VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HỨA THỊ THẢO
ĐỐI TƯỢNG CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN GIẾT NGƯỜI
TỪ THỰC TIỄN TP. HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HỨA THỊ THẢO
ĐỐI TƯỢNG CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN GIẾT NGƯỜI
TỪ THỰC TIỄN TP. HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐẶNG QUANG PHƯƠNG
HÀ NỘI – 2018
: Bộ luật Hình sự
BLTTHS
: Bộ luật Tố tụng Hình sự
CQĐT
: Cơ quan điều tra
HSST
: Hình sự sơ thẩm
TAND
: Tòa án nhân dân
TPHCM
: Thành phố Hồ Chí Minh
VKSND
: Viện kiểm sát nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tỷ lệ giữa số vụ án giết người bị khởi tố và số vụ án giết người bị xét xử
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này như: quy định của pháp luật
TTHS về đối tượng chứng minh còn nhiều bất cập, việc xác định chứng cứ cũng
nhiều mâu thuẫn... Nên việc nghiên cứu một cách toàn diện những vấn đề lý luận và
thực tiễn về đối tượng chứng minh trong vụ án giết người, đánh giá thực trạng về
1
đối tượng chứng minh tại thành phố Hồ Chí Mịnh để từ đó đề ra giải pháp hoàn
thiện về mặt lập pháp và giải quyết nâng cao hiệu quả áp dụng nó trong giải quyết
vụ án giết người là vấn đề có ý nghĩa quan trọng, mang tính cấp thiết, góp phần
nâng cao chất lượng giải quyết vụ án hình sự. Đây cũng là lý do tác giả chọn đề tài
“Đối tượng chứng minh trong vụ án giết người từ thực tiễn thành phố Hồ Chí
Minh” làm luận văn thạc sỹ luật học về chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình
sự.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian vừa qua, vấn đề đối tượng chứng minh trong vụ án giết
người đã được đề cập đến trong nhiều công trình khoa học, các bài biết tạp chí, bài
nghiên cứu như:
''Điều tra các vụ án giết người chưa rõ thủ phạm ở Việt Nam hiện nay''
của tác giả Triệu Quốc Kế, Nxb: Công an nhân dân, 1998, Hà Nội. Tác giả nghiên
cứu Thực trạng về tội phạm giết người và công tác điều tra án giết người ở Việt
Nam. Phương pháp điều tra, các giải pháp cơ bản để nâng cao hiệu quả công tác
điều tra và phòng ngừa tội phạm giết người ở Việt Nam.
Luận văn thạc sĩ về đề tài Hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ
trong điều tra vụ án giết người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt nam từ thực tiễn
thành phố Hồ Chí Minh của tác giả Huỳnh Tấn Hải - bảo vệ năm 2012.
Luận án Tiến sỹ Luật học về đề tài “Thu thập, đánh giá và sử dụng chứng
cứ trong điều tra vụ án hình sự ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Đỗ Văn Đương –
bảo vệ năm 2000.
đối tượng chứng minh trong vụ án giết người.
Đánh giá thực tiễn hoạt động của các cơ quan THTT hình sự tập trung là
giai đoạn xét xử trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh liên quan đến đối tượng chứng
minh, tìm ra những điểm còn tồn tại từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn
thiện mặt lập pháp có liên quan đến đối tượng chứng minh và nâng cao hiệu quả áp
dụng nó trong thực tiễn, từ đó góp phần nâng cao chất lượng giải quyết vụ án hình
sự.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, trong quá trình nghiên cứu, cần giải quyết
những vấn đề sau:
3
Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về đối tượng chứng minh trong vụ
án giết người;
Đánh giá thực tiễn hoạt động của các cơ quan THTT hình sự liên quan tập
trung giai đoạn xét xử sơ thẩm đến đối tượng chứng minh trong vụ án giết người tại
thành phố Hồ Chí Minh;
Đưa ra những giải pháp hoàn thiện quy định của luật TTHS Việt Nam về đối
tượng chứng minh trong vụ án giết người và giải pháp nâng cao hiệu quả thực tiễn
hoạt động chứng minh, đối tượng chứng minh; từ đó có thể xác định được đối tượng
chứng minh trong vụ án giết người. Các nội dung cần phân tích bao gồm: Chứng
cứ, các phạm trù chứng minh, đối tượng và phạm vi chứng minh, giới hạn chứng
minh, nghĩa vụ chứng minh, cơ sở khoa học, cơ sở phương pháp luận và cơ sở pháp
lý của việc thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra, truy tố, xét xử vụ án
hình sự.
+ Phương pháp tổng hợp: Đó là việc khái quát toàn bộ các nhận định độc lập
sau khi phân tích. Phương pháp tổng hợp giúp cho quá trình đánh giá tránh khỏi sự
thiếu trọng tâm. Các nội dung tổng hợp được đặt trong một hệ thống có mối liên hệ
qua lại.
+ Phương pháp thống kê: Nguồn của thống kê được lấy từ cơ quan có thẩm
quyền trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về luật hình sự, tố tụng
hình sự về đối tượng chứng minh đối với tội Giết người. Luận văn có thể được sử
dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên trong các trường Đại học, Học
viện chuyên về Luật.
Bổ sung và hoàn thiện thêm những vấn đề lý luận chung về đối tượng
chứng minh trong vụ án giết người.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn cũng cung cấp thông tin hữu ích cho việc nghiên cứu thực tiễn:
chứng cứ, các phạm trù chứng minh, đối tượng, phạm vi chứng minh, giới hạn
5
chứng minh, nghĩa vụ chứng minh,...nhằm định tội danh và quyết định hình phạt tội
Giết người trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Phát hiện những điểm còn bất cập trong luật TTHS Việt Nam về đối
quy định của bộ luật tố tụng hình sự nhằm làm rõ những vấn đề cần phải chứng
minh bằng hệ thống chứng cứ (bao gồm hoạt động tư duy (kiểm tra, đánh giá) và
hoạt động thực tiễn pháp lý (thu thập chứng cứ bằng biện pháp điều tra). Quá trình
giải quyết vụ án hình sự trải qua nhiều giai đoạn như: giai đoạn khởi tố; giai đoạn
điều tra và truy tố; xét xử… Mỗi giai đoạn có nhiệm vụ và định hướng khác nhau
nhưng đều hướng tới mục đích giải quyết vụ án khách quan, toàn diện đúng quy
định của pháp luật và do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện. Để giải quyết vụ
án hình sự thì vấn đề mang tính tất yếu và được pháp luật tố tụng hình sự quy định
là: các cơ quan tiến hành tố tụng phải tiến hành chứng minh để làm rõ, khôi phục lại
toàn bộ sự thật khách quan của vụ án và làm sáng tỏ những vấn đề khác có liên
quan đến vụ án.
Hoạt động chứng minh được sử dụng trong rất nhiều các lĩnh vực của đời
sống xã hội trong đó có lĩnh vực pháp luật tố tụng hình sự. Hoạt động chứng minh
trong tố tụng hình sự chính là quá trình nhận thức làm sáng tỏ nội dung của vụ án và
các tình tiết có liên quan đến vụ án. Mục đích của hoạt động chứng minh trong tố
tụng hình sự là để phục vụ cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự.
Như vậy, trong vụ án hình sự tất cả các tình tiết, những vấn đề cần được
làm sáng tỏ, cần phải chứng minh, để làm rõ nội dung và bản chất vụ án hình sự để
7
xác định sự thật khách quan, đảm bảo cho việc giải quyết đúng đắn, khách quan,
toàn diện vụ án hình sự tạo nên đối tượng chứng minh.
Đối tượng chứng minh được xác định là cơ sở của trách nhiệm hình sự, đó
là sự việc phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có
liên quan đến vụ án. Những vấn đề đó cần được các cơ quan tiến hành tố tụng làm
rõ để xác định bản chất vụ án. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định về đối
tượng chứng minh tại Điều 63 như sau: Khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự,
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải chứng minh:
án hình sự”.
Từ những phân tích trên đối tượng chứng minh trong vụ án giết người là
tất cả các sự kiện, tình tiết của vụ án cần phải được làm rõ bằng chứng cứ, để kết
luận có đủ các yếu tố của tội giết người hay không, đường lối xử lý và giải quyết
các vấn đề khác liên quan trong vụ án đúng pháp luật.
1.1.2 Vai trò của việc xác định đúng đối tượng chứng minh trong vụ án giết
người
Việc xác định đúng và đầy đủ đối tượng chứng minh trong vụ án giết
người có vai trò rất quan trọng.
Thứ nhất, đầu tiên và tổng thể nhất là xác định các yếu tố cấu thành tội phạm của
tội giết người.
Đối tượng tác động của tội giết người: Tội giết người xâm phạm quyền sống của
con người, quyền được sống là một trong các quyền về nhân thân của con người,
đây là quyền tự nhiên, thiêng liêng và cao quý nhất của con người, bất kỳ một người
nào khi sinh ra không phân biệt giai cấp, quốc gia, dân tộc đều có quyền sống, đây
là quyền mà tất cả nhân loại tiến bộ trên thế giới đều công nhận. Con người đang
sống là đối tượng tác động của tội giết người, trừ trường hợp người phạm tội có sự
sai lầm về đối tượng tác động, quyền sống của con người là khách thể của tội giết
người nói chung.
Mặt khách quan của tội giết người: Mặt khách quan của tội giết người là những
biểu hiện của tội giết người diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan, bao
gồm: Hành vi khách quan của tội giết người, hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội
giết người và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan của tội phạm với hậu
quả nguy hiểm cho xã hội.
Mặt khách quan của tội giết người được thể hiện bằng hành vi tước đoạt tính
mạng của người khác một cách trái pháp luật.
9
Hậu quả của tội giết người chính là thiệt hại do hành vi giết người gây ra
cho quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và quyền sống của con người, thiệt hại
này được biểu hiện dưới dạng thiệt hại về thể chất, hậu quả là chết người.
Mối quan hệ nhân quả trong tội giết người: Ở tội giết người, việc xác định chính
xác nguyên nhân dẫn đến hậu quả chết người sẽ giúp cho các CQĐT chứng minh
được có tội phạm giết người xảy ra hay không, người nào là người thực hiện hành
vi dẫn đến hậu quả chết người đó. Từ thực tiễn đấu tranh, phòng chống tội phạm
trong những năm gần đây cho thấy, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tội phạm
giết người đã có không ít những trường hợp xét xử oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm do
không xác định đúng mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan với hậu quả
nguy hiểm cho xã hội.
Mặt chủ quan của tội giết người: Khi nói đến mặt chủ quan của tội giết người,
tức là chúng ta muốn nói đến diễn biến tâm lý bên trong của chính người phạm tội
đó có lỗi, động cơ và mục đích phạm tội. Trong các dấu hiệu về lỗi, động cơ, mục
đích thì dấu hiệu lỗi là dấu hiệu bắt buộc phải có trong mặt chủ quan của tội phạm
này.
Lỗi của người phạm tội giết người là thái độ tâm lý của người đó với hành
vi tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật và đối với hậu quả
chết người do hành vi của họ gây nên, được biểu hiện dưới hình thức cố ý trực tiếp
hoặc cố ý gián tiếp.
Trong tội giết người thì hậu quả chết người là lỗi cố ý trực tiếp do tội
phạm gây ra với mong muốn của chủ thể, còn trong các tội khác như cố ý gây
thương tích, hiếp dâm, cướp tài sản…thì hậu quả chết người chỉ là lỗi do vô ý
(không thấy trước hậu quả chết người hoặc tuy thấy trước hậu quả chết người,
nhưng có ý thức loại trừ hậu quả xảy ra). Trong thực tiễn, nếu không xác định đúng
lỗi của người phạm tội ngay từ đầu, sẽ dẫn đến bỏ lọt tội phạm, xử lý oan sai, từ đó
gây ra các hiện tượng tiêu cực trong công tác điều tra, truy tố, xét xử, làm giảm hiệu
quả đấu tranh trong công cuộc phòng chống tội phạm.
Theo Luật hình sự Việt Nam thì nội dung các quy định của Bội luật Hình sự mà
Tòa án phải tuân thủ nghiêm chỉnh khi quyết định hình phạt gồm:
12
-
Các quy định có tính nguyên tắc về tội phạm và hình phạt trong Phần
chung của Bộ luật Hình sự.
-
Điều luật quy định hình phạt đối với tội phạm cụ thể trong Phần các tội
phạm của Bộ luật Hình sự.
Trước khi quyết định hình phạt, Tòa án phải xác định xem bị cáo bị xét xử về
tội gì và trên cơ sở điều khoản nào của Bộ luật Hình sự. Sau khi định tội, Tòa án quyết
định hình phạt đối với người phạm tội và việc quyết định hình phạt phải căn cứ vào các
quy định của Phần chung Bộ luật hình sự như “nguyên tắc xử lý” (Điều 3 Bộ luật Hình
sự), vấn đề chuẩn bị phạm tội (Điều 17 Bộ luật Hình sự), phạm tội chưa đạt, (Điều 18
Bộ luật Hình sự), vấn đề đồng phạm (Điều 20 Bộ luật Hình sự).
Ngoài một số quy định đã nói trên, còn có các quy định khác có tính nguyên tắc của
Phần chung Bộ luật Hình sự mà Tòa án cũng phải xem xét. Đó là mục đích hình phạt
(Điều 27 Bộ luật Hình sự), nội dung, phạm vi và điều kiện của từng loại hình phạt (các
điều từ 29 đến Điều 40 của Bộ luật Hình sự).
Tuân thủ nghiêm chỉnh Điều luật quy định mức hình phạt đối với tội phạm cụ thể
trong Phần các tội phạm có ý nghĩa rất lớn khi quyết định hình phạt. Bởi lẽ, Tòa án chỉ
được phép quyết định hình phạt trong phạm vi chế tài mà Điều luật đã quy định cho tội
mà bị cáo đã phạm.
Hình thức lỗi, mức độ lỗi, mục đích, động cơ phạm tội…
Xem xét nhân thân người phạm tội:
Theo Luật hình sự Việt Nam, những đặc điểm về nhân thân có ảnh hưởng trực
tiếp đến tội phạm được coi là những đặc điểm mang tính chất pháp lý và được quy định
là những tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trong hình phạt (như phạm tội lần đầu hay
đã có tiền án, tiền sự, tái phạm hay tái phạm nguy hiểm, có tính chất chuyên nghiệp
hay không; là người chưa thành niên hay là người đã thành niên; có thái độ ăn năn hối
cải, lập công chuộc tội hay là ngoan cố không chịu cải tạo…)
Những đặc điểm khác tuy không mang tính chất pháp lý cũng phải được xem xét
một cách toàn diện, nếu chúng có tính chất bền vững nói lên bản chất của người phạm
tội và có ảnh hưởng nhất định đến hành vi phạm tội. Trong đó phải chú ý đến những
đặc điểm có quan hệ đến ý thức chính trị, ý thức lao động, trình độ nhận thức, hiểu biết
của người phạm tội (như thành phần, quá trình hoạt động chính trị - xã hội, trình độ văn
hóa, nghề nghiệp...) hoặc những đặc điểm có quan hệ đến các đối tượng của chính sách
lớn của Đảng và Nhà nước (như người phạm tội thuộc dân tộc ít người; thuộc gia đình
liệt sĩ, là nhân sỹ, trí thức có tên tuổi, là chức sắc tôn giáo…)
Ngoài ra còn có một số đặc điểm, tuy phản ánh hoàn cảnh thực tế của người phạm
tội, nhưng nhiều khi có ý nghĩa quan trọng ( như họ đang bị bệnh hiểm nghèo, là người
già yếu, là phụ nữ có thai hoặc con nhỏ, hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của bản thân hoặc
của gia đình…)
Cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Khi quyết định hình phạt thì Tòa án phải cân nhắc đồng thời cả hai loại tình tiết
giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự là những tình tiết làm cho
các trường hợp phạm tội cụ thể của một tội phạm khác nhau về mức độ nguy hiểm. Các
tình tiết này không có tính chất bắt buộc như những tình tiết định tội và định khung mà
chỉ có ý nghĩa khi quyết định hình phạt, có tác dụng làm tăng hoặc giảm hình phạt
trong phạm vi một khung hình phạt nhất định. Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách
hóa, giáo dục có thể tác động, ảnh hưởng làm phát sinh nguyên nhân và điều kiện của
tình hình tội giết người.
-
Nguyên nhân và điều kiện về tổ chức, quản lý. Đây là những thiếu sót, bất
cập trong hoạt động của các cơ quan chức năng có thẩm quyền quản lý trong những
lĩnh vực nhất định. Chủ yếu như: quản lý yếu kém, buông lỏng quản lý, kém trách
nhiệm, kém ý thức...
15
-
Nguyên nhân và điều kiện về yếu kém trong phát hiện và xử lý tội phạm.
Việc chậm trễ giải quyết những bức xúc xã hội hoặc xử lý chưa nghiêm, chưa thỏa
đáng, chưa kiên quyết triệt để trong đấu tranh đối với tội phạm giết người thông qua
một số vụ án xảy ra, chưa làm tròn trách nhiệm trong việc bảo vệ sự bình yên của
người dân đã dẫn đến tình trạng một số đối tượng coi thường pháp luật, coi thường
tính mạng người khác, xem thường trật tự xã hội cũng là một trong những điều kiện
dẫn đến nguyên nhân tình hình tội giết người.
Tóm lại, nguyên nhân và điều kiện của tội giết người là sự tác động qua lại
giữa các yếu tố khách quan của môi trường sống với các yếu tố chủ quan thuộc về cá
nhân người phạm tội. Cơ chế tác động của các yếu tố chủ quan và các yếu tố khách
quan vô cùng phức tạp. Tuy nhiên, từ việc xác định đúng đối tượng chứng minh trong
vụ án giết người, ta xác định được nguyên nhân, điều kiện tội giết người từ đó có biện
pháp phòng ngừa hiệu quả.
Thứ tư, bảo đảm giải quyết vụ án toàn diện, xử lý vật chứng, bồi thường,...
nào đó tác động vào đối tượng không phải hay chưa phải là con người hoặc là con
người nhưng đã chết thì những hành vi đó không xâm phạm đến quyền sống của con
người nên không phải là tội Giết người. Thực tiễn xét xử tội Giết người ở Việt Nam
xác định thời điểm bắt đầu sự sống của con người là thời điểm đứa trẻ đã được sinh ra
khỏi cơ thể người mẹ và tồn tại độc lập trong thế giới khách quan với tư cách là một
thực thể tự nhiên và xã hội. Thời điểm kết thúc sự sống của con người là thời điểm
chết sinh vật, bởi vì đây là giai đoạn cuối cùng của sự chết. Ở giai đoạn này, sự sống
của con người không có khả năng hồi phục.
Như vậy, đối tượng chứng minh xác định khách thể của tội giết người là ai bị giết, tại
sao bị giết; giết trong hoàn cảnh nào?
Mặt khách quan của tội giết người được thể hiện ở hành vi tước bỏ quyền sống của
người khác một cách trái pháp luật bằng những thủ đoạn và phương tiện khác nhau
gây hậu quả là gây ra cái chết.
Ví dụ, Bản án số: 103/2014/HSST. Ngày 12/10/2014, trong lúc đánh nhau, nhìn
thấy cây tầm vông dưới dất, Ân liền nhặt lên định đánh Ngọc, thì bị chị Lan (em
của Ngọc) xông lên giật lấy và giằng co với Ân. Thấy Lan té ngã và Ân giơ cây tầm
vông định đánh Ngọc, Huỳnh Văn Lượng (cha của Ngọc) liền chạy vào giật lấy cây
tầm vông từ tay Ân, đánh Ân trúng vào đầu khiến Ân bỏ chạy về phòng trọ. Lúc
17
này, Tuấn cầm cây (chưa xác định đặc điểm) đánh vào lưng Lượng, liền bị Lượng
quay lại dùng cây tầm vông đánh vào đầu ngã xuống bất tỉnh. Ngọc thấy không bị ai
đánh nên đứng dậy bỏ chạy. Lượng ném cây tầm vông rồi về phòng trọ. Ngọc chạy
về phòng trọ của Đức, số C3/16, ấp 3, xã Tân Kiên, huyện Bình Chánh, thành phố
Hồ Chí Minh, nhờ Đức chở ra bến xe về Trà Vinh trốn.
Ân, Phong, Cảnh đưa Vũ Trí Tuấn đi cấp cứu tại bệnh viện Chợ Rẫy, đến khoảng
12 giờ ngày 16/4/2014, Tuấn tử vong.
Ở đây, mặt khách quan của tội giết người được thể hiện ở các dấu hiệu, bị cáo
coi là hoàn thành khi có hậu quả chết người xảy ra. Nếu hậu quả chết người không
xảy ra vì nguyên nhân khách quan thì hành vi phạm tội bị coi là Giết người chưa đạt
hoặc tội Cố ý gây thương tích tùy theo lỗi của người phạm tội trong từng trường
hợp cụ thể.
Như vậy, đối tượng chứng minh xác định mặt khách quan của tội giết người là có
hành vi phạm tội không? Hành vi đó được thực hiện như thế nào (bắn, đâm...) ở
đâu, vào thời gian nào?
1.2.2 Đối tượng chứng minh xác định chủ thể và mặt chủ quan của tội giết người
Mặt chủ quan của tội giết người là lỗi của người phạm tội, là lỗi cố ý. Lối cố ý ở
đây có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp. Trong trường hợp lỗi cố ý
trực tiếp, người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội,
thấy trước hậu quả chết người có thể xảy ra hoặc tất nhiên xảy ra nhưng vì mong
muốn hậu quả đó nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Trong trường hợp lỗi cố ý gián
tiếp, người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy
trước hậu quả chết người có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng để đạt được
mục đích của mình người phạm tội có ý thức để mặc cho hậu quả chết người xảy ra,
hay nói cách khác, họ có ý thức chấp nhận hậu quả chết người đó.
Trong trường hợp hậu quả chết người xảy ra thì việc xác định lỗi cố ý trực tiếp
hay lỗi cố ý gián tiếp không có ý nghĩa trong việc định tội nhưng nếu người phạm
tội đã thực hiện hành vi khách quan nhưng hậu quả chết người chưa xảy ra thì việc
xác định hình thức lỗi cố ý trực tiếp hay cố ý gián tiếp lại có ý nghĩa rất quan trọng.
Cụ thể, nếu hậu quả chết người chưa xảy ra và lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý
trực tiếp thì người phạm tội phải chịu TNHS về tội giết người chưa đạt. Nếu hậu
quả chết người chưa xảy ra và lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý gián tiếp thì người
19
phạm tội không phải chịu TNHS về tội Giết người mà chỉ phải chịu TNHS về tội
Cố ý gây thương tích nếu tỉ lệ thương tích thỏa mãn đòi hỏi của cấu thành tội phạm