LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay quá trình tự động hóa trong công nghiệp là hết sức quan trọng đối
với sự phát triển của một quốc gia. Với các nước phát triển như Mỹ, Nhật, … thì
tự động hóa không còn xa lạ và đã trở nên quen thuộc. Ở các nước này máy móc
hầu như đã thay thế lao động chân tay, số lượng công nhân trong nhà máy đã
giảm hẳn và thay vào đó là những lao động chuyên môn, những kỹ sư có tay
nghề, điều khiển giám sát trực tiếp quá trình sản xuất thông qua máy tính.
Bên cạnh đó, đất nước ta đang trong giai đoạn phát triển mạnh, đặc biệt là về
xây dựng. Rất nhiều các công trình có quy mô lớn đã và đang được thi công. Điều đó
đòi hỏi một số lượng lớn các trang thiết bị phục vụ cho việc xây dựng công trình,
trong đó có trạm trộn bê tông xi măng. Các trạm trộn bê tông xi măng đang được sử
dụng ở nước ta hiện nay rất đa dạng và phong phú cả về chủng loại, kích cỡ và xuất
sứ, trong đó có rất nhiều trạm do Việt Nam chế tạo.
Từ những thực tế trên, em đã lựa chọn đề tài “Thiết kế và thi công mô
hình trạm trộn bê tông dùng PLC S7 300 và mô phỏng trên WinCC” để làm đồ
án tốt nghiệp của mình.
Nội dung của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về trạm trộn bê tông tự động
Chương 2:giới thiệu về về PLC S7 300,WIN CC và trang bị điện cho
trạm bê tông.
Chương 3: Thiết kế chế tạo trạm trộn bê tông dùng PLC S7 300 và mô
phỏng bằng WinCC
Phần kết luận và tài liệu tham khảo
Để hoàn thành đồ án này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy ThS.
Tạ Hùng Cường đã hướng dẫn nhiệt tình để em hoàn thành đồ án tốt nghiệp. Em
xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tất cả các thầy cô trong Viện Kỹ Thuật và Công
Nghệ, trường Đại học Vinh đã tận tình hướng dẫn và truyền đạt kiến thức cho
em trong suốt thời gian theo học ở trường. Do thời gian và kiến thức còn hạn chế
Hình 2.1 Xy lanh khí nén
Hình 2.2 Nguyên lý làm việc của xy lanh khí nén
Hình 2.3 Sơ đồ mạch điều khiển
Hình 2.4 Sơ đồ cấu trúc
Hình 2.5 Các module
Hình 2.6 Mudule CPU
Hình 2.7 Module IM
Hình 2.8 Khởi tao NEW project
Hình 2.9 Chọn CPU
Hình 2.10 Chọn ngôn ngữ làm việc
Hình 2.11 Lữu tên chương trình
Hình 2.12 Giao diện 1 program
Hình 2.13 Giao diện làm việc
Hình 2.14 Đặt tên địa chỉ vào ra
Hình 2.15 PLC SIM
Hình 2.16 Tạo kết nối với PLC
Hình 2.17 Tạo drive kết nối PLC
Hình 3.1 Sơ đồ thuật toán
Hình 3.2 Đặt địa chỉ vào ra
Hình 3.3 Mô phỏng trên wincc
Hình 3.4 Kết nối mạch với wincc
Hình 3.5 Kết nối mạch với wincc
CÁC BẢNG BIỂU SỬ DỤNG TRONG ĐỒ ÁN
Bảng 1.1.Thành phần cấp phối theo trọng lượng
Bảng 1.2.Bảng phối phối theo thể tích tuyệt đối
Bảng 2.1 Tính chọn công suất động cơ
Bê tông có nhiều loại, có thể phân loại như sau:
* Theo cường độ ta có:
Bê tông thường có cường độ từ 150 400 daN/cm2
Bê tông chất lượng cao có cường độ từ 500 1400 daN/ cm2
* Theo loại kết dính
Bê tông xi măng, bê tông silicát, bê tông thạch cao, bê tông polime, bê tông
đặc biệt
* Theo loại cốt liệu:
Bê tông cốt liệu đặc, bê tông cốt liệu rỗng, bê tông cốt liệu đặc biệt, bê
tông cốt kim loại.
*Theo phạm vi sử dụng:
Bê tông thường được dùng trong kết cấu bê tông cốt thép (móng, cột, dầm,
sàn). Bê tông thuỷ công dùng để xây đập. Bê tông đặc biệt, bê tông chịu nhiệt, bê
tông chống phóng xạ.
1.1.3. Vật liệu làm bê tông
Để kết cấu được bê tông nhất thiết cần có các nguyên liệu sau:
Xi măng
Xi măng kết hợp với nước tạo thành hồ xi măng xen giữa các hạt cốt liệu,
đồng thời tạo ra tính linh động của bê tông (được đo bằng độ sụt nón) Mác của
xi măng được chọn phải lớn hơn mác của bê tông cần sản xuất, sự phân bố giữa
các hạt cốt liệu và tính chất của nó ảnh hưởng lớn đến cường độ của bêtông.
Bình thường hồ xi măng lấp đầy phần rỗng giữa các hạt cốt liệu và đẩy chúng ra
xa nhau một chút (với cự li bằng 243 lần đường kính hạt xi măng).
Trong trường hợp này phát huy được vai trò của cốt liệu nên cường độ của
bê tông khá cao và yêu cầu cốt liệu cao hơn cường độ bê tông khoảng 1,5 lần.
Khi bê tông chưá lượng hồ xi măng lớn, các hạt cốt liệu bị đẩy ra xa nhau hơn
đến mức chúng hầu như không có tác dụng tương hỗ nhau. Khi đó cường độ của
hỗn hợp bê tông. Lượng nước dùng trong nhào trộn bao gồm lượng nước tạo hồ
xi măng và lượng nước do cốt liệu. Lượng nước trong bê tông xác định tính chất
của hỗn hợp bê tông. Khi lượng nước quá ít, dưới tác dụng của lực hút phân tử
nước chỉ hấp thụ trên bề mặt vật rắn mà chưa tạo ra độ lưu động của hỗn hợp,
lượng nước tăng đến một giới hạn nào đó sẽ xuất hiện nước tự do, màng nước
trên mặt vật rắn dày thêm, nội ma sát giảm xuống, độ lưu động tăng thêm, lượng
nước ứng với lúc bê tông có độ lưu động lớn nhất mà không bị phân tầng gọi là
khả năng giữ nước của hỗn hợp.
Nước biển có thể dùng để chế tạo bê tông cho những kết cấu làm việc
trong nước bẩn nếu tổng các loại muối trong nước không vượt quá 35g trong
một lít nước. Tuy nhiên cường độ bê tông sẽ giảm và không được sử dụng trong
bê tông cốt thép.
Phụ gia
Phụ gia là các chất vô cơ hoặc hoá học khi cho vào bê tông sẽ cải thiện tính
chất của hỗn hợp bê tông hoặc bê tông cốt thép. Có nhiều loại phụ gia cho bê
tông để cải thiện tính dẻo, cường độ, thời gian rắn chắc hoặc tăng độ chống
thấm.
Thông thường phụgia sử dụng có hai loại: Loại rắn nhanh và loại hoạt
động bề mặt.
Phụ gia rắn nhanh thường là loại muối gốc (CaCl2) hay muối Silic. Do là
chất xúc tác và tăng nhanh quá trình thuỷ hoá của C3S và C2S mà phụ gia CaCl2 có
khả năng rút ngắn quá trình rắn chắc của bê tông trong điều kiện tự nhiên mà
không làm giảm cường độ bê tông ở tuổi 28 ngày.
Hiện nay người ta sử dụng loại phụ gia đa chức năng, đó là hỗn hợp của
phụ gia rắn nhanh và phụ gia hoạt động bề mặt hoặc các phụ gia tăng độ bền
nước.
1.2 chức năng và cấu tạo của trạm trộn
đá nhỏ) ở đây cát, đá to, đá nhỏ được chất thành các đống riêng biệt.
Yêu cầu đối với bãi chứa cốt liệu phải rộng và thuận tiện cho việc chuyên
chở cũng như lấy cốt liệu đưa lên máy trộn.
Hệ thống máy trộn bê tông
Hệ thống máy trộn bê tông bao gồm hệ thống thùng chứa liên kết với hệ
thống định lượng dùng để xác định chính xác tỉ lệ các loại nguyên vật liệu cấu
tạo nên bê tông. Băng tải dùng để đưa cốt liệu vào thùng trộn và gồm máy bơm
nước, máy bơm phụ gia, xi lô chứa xi măng, vít tải xi măng, thùng trộn bê tông,
hệ thống khí nén.
Giữa các bộ phận có các thiết bị nâng, vận chuyển và phễu chứa trung gian.
-
Máy trộn
Có nhiệm vụ là tạo ra bê tông với những mác xác định.
Nhìn chung các máy trộn bê tông có nhiều loại và có tính năng khác nhau
nhưng cấu tạo chung của chúng đều có các bộ phận:
Bộ phận cấp liệu: Bao gồm máng cấp liệu và các thiết bị định lượng thành
phần cốt liệu khô như đá, cát, sỏi, xi măng.
Bộ phận thùng trộn: Thùng trộn.
Bộ phận dỡ sản phẩm.
Hệ thống cấp nước.
Hệ thống cung cấp điện
Trạm trộn bê tông sử dụng nhiều động cơ có công suất lớn vì vậy trạm
trộn bê tông cần có một hệ thống cung cấp điện phù hợp để cung cấp cho các
động cơ và nhiều thiết bị khác.
1.3. Phân loại trạm trộn
Dựa theo năng suất, người ta chia các nơi sản xuất bê tông thành 3 loại như
Hình 1.2 Trạm trộn bê tông cố định
1.3.2. Trạm tháo lắp di chuyển được
Dạng này có thể tháo lắp di chuyển dễ dàng, di động phục vụ một số vùng
hay công trình lớn trong một thời gian nhất định. Thiết bị công nghệ của trạm
thường được bố trí dạng 2 hay nhiều công đoạn, nghĩa là vật liệu được đưa lên
cao nhờ các thiết bị ít nhất là 2 lần. Thường trong giai đoạn này phần định lượng
riêng và phần trộn riêng, giữa hai phần được nối với nhau bằng thiết bị vận
chuyển (gầu vận chuyển, băng tải xe, xe vận chuyển).
Vật liệu được đưa lên cao lần đầu nhờ máy xúc, gàu xúc băng chuyền....vào
các phễu riêng biệt sau đó là quá trình định lượng. Tiếp theo vật liệu được đưa
lên cao lần nữa để cho vào máy trộn.
Cũng như dạng trên, trong dây chuyền có thể lắp bất cứ loại máy trộn nào
miễn là đảm bảo mối tương quan về năng suất và chế độ làm việc của các thiết
bị khác. Cửa xả phải cao hơn cửa nhận bê tông của thiết bị vận chuyển (nếu
tháp cao hơn phải đưa lên cao một lần nữa). So với dạng cố định loại trạm này
có độ cao nhỏ hơn nhiều (từ 7m 10m) nhưng lại chiếm mặt bằng khá lớn. Phần
diện tích dành cho khu vực định lượng, phần diện tích dành cho trộn bê tông và
phần nối giữa hai khu vực dành cho vận chuyển. Trên thực tế, tổng mặt bằng
cho loại trạm này nhỏ hơn vì chúng có sản lượng nhỏ hơn nên bãi chứa cũng nhỏ
hơn.Khi xây dựng các công trình phân tán, đường xấu, lưu thông xe không tốt
thường sử dụng các trạm trộn di động hoặc cung cấp bê tông khô trên các ô tô
trộn. Việc trộn được tiến hành trên đường vận chuyển hay tại nơi đổ bê tông.
Hình 1.3 Trạm trộn bê tông di động
1.3.3. Phân loại máy trộn
Căn cứ theo phương pháp trộn được chia thành hai nhóm: Nhóm
trộn đặt nghiêng thực hiện (góc nghiêng của các cánh đó với phương hướng kính
thường có giá trị (400...500).
Theo nguyên lý hoạt động máy trộn cưỡng bức có hai loại: Máy trộn cưỡng
bức liên tục và máy trộn cưỡng bức làm việc theo chu kỳ
Máy trộn cưỡng bức liên tục:
Quá trình nạp trộn và xả bê tông diễn ra đồng thời, loại máy này vật liệu
vào liên tục do các cánh trộn có hướng thích hợp nên vừa trộn vừa chuyển dịch
về phía xả, được dùng để sản xuất bê tông và vữa xây dựng có năng suất trộn từ
5 m3/ h ữ 60m3 /h thậm chí 120 m3 / h. Thường các loại máy này được tổ hợp
trong các trạm trộn vì ở đó yêu cầu lượng bê tông và vữa lớn, số mác hạn chế .
Máy trộn cưỡng bức làm việc theo chu kỳ:
Quá trình làm việc của máy diễn ra theo trình tự: Nạp liệu, trộn xả bê tông.
Loại này dùng để sản xuất bê tông với thời gian trộn nhanh, chất lượng cao.
Thời gian hoàn thành một mẻ trộn không đến 90s. Các máy này có dung tích nạp
liệu từ 250 lít ữ 600 lít, thích hợp cho các trạm trộn riêng lẻ, phục vụ nhiều loại
công trình khác nhau.
Trong thực tế khi nhu cầu trộn bê tông lớn hơn 90m3 hay 1500 m3 tháng thì
phải thành lập trạm trộn bê tông trong nhà máy hay phân xưởng.
Căn cứ vào phương pháp đổ bê tông xi măng ra khỏi thùng, chia
thành 4 loại
Loại đổ bê tông bằng cách lật nghiêng thùng
Loại đổ bê tông bằng máng dỡ liệu
Loại đổ bê tông qua đáy thùng ( chỉ có loại máy trộn cưỡng bức)
Loại đổ bê tông bằng cách thùng quay ngược lại
* Phương pháp đổ bằng cách nghiêng lật thùng:
Chỉ thích hợp với các máy trộn kiểu tự do dung tích thùng nhỏ hơn 250 lít
(đối với loại lật thùng bằng lực quay tay) và nhỏ hơn 350 lít (loại lật thùng nhờ
Để bắt đầu một quá trình hoạt động mới, tránh trường hợp có quá trình
hoạt động trước đó (chẳng hạn như sự cố). Trong thùng cân nước, cân phụ gia,
cân xi măng, thùng trộn vẫn chưa xả hết nguyên liệu. Tại bàn điều khiển người
vận hành ấn nút Reset để:
Mở cửa xả bê tông
Mở cửa xả thùng cân cát
Mở cửa xả thùng cân đá.
Mở cửa xả thùng cân xi măng
Mở cửa xả thùng cân nước, phụ gia.
Lúc này mới cho phép hệ thống làm việc (điều kiện làm việc “=1” ). Sau
khi quá trình chuẩn bị xong. Từ máy tính người vận hành nhập các thông số của
mác bê tông như: khối lượng cát, đá1, đá2, xi măng, nước, phụ gia, số mẻ và các
dữ liệu quản lý hành chính như tên lái xe, biển số xe, ngày, giờ xuất hành...
Sau đó tới tủ điều khiển người vận hành chọn chế độ hoạt động cho máy là
tự động hay bằng tay.
Nếu là chế độ tự động người vận hành nhấn nút AUTO, nếu là chế độ
bằng tay thì nhấn nút MANUAL
Chế độ điều khiển tự động
Ở chế độ điều khiển tự động người vận hành chỉ cần nhấn nút Start trên
bàn điều khiển. Động cơ trộn bê tông cho chạy ở chế độ không tải. Máy sẽ tự
động cân đo các khối lượng nguyên vật liệu, ở đây thực hiện phương pháp cân
riêng lẻ.
Mở van xả cát, cát được xả xuống băng tải để đưa lên thùng cân. Đồng thời
đá1 cũng xả để đưa lên thùng cân.
Trong quá trình cân cốt liệu đồng thời cân luôn xi măng ,nước và phụ gia. Xi
măng từ xi lô chứa đưa vào thùng cân nhờ vít tải, khi khối lượng xi măng bằng
nhấn nút xả cốt liệu đồng thời nhấn nút xả xi măng. Do động cơ trộn luôn chạy
trong quá trình hoạt động nên sau khi xả xong cốt liệu, xi măng coi như máy đang
trôn bê tông khô, thời gian trộn ướt được bắt đầu tính khi xả nước và phụ gia.
Sau khi trộn ướt mẻ bê tông đã được hoàn thành, người vận hành chỉ việc nhấn
nút xả bê tông.
Không để chuyển mạch đóng mở cửa xả ở vị trí “tự động” vì khi đó có thể
bê tông sẽ bị xả theo chế độ tự động trong khi chưa cân đủ nước hoặc đủ xi
măng.
1.5. Thành phần vật liệu của bê tông
Thành phần vật liệu của bê tông đóng vai trò quyết định đến chất lượng
hay quyết định đến cường độ chịu lực cũng như mác của bê tông.Từ thực
nghiệm người ta đã xác định được mác của bê ông ứng với từng loại vật liệu
nhất định với một tỉ lệ xác định, ngược lại từ mác của bê tông người ta dễ dàng
tra được tỉ lệ thành phần trong bê tông.
Sau đây là một trong số mác bê tông do trạm bê tông thương phẩm Tây Mỗ
– Công ty cổ phần cơ giới lắp máy và xây dựng (VIMECO) cấp mẫu.
Bảng thành phần cấp phối bê tông
Cơ quan cấp mẫu : Trạm bê tông thương phẩm Tây Mỗ (VIMECO)
Loaị bê tông mác 150 độ sụt 6020 mm tại công trường. Vật liệu sử dụng:
Xi măng Bỉm Sơn
Cát vàng
Đá dăm 1x2.
Nước sinh hoạt
Phụ gia FDN 2002 A (0.40/100 kg xi măng)
Bảng thành phần cấp phối theo trọng lượng
851
1112
174
1.00
6020
150
Dung
trọng
(Kg/ m3)
2387
Bảng 1.1 thành phần cấp phối theo trọng lượng
Bảng thành phần cấp phối theo thể tích tuyệt đối
Thành phần vật liệu
Nguồn gốc
Khối lượng riêng(kg/m3)
Thể tích(m3)
Sinh hoạt
Phụ gia FDN 2002A
Hàm lượng khí
0.01
Bảng 1.2 thành phần cấp phối theo thể tích tuyệt đối
1.6. Định lượng vật liệu
Bộ phận quan trọng nhất của một trạm trộn là bộ phận định lượng nguyên
liệu. Để có được bê tông theo đúng mác yêu cầu ta phải đảm bảo độ chính xác
về tỷ lệ các thành phần xi măng, nước, cát và phụ gia.
Việc định lượng vật liệu trước đây dùng dây cơ khí, hiện tại thường được
thực hiện chủ yếu trên các cân băng tải hay các cân có bộ cảm biến trọng lượng
Loadcell.
1.7. Hoạt động của máy nén khí
Máy nén khí dùng để cấp khí nén điều khiển các cửa đóng mở cân, cấp đá,
cát, xi măng, nước, phụ gia và xả bê tông. Máy nén khí là một máy đã được chu
hoá dùng điện một pha tự động ổn định áp lực thông qua rơ le, tự động ngắt, tự
động bảo vệ.
* Theo cấu tạo các máy khí nén được phân thành: Máy nén khí pittông, máy
nén khí rôto, máy nén khí ly tâm, máy nén khí hướng trục và máy nén khí kiểu
phun.
Ví dụ:
Máy nén khí pittông:
Máy nén khí pittông đơn giản nhất gồm xi lanh hở, đầu kia được đậy nắp.
Trong nắp có đặt van nạp và xả. Pittông chuyển động tịnh tiến qua lại trong xi
làm việc với tốc độ cao mà vẫn bảo đảm khả năng cân bằng, ổn định, có thể nối
máy trực tiếp với động cơ điện.
- Các quá trình nạp và xả diễn ra liên tục
- Có độ tin cậy cao.
- Theo năng suất các máy nén khí được phân thành: Máy nén khí năng suất
thấp, có năng suất từ 0,04ữ10m3/ph; máy nén khí năng suất trung bình có năng
suất từ 10 100m3/ph; máy nén khí năng suất cao, có năng suất lớn hơn 100m3/ph.
- Theo nguyên lý nén khí chúng được chia thành hai nhóm:
Máy nén khí hoạt động theo nguyên tắc biến đổi động năng trong đó không
khí được truyền với một tốc độ lớn và được nén nhờ sự biến đổi động năng của
dòng khi chuyển động thành công nén (máy nén khí ly tâm, hướng trục thuộc
nhóm này)
Máy nén khí hoạt động theo nguyên tắc giảm thể tích chứa khí trong đó khí
lấy từ không gian có áp suất thấp đưa vào một không gian kín (không gian công
tác) sau đó được nén và tăng áp suất do giảm thể tích không gian kín (các loại
máy nén khí pittông, rôto, thuộc nhóm này)
1.8. Hoạt động của máy bơm nước
Máy bơm là máy thuỷ lực dùng để hút và đẩy chất lỏng từ nơi này đến nơi
khác. Chất lỏng dịch chuyển trong đường ống nên bơm phải tăng áp suất chất
lỏng ở đầu đường ống để thắng trở lực trên đường ống và thắng hiệu áp suất ở
2 đầu đường ống. Năng lượng bơm cấp cho chất lỏng lấy từ động cơ điện hoặc
từ các nguồn động lực khác. Điều kiện làm việc của máy bơm rất khác nhau
(trong nhà, ngoài trời, độ ẩm, nhiệt độ...) và bơm phải chịu được tính chất lý, hoá
của chất lỏng cần vận chuyển.