VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG QUANG NHÃ
TRÁCH NHIỆM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG TỪ
THỰC TIỄN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG ................................................................ 5
1.1. Khái niệm về trách nhiệm hành chính .................................................... 5
1.2. Trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ................................ 11
Chương 2: THỰC TRẠNG TRÁCH NHIỆM HÀNH CHÍNH TRONG
LĨNH VỰC XÂY DỰNG TẠI QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH39
2.1. Khái quát sơ lược về Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh ........................ 39
2.2. Thực trạng trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực xây dựng tại Quận 1,
thành phố Hồ Chí Minh ............................................................................... 39
2.3. Đánh giá mặt tích cực và hạn chế bất cập trách nhiệm hành chính trong
lĩnh vực xây dựng tại Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh .............................. 54
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TRÁCH NHIỆM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG TỪ THỰC TIỄN QUẬN 1, THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH .................................................................................... 60
3.1. Quan điểm, định hướng hoàn thiện trách nhiệm hành chính trong lĩnh
quan chức năng Quận 1 xác định là một nhiệm vụ quan trọng.
Qua nghiên cứu thực tiễn quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn Quận 1
cho thấy, một trong những công cụ để quản lý trật tự xây dựng đô thị có hiệu
quả là công tác thanh, kiểm tra và xử lý vi phạm đối với các công trình xây
1
dựng trên địa bàn. Thực tế đã chứng minh nếu việc thanh tra, kiểm tra và xử
lý vi phạm được thực hiện đúng, thường xuyên, nghiêm túc sẽ góp phần quản
lý trật tự xây dựng nói riêng và công tác quản lý đô thị nói chung tốt hơn, việc
thực thi pháp luật và lập lại kỷ cương trong xây dựng và quản lý đô thị sẽ
nhanh chóng vào nề nếp.
Xuất phát từ những thực tiễn trên nên tác giả chọn đề tài nghiên cứu
“Trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực xây dựng từ thực tiễn Quận 1, Thành
phố Hồ Chí Minh” làm luận văn Thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong những năm qua, đã có một số bài viết, công trình nghiên cứu liên
quan đến vi phạm hành chính, xử lý vi phạm hành chính hay trách nhiệm
hành chính như: “Chế tài hành chính - Lý luận và thực tiễn” của Tiến sĩ Vũ
Thư, Nxb Chính trị quốc gia, 2000; Luận văn cao học “Hoàn thiện qui định
pháp luật về các hình thức xử phạt vi phạm hành chính”, của Nguyễn Trọng
Bình, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2000; Luận văn cao học “Vi phạm hành
chính và tội phạm - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, của Trần Thu Hạnh,
Khoa Luật Trường Đại học tổng hợp Hà Nội, 1998, Luận văn thạc sĩ “Hoàn
thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng, liên hệ
qua thực tiễn ở thành phố Hà Nội” của tác giả Quân Ngọc Anh, Khoa Luật
Đại học Quốc gia Hà Nội bảo vệ năm 2009.
Ở góc độ nào đó, các bài viết, công trình nghiên cứu này đã đánh giá,
phân tích về hoạt động xử phạt hành chính nói chung hoặc đánh giá, phân tích
về vi phạm hành chính tại một địa phương cụ thể, tuy nhiên, chưa có bài viết
trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực xây dựng – nghiên cứu chủ thể Thanh
tra Xây dựng dưới góc độ Luật hành chính và Luật tố tụng hành chính gắn với
thực tiễn quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn Quận 1 thành phố Hồ Chí
Minh.
3
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên phương pháp chung là phương pháp
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác –Lê Nin. Trên cơ
sở đó, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phân tích tổng hợp,
phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, luật học, logic…. để làm cơ sở
cho việc nghiên cứu của đề tài.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần xây dựng hệ thống cơ sở lý luận về trách nhiệm
hành chính trong lĩnh vực xây dựng.
Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn đưa ra những thực trạng các quy định của pháp luật xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng và thực tiễn áp dụng để từ đó
đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng cũng như những giải pháp khác
nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động tổ chức thực hiện.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
được cấu trúc gồm 3 Chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực
Xây dựng
- Chương 2: Thực trạng trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực xây
dựng tại Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.
đặc thù, xuất hiện trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, trong đó thể
hiện sự đánh giá phủ nhận về mặt pháp lý và đạo đức đối với hành vi vi phạm
và người vi phạm là cá nhân hay tổ chức phải chịu những hậu quả bất lợi,
5
những sự tước đoạt về vật chất hay tinh thần tương ứng với vi phạm đã gây ra
[15, Tr. 269].
Theo quan điểm của TS. Nguyễn Cửu Việt tại giáo trình Luật Hành
chính Việt Nam xuất bản năm 2005 (nhà xuất bản chính trị Quốc gia): trách
nhiệm hành chính là một dạng trách nhiệm pháp lý, đó là sự phản úng của nhà
nước đối với người thực hiện vi phạm hành chính, thể hiện ở sự áp dụng chế
tài pháp luật hành chính đối với chủ thể đó, kết quả là các chủ thể thực hiện vi
phạm hành chính phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, thiệt hại về vật chất
và tinh thần so với tình trạng ban đầu trước khi vi phạm [20, tr. 522].
Theo quan điểm của PGS.TS Nguyễn Văn Quang tại giáo trình Luật
Hành chính xuất bản năm 2017, nhà xuất bản Công an Nhân dân: Khi tổ chức
hay cá nhân khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, về nguyên tắc, Nhà
nước sẽ buộc họ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi nhất định. Việc này
nhằm khôi phục lại trật tự pháp luật đã bị xâm phạm, đồng thời, giáo dục tổ
chức, cá nhân vi phạm cũng như toàn thể cộng đồng ý thức tuân thủ pháp luật.
Trong khoa học pháp lý, thuật ngữ “trách nhiệm pháp lý” của tổ chức,
cá nhân thường được hiểu là hậu quả pháp lý bất lợi mà Nhà nước buộc tổ
chức, cá nhân phải gánh chịu khi họ thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Hậu
quả pháp lý bất lợi mà tổ chức, cá nhân vi phạm phải gánh chịu thể hiện ở
việc họ bị buộc phải thực hiện các biện pháp chế tài đã được quy định trong
pháp luật. Tương ứng với mỗi loại vi phạm pháp luật là một hình thức trách
nhiệm pháp lý nhất định. Trách nhiệm hành chính được đặt ra với tổ chức, cá
nhân vi phạm hành chính.
Tác giả cho rằng, mỗi khái niệm nêu trên đều chứa đựng những hạt
Thứ nhất : Trách nhiệm hành chính là hình thức trách nhiệm pháp lý đặt
ra đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính.
7
Trách nhiệm pháp lý chỉ đặt ra đối với những chủ thể thực hiện hành vi
vi phạm pháp luật. Do đó, để tiến hành truy cứu trách nhiệm hành chính đối
với tổ chức, cá nhân nào đó thì cần phải xác định tổ chức, cá nhân đó có thực
hiện vi phạm hành chính trên thực tế hay không. Trách nhiệm hành chính
không đặt ra đối với tổ chức, cá nhân không vi phạm hành chính. Truy cứu
trách nhiệm hành chính đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính thực chất
là việc áp dụng các hình thức, biện pháp xử phạt hành chính đối với tổ chức,
cá nhân này.
Chủ thể bị truy cứu trách nhiệm hành chính buộc phải thực hiện các
biện pháp chế tài hành chính do người có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm
hành chính quyết định. Chế tài hành chính áp dụng đối với chủ thể bị truy cứu
trách nhiệm hành chính là những biện pháp buộc những đối tượng này phải
gánh chịu những hạn chế về quyền, tài sản hoặc tự do. Một người chỉ bị truy
cứu trách nhiệm hành chính khi có đầy đủ cơ sở để xác định rằng người đó
thực hiện vi phạm hành chính và chế tài hành chính áp dụng đối với họ là
nhằm vào muc đích phạt người vi phạm.
Vi phạm hành chính chỉ là cơ sở chung để truy cứu trách nhiệm hành
chính đối với tổ chức, cá nhân vi phạm. Việc một tổ chức, cá nhân vi phạm
hành chính có bị truy cứu trách nhiệm hành chính trên thực tế hay không phụ
thuộc vào việc thực hiện nhiều quy định khác có liên quan. Ví dụ: Căn cứ vào
thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính thì tổ chức và cá nhân đã thực hiện vi
phạm hành chính, nhưng vi phạm hành chính đó đã hết thời hiệu xử phạt theo
quy định của pháp luật, do đó, trách nhiệm hành chính cũng sẽ không đặt ra
đối với họ trong trường hợp này.
phạm hành chính.
Truy cứu trách nhiệm hành chính được tiến hành theo thủ tục hành
chính do pháp luật hành chính quy định.
9
Truy cứu trách nhiệm pháp lý nói chung và trách nhiệm hành chính nói
riêng đều tác động trực tiếp đến việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các
đối tượng có liên quan. Vì vậy, khi tiến hành truy cứu trách nhiệm hành chính
các chủ thể có thẩm quyền phải tuân thủ một cách nghiêm ngặt các quy định
về thủ tục do pháp luật hành chính quy định. Về cơ bản, thủ tục này đòi hỏi
người có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hành chính phải thực hiện các
công việc theo đúng trình tự về thời gian, không gian, nhằm đảm bảo có đầy
đủ các căn cứ cần thiết để tiến hành truy cứu trách nhiệm hành chính đối với
cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính một cách nhanh chóng, kịp thời trong
thời hạn pháp luật quy định [9, Tr. 346,348].
1.1.2.2. Vai trò, ý nghĩa của trách nhiệm hành chính
Như trên đã phân tích, trách nhiệm hành chính là một dạng cụ thể của
trách nhiệm pháp lý nên sẽ mang những đặc điểm chung của trách nhiệm
pháp lý. Với tư cách là hậu quả pháp lý bất lợi mà cá nhân, tổ chức vi phạm
hành chính phải gánh chịu, trách nhiệm hành chính góp phần giúp nhà nước
thực hiện chức năng quan trọng của mình là duy trì trật tự xã hội, trật tự pháp
luật. Vi phạm hành chính là loại vi phạm pháp luật xảy ra khá phổ biến trong
đời sống xã hội. Tuy mức độ nguy hiểm cho xã hội của nó thấp hơn so với tội
phạm nhưng vi phạm hành chính là hành vi gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt
hại cho lợi ích của Nhà nước, tập thể, lợi ích của cá nhân cũng như lợi ích
chung của toàn thể cộng đồng, có thể là nguyên nhân dẫn đến tình trạng phạm
tội nảy sinh trên các lĩnh vực của đời sống xã hội nếu như không được ngăn
chặn và xử lý kịp thời. Chính vì vậy, công tác đấu tranh phòng và chống vi
phạm hành chính luôn được Nhà nước quan tâm. Trách nhiệm hành chính
trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh
doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát
triển nhà ở và công sở, Thông tư 02/2014/TT-BXD ngày 12/02/2014 Quy
11
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số
121/2013/NĐ-CP ngày 10/10/2013 Quy định xử phạt vi phạm hành chính
trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh
doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát
triển nhà ở và công sở.
(2) Biện pháp cưỡng chế hành chính được áp dụng theo thủ tục hành
chính nằm ngoài trình tự xét xử của toàn án.
(3) Chỉ cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử
phạt hành chính tương ứng với hành vi người vi phạm pháp luật hành chính
trong lĩnh vực xây dựng gây ra.
Thứ hai về đặc điểm riêng
(1) Khách thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng là
những quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực xây dựng và được bảo vệ bởi
các quy phạm pháp luật hành chính.
Để xác định vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng, thông thường
phải căn cứ vào việc xác định hành vi đó có vi phạm các quy định về hoạt
động xây dựng và kinh doanh bất động sản, khai thác, sản xuất, kinh doanh
vật liệu xây dựng, quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật, quản lý phát triển nhà
ở và công sở. Các quy định này được quy định trong những văn bản chuyên
ngành trong lĩnh vực xây dựng.
(2) Tính chất, mức độ hậu quả của vi phạm hành chính trong lĩnh vực
xây dựng phụ thuộc chủ yếu vào thiệt hại do hành vi đó gây ra đối với xã hội,
trật tự xã hội (ở đây là trật tự về xây dựng), thiệt hại về kinh tế gây ra cho xã
hội và công dân. Về mặt lý luận và thực tiễn, việc xác định các thiệt do hành
giao thông đường bộ; giao dịch điện tử; bưu chính;
c) Phạt tiền đến 50.000.000 đồng: phòng cháy, chữa cháy; cơ yếu; quản lý và
bảo vệ biên giới quốc gia; bổ trợ tư pháp; y tế dự phòng; phòng, chống
13
HIV/AIDS; giáo dục; văn hóa; thể thao; du lịch; quản lý khoa học, công nghệ;
chuyển giao công nghệ; bảo vệ, chăm sóc trẻ em; bảo trợ, cứu trợ xã hội;
phòng chống thiên tai; bảo vệ và kiểm dịch thực vật; quản lý và bảo tồn nguồn
gen; sản xuất, kinh doanh giống vật nuôi, cây trồng; thú y; kế toán; kiểm toán
độc lập; phí, lệ phí; quản lý tài sản công; hóa đơn; dự trữ quốc gia; điện lực;
hóa chất; khí tượng thủy văn; đo đạc bản đồ; đăng ký kinh doanh;
d) Phạt tiền đến 75.000.000 đồng: quốc phòng, an ninh quốc gia; lao động;
dạy nghề; giao thông đường sắt; giao thông đường thủy nội địa; bảo hiểm y tế;
bảo hiểm xã hội;
đ) Phạt tiền đến 100.000.000 đồng: quản lý công trình thuỷ lợi; đê điều; khám
bệnh, chữa bệnh; mỹ phẩm; dược, trang thiết bị y tế; sản xuất, kinh doanh thức
ăn chăn nuôi, phân bón; quảng cáo; đặt cược và trò chơi có thưởng; quản lý
lao động ngoài nước; giao thông hàng hải; giao thông hàng không dân dụng;
quản lý và bảo vệ công trình giao thông; công nghệ thông tin; viễn thông; tần
số vô tuyến điện; báo chí; xuất bản; thương mại; bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng; hải quan, thủ tục thuế; kinh doanh xổ số; kinh doanh bảo hiểm; thực
hành tiết kiệm, chống lãng phí; quản lý vật liệu nổ; bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản,
hải sản;
e) Phạt tiền đến 150.000.000 đồng: quản lý giá; kinh doanh bất động sản; khai
thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ
thuật; quản lý, phát triển nhà và công sở; đấu thầu; đầu tư;
g) Phạt tiền đến 200.000.000 đồng: sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả;
h) Phạt tiền đến 250.000.000 đồng: điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử
dụng nguồn tài nguyên nước;
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
15
b) Phạt tiền đến mức tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của
Luật này; Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn
hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm
hành chính;
c) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều 28 của
Luật này.
(2) Thẩm quyền của Công an nhân dân
Chiến sĩ Công an nhân dân đang thi hành công vụ có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 1% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định
tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 500.000 đồng.[33-Tr35].
Trạm trưởng, Đội trưởng của người được quy định tại khoản 1 Điều 39
của Luật này [39-Tr40] có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 3% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định
tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 1.500.000 đồng.
Trưởng Công an cấp xã, Trưởng đồn Công an, Trạm trưởng Trạm Công
an cửa khẩu, khu chế xuất có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 5% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định
nhưng không quá 2.500.000 đồng; Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành
chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy định tại điểm b khoản
này; Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, c và đ
khoản 1 Điều 28 của Luật này.[36-Tr37].
b) Phạt tiền đến 50% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định
nhưng không quá 50.000.000 đồng; Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ
hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; Tịch thu tang vật,
17
phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được
quy định; Giám đốc Công an cấp tỉnh quyết định áp dụng hình thức xử phạt
trục xuất;
c) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, c, đ, i và k
khoản 1 Điều 28 của Luật này.
(3) Thẩm quyền của Thanh tra
Thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên
ngành đang thi hành công vụ có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 1% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định
tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 500.000 đồng;
c) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá
mức tiền phạt được quy định tại điểm b khoản này; Áp dụng biện pháp khắc
phục hậu quả quy định tại các điểm a, c và đ khoản 1 Điều 28 của Luật này.
Chánh Thanh tra sở, Chánh Thanh tra Cục Hàng không, Chánh Thanh
tra Cục Hàng hải, Chánh thanh tra Cục An toàn bức xạ và hạt nhân, Chánh
thanh tra Ủy ban chứng khoán Nhà nước; Chi cục trưởng Chi cục An toàn vệ
sinh thực phẩm, Chi cục trưởng Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình thuộc
Sở Y tế, Chi cục trưởng Chi cục về bảo vệ thực vật, thú y, thủy sản, quản lý
chất lượng nông lâm sản và thủy sản, thủy lợi, đê điều, lâm nghiệp, phát triển
nông thôn thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Giám đốc Trung tâm
Tần số khu vực và các chức danh tương đương được Chính phủ giao thực hiện
chức năng thanh tra chuyên ngành có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
sát bảo hiểm, Cục trưởng Cục Tần số vô tuyến điện, Cục trưởng Cục Viễn
thông, Cục trưởng Cục Quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử,
Cục trưởng Cục Báo chí, Cục trưởng Cục Xuất bản, Cục trưởng Cục Quản lý
19
dược, Cục trưởng Cục Quản lý khám, chữa bệnh, Cục trưởng Cục Quản lý
môi trường y tế, Cục trưởng Cục Y tế dự phòng, Cục trưởng Cục An toàn vệ
sinh thực phẩm và các chức danh tương đương được Chính phủ giao thực
hiện chức năng thanh tra chuyên ngành có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến mức tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của
Luật này; Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn
hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm
hành chính;
c) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều 28 của
Luật này.
Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành cấp bộ có thẩm quyền xử phạt
theo quy định tại khoản 3 Điều này.
Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành cấp sở, trưởng đoàn thanh tra
chuyên ngành của cơ quan quản lý nhà nước được giao thực hiện chức năng
thanh tra chuyên ngành có thẩm quyền xử phạt theo quy định tại khoản 2 Điều
này. [48-Tr51]
1.2.2. Dấu hiệu trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực xây dựng
1.2.2.1. Chủ thể
Như đã phân tích ở trên, trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực dây
dựng là hậu quả pháp lý bất lợi mà Nhà nước buộc các tổ chức, cá nhân vi
phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng phải gánh chịu. Do đó, chủ thể
trách nhiệm hàn chính trong lĩnh vực xây dựng là các tổ chức, cá nhân có
năng lực trách nhiệm hành chính thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong
định của nhà nước về hoạt động xây dựng và kinh doanh bất động sản; khai
thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ
thuật, quản lý phát triển nhà ở và công sở...
21
1.2.2.3. Mặt khách quan
Mặt khách quan của trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực xây dựng là
hành vi của chủ thể trách nhiệm hành chính thực hiện trái với các quy định
của pháp luật về hoạt động xây dựng và kinh doanh bất động sản; khai thác,
sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật,
quản lý phát triển nhà ở và công sở. Khi xem xét hành vi của chủ thể trách
nhiệm hành chính có phải là hành vi vi phạm hành chính hay không, bao giờ
cũng phải có căn cứ pháp lý rõ ràng xác định hành vi đó có phải được pháp
luật quy định là sẽ chịu những hậu quả pháp lý bất lợi mà Nhà nước buộc các
tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng phải gánh chịu.
Dấu hiệu trong mặt khách quan bao bao gồm: thời gian thực hiện hành
vi vi phạm, thời gian thực hiện hành vi vi phạm, công vụ, phương tiện vi
phạm và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và hậu quả.
1.2.2.4. Mặt chủ quan
Dấu hiệu về mặt chủ quan của trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực
xây dựng chính là lỗi của chủ thể trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực xây
dựng. Lỗi ở đây được thể hiên dưới dạng lỗi cố ý hoặc vô ý.
Khi xác định dấu hiệu lỗi trong mặt chủ quan của trách nhiệm hành
chính trong lĩnh vực xây dựng, lỗi là trạng thái tâm lý bên trong của cá nhân,
do đó, dấu hiệu lỗi không đặt ra đối với chủ thể trách nhiệm hành chính là tổ
chức. Do đó, khi xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng, chỉ cần
xác định tổ chức đó có hành vi trái pháp luật hành chính trong lĩnh vực xây
dựng và hành vi đó theo quy định của pháp luật bị xử phạt bằng các biện pháp
xử phạt hành chính là đủ.
chức hoạt động của Thanh tra ngành Xây dựng có hiệu lực;
- Nghị định 166/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định về cưỡng chế thi
hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính;
23