Trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực văn hóa từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN THỊ THU THỦY

TRÁCH NHIỆM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC VĂN HÓA
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN THỊ THU THỦY

TRÁCH NHIỆM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC VĂN HÓA
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật hành chính
Mã số: 60.38.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẦN KHOA HỌC
PGS.TS. BÙI THỊ ĐÀO

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

LXLVPHC:

Luật Xử lý vi phạm hành chính.

TNHC:

Trách nhiệm hành chính.

QLHC:

Quản lý hành chính

UBND:

Ủy ban nhân dân

VPHC:

Vi phạm hành chính.


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Thực trạng truy cứu trách nhiệm hành chính chuyên ngành văn
hóa từ năm 2012 đến năm 2016 ...................................................................... 40
Bảng 2.2: Tổng hợp kết quả truy cứu trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực
văn hóa giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016 ............................................... 40
Bảng 2.3: Tổng hợp số liệu về truy cứu trách nhiệm hành chính liên ngành
văn hóa – xã hội trong 05 năm (2012 - 2016) ................................................ 41



sở. Các cấp, các ngành thiếu sự phối hợp chặt chẽ trong lãnh đạo, chỉ đạo,
chưa thấy hết tác hại to lớn về mặt xã hội, đạo đức do các tệ nạn này gây ra
cho đất nước, nhất là đối với thế hệ trẻ; chưa xử lý thích đáng một số ít cán
bộ, đảng viên thoái hoá, biến chất hoặc bao che, tiếp tay cho các sai phạm.
Đồng thời, các văn bản quy phạm pháp luật có một số quy định của pháp luật
chưa phù hợp cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn áp dụng đã dẫn đến sự lúng túng
trong công tác xử phạt VPHC chưa đạt hiệu quả.
Chính vì vậy, cần phải nghiên cứu sâu, phân tích kỹ, làm rõ những quy
định của pháp luật Việt Nam hiện hành. Trên cơ sở đó có sự tổng kết kinh
nghiệm thực tiễn áp dụng pháp luật về TNHC trong lĩnh vực văn hóa. Đồng
thời, nghiên cứu, đánh giá thực tiễn truy cứu TNHC trong lĩnh vực văn hóa
nhằm đề ra các giải pháp xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật về truy
cứu TNHC trong lĩnh vực văn hóa góp phần giữ gìn và phát triển văn hóa tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đó là lý do tôi chọn đề tài luận văn “Trách
nhiệm hành chính trong lĩnh vực văn hóa từ thực tiễn thành phố Hồ Chí
Minh” .
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến luận văn với đề tài “Trách nhiệm hành chính trong lĩnh
vực văn hóa từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh”, đã có một số công trình
nghiên cứu tiêu biểu như:
2.1. Các luận văn, đề tài khoa học
- Trịnh Thị Thỏa (2017), Xử phạt VPHC trong lĩnh vực y tế từ thực tiễn
Thành phố Hà Nội;
- Ngô Văn Tuấn (2016), Xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý và bảo
vệ rừng từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng;
- Nguyễn Văn Việt (2010), TNHC trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở
Việt Nam hiện nay.
2



3.2 Nhiệm vụ
Nội dung thực hiện các nhiệm chính: Nghiên cứu những vấn đề lý luận
về VPHC, TNHC và truy cứu TNHC trong lĩnh vực văn hóa; Phân tích và
đánh giá thực trạng xử phạt VPHC trong lĩnh vực văn hóa; Nêu phương
hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả công tác của
việc truy cứu TNHC trong lĩnh vực văn hóa.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là hệ thống pháp luật về xử phạt VPHC và thực
tiễn VPHC, TNHC trong lĩnh vực văn hóa.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận văn có nội dung làm rõ khái niệm TNHC theo nghĩa
tiêu cực, trên cơ sở đó nêu khái niệm và đặc điểm truy cứu TNHC trong lĩnh
vực văn hóa. Phân tích kỹ thực trạng truy cứu TNHC trong lĩnh vực văn hóa
với kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của pháp luật về truy cứu
TNHC trong lĩnh vực văn hóa tại thành phố Hồ Chí Minh.
Về không gian: nghiên cứu trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Về thời gian: khoảng thời gian từ 2012 đến 2016
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của
triết học Mác – Lênin làm cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu lý
luận và tính thực tiễn đề tài.
5.2. Phương pháp nghiên cứu

4



Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC VĂN HÓA
1.1. Khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm hành chính trong lĩnh
vực văn hóa
1.1.1. Khái niệm trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực văn hóa
Trong giao tiếp ngôn ngữ hằng ngày, thuật ngữ “trách nhiệm” được
dùng theo nhiều nghĩa khác nhau, tùy theo lĩnh vực và ngữ cảnh nhất định.
Trong lĩnh vực chính trị đạo đức: “trách nhiệm” được hiểu theo nghĩa bổn
phận, vai trò mang tính tích cực, xuất phát từ ý thức của con người về vị trí,
vai trò của minh đối với xã hội, đối với những người thân thích, … Trong lĩnh
vực pháp lý: “trách nhiệm” được hiểu theo hai nghĩa: Trách nhiệm là nghĩa vụ
(nghĩa tích cực); Trách nhiệm phải gánh chịu những hậu quả bất lợi vì đã vi
phạm pháp luật. Đó là sự phản ứng, lên án của nhà nước và xã hội đối với
những chủ thể vi phạm pháp luật gây hậu quả xấu cho xã hội.
Nội dung của luận văn này nghiên cứu TNHC được hiểu theo nghĩa
trách nhiệm phải gánh chịu những hậu quả bất lợi vì đã vi phạm pháp luật. Để
có căn cứ xác định thế nào là TNHC, trước tiên cần phải biết thế nào là trách
nhiệm pháp lý, vì TNHC là một dạng cụ thể của trách nhiệm pháp lý.
Trách nhiệm pháp lý theo lý luận chung, đó là hậu quả bất lợi (sự trừng
phạt) đối với chủ thể vi phạm pháp luật, được các quy phạm pháp luật điều
chỉnh; trong đó chủ thể vi phạm pháp luật phải chịu những hậu quả bất lợi,
những hình thức xử phạt được quy định ở chế tài các quy phạm pháp luật.
Từ những căn cứ trên, có thể khẳng định rằng: TNHC là một dạng của
trách nhiệm pháp lý được áp dụng trong hoạt động quản lý, hoạt động hành
chính nhà nước theo quy định của pháp luật hành chính. Đó là sự áp dụng
những biện pháp cưỡng chế hành chính mang tính chất xử phạt hoặc khôi
6



Vì thế, để tiến hành truy cứu TNHC đối với tổ chức, cá nhân thì cần
phải xác định họ có thực hiện việc VPHC trên thực tế hay không. Truy cứu
TNHC đối với tổ chức, cá nhân VPHC về bản chất là việc áp dụng các hình
thức, biện pháp xử phạt hành chính đối với tổ chức, cá nhân đó.
Người có thẩm quyền truy cứu TNHC sẽ ra quyết định buộc các chủ
thể bị truy cứu TNHC phải thực hiện các biện pháp chế tài hành chính, đó là
những biện pháp buộc những đối tượng bị truy cứu TNHC phải chịu những
hạn chế về một số quyền nhất định.
Từ sự phân tích trên, có thể hiểu rằng: Cá nhân, tổ chức chỉ bị truy cứu
TNHC khi có đầy đủ cơ sở chứng minh được cá nhân, tổ chức đó đã thực hiện
hành vi VPHC và biện pháp chế tài hành chính áp dụng đối với họ phải có
mục đích phạt người vi phạm.
Có thể thấy được rằng VPHC chỉ là cơ sở chung để truy cứu TNHC đối
với tổ chức, cá nhân vi phạm. Vấn đề là tổ chức, cá nhân VPHC có bị truy
cứu TNHC trên thực tế hay không còn phụ thuộc vào việc thực hiện nhiều
quy định pháp luật khác có liên quan. Ví dụ: Căn cứ vào thời hiệu xử phạt
VPHC, nếu hành vi VPHC của tổ chức, cá nhân đã hết thời hiệu xử phạt theo
quy định của pháp luật thì việc truy cứu TNHC cũng sẽ không đặt ra đối với
tổ chức, cá nhân đó.
Thứ hai, TNHC là trách nhiệm pháp lý của tổ chức, cá nhân thực hiện
hành vi VPHC trước nhà nước.
Đó là việc tổ chức, cá nhân VPHC đã xâm phạm đến trật tự quản lý nhà
nước do nhà nước thiết lập. Vì thế, nhà nước buộc các tổ chức, cá nhân đó
phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi để bảo vệ trật tự QLHC nhà
nước mà mình thiết lập. Việc thực hiện biện pháp chế tài của các tổ chức, cá
nhân VPHC là trách nhiệm của họ trước nhà nước chứ không phải trước các
chủ thể khác . Đây là điểm khác biệt giữa TNHC với trách nhiệm dân sự (Vì
8



1.2. Truy cứu trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực văn hóa
1.2.1. Khái niệm truy cứu trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực văn
hóa
Truy cứu TNHC trong lĩnh vực văn hóa là việc các chủ thể có thẩm
quyền nhân danh nhà nước buộc các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật phải
gánh chịu hậu quả trước Nhà nước vì đã có hành vi VPHC trong lĩnh vực văn
hóa. Trong đó, chủ thể VPHC bị Nhà nước hạn chế về quyền hay lợi ích mà lẽ
ra họ đang hoặc sẽ được hưởng bằng cách áp dụng các hình thức xử phạt và
biện pháp khắc phục hậu quả được quy định trong phần chế tài của quy phạm
pháp luật trong lĩnh vực văn hóa.
Truy cứu TNHC trong lĩnh vực văn hóa là hoạt động cưỡng chế nhà
nước mang tính quyền lực nhà nước. Tính cưỡng chế và tính quyền lực nhà
nước thể hiện ở việc truy cứu TNHC chỉ do các cơ quan nhà nước, người có
thẩm quyền truy cứu TNHC tiến hành.
Hoạt động truy cứu TNHC trong lĩnh vực văn hóa thể hiện bằng quyết
định xử phạt của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền tiến hành. Hoạt
động truy cứu TNHC trong lĩnh vực văn hóa có thể tiến hành qua nhiều khâu,
nhiều giai đoạn, bằng các hành vi khác nhau nhưng kết quả của hoạt động này
phải được thể hiện bằng quyết định xử phạt. Quyết định xử phạt VPHC là
hình thức thể hiện ý chí của nhà nước, thái độ, phản ứng của nhà nước trước
hành vi vi phạm. Đồng thời, nó cũng thể hiện mức cưỡng chế với chủ thể vi
phạm.
Hoạt động truy cứu TNHC trong lĩnh vực văn hóa được thực hiện trong
khuôn khổ của pháp luật và tuân theo, trình tự, thủ tục hành chính. Khi tiến
hành hoạt động xử phạt các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người có thẩm
quyền phải tuân theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.

10



cảnh, khai báo, giao nộp di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia được phát hiện; Hành
vi VPHC về công bố, phổ biến tác phẩm ra nước ngoài.
Trong từng nhóm hành vi VPHC, Nghị định xử phạt VPHC trong lĩnh
vực văn hóa quy định cụ thể từng hành vi vi phạm và chế tài xử phạt được
thực hiện đầy đủ theo các nguyên tắc do pháp luật quy định.
1.2.2.2. Thời hiệu truy cứu TNHC:
Là khoảng thời gian để áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong truy cứu
TNHC. Việc quy định thời truy cứu TNHC có ý nghĩa rất quan trọng vì đó là
cơ sở pháp nhằm tạo sự thống nhất trong việc ra quyết định truy cứu TNHC
cũng như thi hành quyết định xử phạt VPHC. Mặt khác, việc quy định thời
hiệu truy cứu TNHC cũng là một yêu cầu đối đối với người có thẩm quyền,
cơ quan có thẩm quyền ra quyết định xử phạt VPHC phải kịp thời xác minh,
xem xét các tài liệu trong hồ sơ xử phạt VPHC nhằm giải quyết vụ việc
VPHC một cách khách quan và bảo đảm đúng pháp luật.
Căn cứ vào Điểm a, Khoản 1, Điều 6, LXLVPHC quy định: “Thời hiệu
xử phạt VPHC là 01 năm, trừ các trường hợp sau: VPHC về kế toán; thủ tục
thuế; phí, lệ phí; kinh doanh bảo hiểm; quản lý giá; chứng khoán; sở hữu trí
tuệ; xây dựng; bảo vệ nguồn lợi thủy sản, hải sản; quản lý rừng, lâm sản; điều
tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước; thăm dò,
khai thác dầu khí và các loại khoáng sản khác; bảo vệ môi trường; năng lượng
nguyên tử; quản lý, phát triển nhà và công sở; đất đai; đê điều; báo chí; xuất
bản; sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa; sản xuất, buôn bán
hàng cấm, hàng giả; quản lý lao động ngoài nước thì thời hiệu xử phạt VPHC
là 02 năm. VPHC là hành vi trốn thuế, gian lận thuế, nộp chậm tiền thuế, khai
thiếu nghĩa vụ thuế thì thời hiệu xử phạt VPHC theo quy định của pháp luật
về thuế. Như vậy, thời hiệu truy cứu TNHC trong lĩnh vực văn hóa là 01 năm.
Thời điểm để tính thời hiệu truy cứu TNHC được quy định như sau:
12



hình thức xử phạt bổ sung.
* Các hình thức luôn luôn là hình thức xử phạt chính gồm:
Thứ nhất, cảnh cáo là hình xử phạt chính được quy định tại Điều 22 –
Luật Xử lý VPHC năm 2012 “Cảnh cáo được áp dụng đối với cá nhân, tổ
chức VPHC không nghiêm trọng, có tình tiết giảm nhẹ và theo quy định thì bị
áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo hoặc đối với mọi hành vi VPHC do người
chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện. Cảnh cáo được
quyết định bằng văn bản”. Như vậy, chỉ có thể áp dụng hình thức xử phạt
cảnh cáo đối với cá nhân tử đủ 16 tuối trở lên hoặc tổ chức VPHC khi có đủ
điều kiện sau đây:
- Việc áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo đối với tổ chức, cá nhân
VPHC chỉ được thực hiện khi đó là vi phạm không nghiêm trọng, có tình tiết
giảm nhẹ theo quy định của Điều 9, LXLVPHC năm 2012.
- Hành vi vi phạm mà tổ chức, cá nhân thực hiện được văn bản pháp
luật (Nghị định) quy định là có thể áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo. Nếu
hành vi VPHC mà tổ chức, cá nhân đó thực hiện được Nghị định quy định chỉ
áp dụng hình thức phạt tiền thì không được phép áp dụng hình thức xử phạt
cảnh cáo.
Thứ hai, phạt tiền là hình thức xử phạt chính được quy định tại Điều
23, Luật Xử lý VPHC năm 2012. Phạt tiền được áp dụng phổ biến và hầu hết
các hành vi VPHC trong lĩnh vực văn hóa. Phạt tiền là việc áp dụng biện pháp
cưỡng chế đối với tổ chức, cá nhân có hành vi VPHC buộc phải nộp một số
tiền nhất định vào kho bạc Nhà nước, gây cho họ hậu quả bất lợi về quyền tài
sản. Vì vậy, hình thức xử phạt này có tác động trực tiếp đến lợi ích vật chất,
lợi ích kinh tế của tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi VPHC. Đồng thời, hình
14


thức phạt tiền cũng có tính răn đe và hiệu quả lớn trong công tác đấu tranh
phòng, chống VPHC trong lĩnh vực văn hóa.

người, môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ mà theo quy định
của pháp luật phải có giấy phép;
+ Đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ hoặc hoạt động khác mà theo quy định của pháp luật phải có giấy phép và
hoạt động đó gây hậu quả nghiêm trọng hoặc có khả năng thực tế gây hậu quả
nghiêm trọng đối với tính mạng, sức khỏe con người, môi trường và trật tự, an
toàn xã hội.
Ví dụ: Hành vi “Biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang có nội dung
truyền bá tệ nạn xã hội, không phù hợp thuần phong mỹ tục, truyền thống văn
hóa Việt Nam; xúc phạm uy tín tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân”.
Có hình thức xử phạt là đình chỉ hoạt động biểu diễn từ 3 tháng đến 6 tháng
đối với người biểu diễn theo quy định tại Khoản 12, Điều 2, Nghị định số
28/2017/NĐ-CP ngày 20 tháng 3 năm 2017 của Chính phủ.
Thứ hai, tịch thu tang vật VPHC, phương tiện được sử dụng để VPHC:
Tịch thu tang vật, phương tiện VPHC là một trong những hình thức xử
phạt VPHC được áp dụng đối với VPHC nghiêm trọng do lỗi cố ý của cá
nhân, tổ chức. Tịch thu tang vật, phương tiện VPHC là việc sung vào ngân
sách nhà nước vật, tiền, hàng hoá, phương tiện có liên quan trực tiếp đến
VPHC.
Ví dụ: Hành vi “Làm bản sao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia để kinh
doanh mà không có giấy phép”có hình thức xử phạt là tịch thu tang vật vi
phạm theo quy định tại Khoản 24, Điều 2, Nghị định số 28/2017/NĐ-CP ngày
20 tháng 3 năm 2017 của Chính phủ.
Về thủ tục tịch thu, khi tịch thu tang vật, phương tiện VPHC, người có
thẩm quyền xử phạt phải lập biên bản. Trong biên bản phải ghi rõ tên, số
16


lượng, chủng loại, số đăng ký (nếu có), tình trạng, chất lượng của tang vật,
phương tiện VPHC bị tịch thu và phải có chữ ký của người tiến hành tịch thu,

Ngoài các biện pháp khắc phục hậu quả nêu trên, tại Điều 2, Nghị định
28/2017/NĐ-CP ngày 20 tháng 3 năm 2017 của Chính phủ còn quy định thêm
các biện pháp khắc phục hậu quả như: Buộc trả lại lại đất đã lấn chiếm hoặc
chấm dứt việc sử dụng trái phép di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng
cảnh, công trình văn hóa, nghệ thuật; Buộc trả lại tài liệu thư viện đã đánh
tráo hoặc chiếm dụng; Buộc xin lỗi tổ chức, cá nhân; Buộc phải đáp ứng cơ sở
vật chất, trang thiết bị đối với phòng chiếu phim có sử dụng hiệu ứng đăc biệt
tác động đến người xem phim; Buộc thu hồi danh hiệu, giải thưởng trao cho
cá nhân đạt giải cuộc người đẹp, người mẫu; giấy chứng nhận đủ điều kiện
kinh doanh giám định cổ vật; giấy chứng nhận dủ diều kiện hành nghề tu bổ
di tích; chứng chỉ hành nghề tu bổ di tích; Buộc ngừng kinh doanh trò chơi
điện tử, karaoke, vũ trường không bảo đảm khoảng cách theo quy định.
1.2.3.3. Các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt hành
chính:
Các biện pháp cưỡng chế được quy định tại Khoản 2, Điều 86,
LXLVPHC năm 2012 bao gồm: Khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu
nhập, khấu trừ tiền từ tài khoản của cá nhân, tổ chức vi phạm; Kê biên tài sản
có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá; Thu tiền, tài sản khác của
đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC do cá nhân, tổ
chức khác đang giữ trong trường hợp cá nhân, tổ chức sau khi vi phạm cố tình
tẩu tán tài sản; Buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định.
Đối tượng áp dụng gồm cá nhân, tổ chức Việt Nam; cá nhân, tổ chức
nước ngoài bị xử phạt VPHC đã quá thời hạn chấp hành hoặc quá thời hạn
hoãn chấp hành hoặc quá thời hạn chấp hành quyết định áp dụng biện pháp

18


khắc phục hậu quả do VPHC gây ra mà không tự nguyện chấp hành quyết
định xử phạt.

Thanh tra Sở Văn hóa và Thể thao; Thanh tra Sở Du lịch; Trưởng Đoàn
Thanh tra chuyên ngành cấp bộ; Trưởng Đoàn Thanh tra chuyên ngành cấp
sở.
- Nhóm quản lý các lĩnh vực khác nhưng có liên quan đến văn hóa:
Công an nhân dân; Bộ đội biên phòng; Cảnh sát biển; Hải quan; Quản lý thị
trường; Cơ quan Thuế; Kiểm lâm; Cơ quan Thanh tra chuyên ngành khác
(Thông tin truyền thông, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Khoa học và
Công nghệ, Tài nguyên - Môi trường, Lao động – Thương binh và Xã hội,
Giao thông vận tải, Xây dựng, Y tế); Cảng vụ hàng hải, cảng vụ hàng không,
cảng vụ đường thủy nội địa; Tòa án nhân dân; Cơ quan thi hành án dân sự.
Hành vi VPHC trong lĩnh vực văn hóa liên quan đến nhiều ngành, lĩnh
vực khác dẫn đến tình trạng nhiều chủ thể có thẩm quyền truy cứu TNHC. Do
vậy, việc phân định thẩm quyền của người có thẩm quyền xử phạt trong từng
lĩnh vực được quy định theo các tiêu chí về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
được giao cho mỗi loại cơ quan chuyên ngành.
1.2.5. Thủ tục truy cứu trách nhiệm hành chính
Thủ tục truy cứu TNHC là một chế định pháp lý quan trọng, được quy
định theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ nhằm làm cho việc truy cứu TNHC
đạt hiệu quả. Đồng thời, thủ tục truy cứu TNHC giúp cho cơ quan, người có
thẩm quyền truy cứu TNHC thực hiện công vụ với tinh thần trách nhiệm cao
mà không dẫn đến tình trạng xử phạt VPHC một cách tùy tiện, gây phiền hà
cho người dân.
Khi phát hiện VPHC của cá nhân, tổ chức người có thẩm quyền phải
buộc chấm dứt hành vi VPHC của cá nhân, tổ chức đó bằng lời nói, còi, hiệu
lệnh, văn bản hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật. Đồng
20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status