình phạt cơ bản có mức phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ
06 tháng đến 03 năm đối với các trường hợp phạm tội thuộc loại tội ít nghiêm trọng, quy định: “người nào hủy
hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc tài
sản trị giá dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong những trường hợp:
- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm (là trường hợp trước khi
nếu người phạm tội có ít hoặc không có tình tiết giảm nhẹ thì tùy từng trường hợp cụ thể có thể áp dụng hình phạt
tù từ sáu tháng đến ba năm.
- Khoản 2 quy định về các tình tiết định khung tăng nặng khi mà phạm tội thuộc một trong các trường hợp
sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm, tức là loại tội nghiêm trọng:
a) Có tổ chức (là trường hợp có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm, trong đó
có người tổ chức, người thực hành, người xúi dục, người giúp sức. Tuy nhiên, không phải trường hợp hủy hoại
hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản có tổ chức nào cũng có đủ những người giữ vai trò như trên mà tùy từng trường
hợp, có thể chỉ có người tổ chức và người thực hành mà không có người xúi dục hoặc người giúp sức, nhưng nhất
định phải có người tổ chức và người thực hành thì mới là phạm tội có tổ chức. Các yếu tố để xác định phạm tội có
tổ chức được quy định tại Điều 20 Bộ luật hình sự. Người thực hành phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài
sản có tổ chức là người trực tiếp thực hiện hành vi, những thủ đoạn để hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản);
b) Gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000
đồng;
c) Gây hậu quả nghiêm trọng
Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản gây hậu quả nghiêm trọng là trường hợp do hủy hoại hoặc cố ý
làm hư hỏng tài sản đã gây ra những thiệt hại về vật chất, tính mạng, sức khoẻ và các thiệt hại khác ngoài giá trị
tài sản trực tiếp bị hủy hoại hoặc hư hỏng. Được coi là gây hậu quả nghiêm trọng do hành vi phạm tội hủy hoại
hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản gây ra nếu:
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của một người có tỷ lệ thương tật từ 21% đến 40%;
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người mà tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới
21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả mọi người từ 21% đến 40%;
- Gây thiệt hại về tải sản có giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000
đồng;
Ngoài thiệt hại về sức khoẻ, tài sản, còn những thiệt hại khác như gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự
trị an ở địa phương, gây hoang mang cho nhân dân trong một địa bàn nhất định...Những thiệt hại này, tuỳ từng vụ
1
9
án cụ thể mà các cơ quan tiến hành tố tụng căn cứ vào tình hình cụ thể để xác định đã là hậu quả nghiêm trọng
2
0