BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA NÔNG HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU TÁC NHÂN PHYTOPHTHORA VÀ PYTHIUM
GÂY HẠI TRÊN CÂY HOA LÀI (Jasminum spp.)
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGÀNH
: BẢO VỆ THỰC VẬT
NIÊN KHÓA
: 2007-2011
SINH VIÊN THỰC HIỆN : ĐINH THỊ ÁNH TUYẾT
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 08/2011
i
NGHIÊN CỨU TÁC NHÂN PHYTOPHTHORA VÀ PYTHIUM
GÂY HẠI TRÊN CÂY HOA LÀI (Jasminum spp.)
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Tác giả
Dịch Thực Vật Sau Nhập Khẩu II) đã tận tình hướng dẫn em trong quá trình thực hiện
và hoàn thiện đề tài tốt nghiệp.
Luôn ghi nhớ công ơn:
Con cảm ơn cha mẹ đã sinh thành và nuôi dạy con khôn lớn như ngày hôm nay, gia
đình luôn là điểm tựa để con phấn đấu cho các mục tiêu trong cuộc đời này.
Xin chân thành cảm ơn!
Tp. Hồ Chí Minh, 08/2011
Đinh Thị Ánh Tuyết
iii
TÓM TẮT
Đinh Thị Ánh Tuyết, Khoa Nông Học – Trường Đại Học Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh,
tháng 08/2011. Đề tài “Nghiên cứu tác nhân Phytophthora và Pythium gây hại trên cây
hoa lài (Jasminum spp.) tại thành phố Hồ Chí Minh”.
Giáo viên hướng dẫn:
TS. Lê Đình Đôn
ThS. Lê Cao Lượng
Cây hoa lài từ lâu đã được biết đến với nhiều công dụng trong đời sống, hoa lài
được dùng để ướp trà, làm cảnh, làm thuốc, nước hoa, mỹ phẩm và có cả vai trò trong tín
ngưỡng tại một số nơi. Đây là loài cây khá dễ trồng và mang lại hiệu quả kinh tế cao,
nhiều vùng đã chuyên canh cây trồng này từ khá lâu trong đó có Tp. Hồ Chí Minh, tuy
nhiên tình hình sâu bệnh hại là một phần nguyên nhân làm diện tích canh tác cây hoa lài
giảm sút các năm qua tại Tp. Hồ Chí Minh và bệnh thối rễ chết cây hoa lài có liên quan
đến tác nhân Phytophthora và Pythium mà hiện nay trong nước vẫn chưa có nghiên cứu
liên quan đến hai tác nhân này gây hại trên cây hoa lài. Xuất phát từ thực tế trên, đề tài đã
Khoảng nhiệt độ 20oC – 30oC là thích hợp nhất cho cả hai nhóm Phytophthora và
Pythium phát triển, ở nhiệt độ 35oC có 2 mẫu là NB03 và TL04 trong 16 mẫu phân lập
sinh trưởng rất chậm và ở nhiệt độ 15oC cả hai nhóm đều sinh trưởng chậm. Trên các môi
trường dinh dưỡng và tại các mức nhiệt độ thí nghiệm, nhóm Pythium luôn sinh trưởng
nhanh hơn so với nhóm Phytophthora.
v
Mục lục
Trang
Trang tựa
i
Lời cảm ơn .................................................................................................................. ii
Tóm tắt .......................................................................................................................iii
Mục lục
v
Danh sách các chữ viết tắt .......................................................................................viii
Danh sách các bảng ................................................................................................... ix
Danh sách các hình ..................................................................................................... x
Chương 1: GIỚI THIỆU ............................................................................................. 1
1.1 Đặt vấn đề ............................................................................................................. 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài ............................................................................. 2
1.2.1 Mục tiêu ............................................................................................................. 2
1.2.1 Yêu cầu .............................................................................................................. 2
3.3.2.1 Phương pháp chuẩn bị một số môi trường phân lập ..................................... 16
3.3.2.2 Phương pháp phân lập từ rễ .......................................................................... 17
3.3.2.3 Phương pháp phân lập từ đất ........................................................................ 18
3.3.3 Phương pháp đánh giá khả năng gây hại của các mẫu
Phytophthora và Pythium đã phân lập được .................................................... 18
3.3.3.1 Phương pháp đánh giá trên rễ ....................................................................... 18
3.3.3.2 Phương pháp đánh giá trên lá ....................................................................... 19
3.3.4 Phân nhóm các mẫu Phytophthora và Pythium
đã phân lập được bằng đặc điểm hình thái ...................................................... 20
3.3.4.1 Mô tả hình thái trên các môi trường dinh dưỡng .......................................... 20
3.3.4.2 Mô tả hình thái bằng phương pháp búi sợi nấm ........................................... 20
3.3.5 Khảo sát khả năng sinh trưởng của các mẫu
Phytophthora và Pythium đã phân lập được .................................................... 21
3.3.5.1 Khảo sát khả năng sinh trưởng trên các môi trường dinh dưỡng ................. 21
3.3.5.2 Khảo sát khả năng sinh trưởng ở các mức nhiệt độ khác nhau .................... 22
3.3.6 Phương pháp xử lý số liệu ............................................................................... 22
Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ................................................................ 23
4.1 Kết quả phân lập và phân nhóm Phytophthora và Pythium ............................... 23
4.1.1 Kết quả phân lập Phytophthora và Pythium .................................................... 23
4.1.2 Kết quả phân nhóm dựa vào đặc điểm hình thái học ...................................... 23
4.2 Khả năng gây hại của các mẫu Phytophthora và Pythium
đã phân lập được ................................................................................................ 24
vii
4.2.1 Khả năng gây hại trên rễ .................................................................................. 24
4.2.2 Khả năng gây hại trên lá .................................................................................. 26
4.3 Khả năng sinh trưởng của các mẫu Phytopthora và Pythium đã phân lập được
Thạch cà rốt (Carrot Agar)
ctv
Cộng tác viên
CV
Hệ số biến thiên (Coefficient of Variation)
Duncan
Duncan’s Multiple Range Test
NSC
Ngày sau cấy, ngày sau chủng
PCA
Thạch cà rốt khoai tây (Potato Carrot Agar)
PGA
Thạch đường khoai tây (Potato Glucose Agar)
SD
Độ lệch chuẩn (Standard Deviation)
Phytophthora và Pythium trên môi trường CRA ở nhiệt độ 15oC ......................... 48
Bảng 4.13 Đường kính tản nấm và tốc độ sinh trưởng trung bình của các mẫu
Phytophthora và Pythium trên môi trường CRA ở nhiệt độ 20oC ......................... 49
Bảng 4.14 Đường kính tản nấm và tốc độ sinh trưởng trung bình của các mẫu
Phytophthora và Pythium trên môi trường CRA ở nhiệt độ 25oC ......................... 50
Bảng 4.15 Đường kính tản nấm và tốc độ sinh trưởng trung bình của các mẫu
Phytophthora và Pythium trên môi trường CRA ở nhiệt độ 30oC ......................... 51
Bảng 4.16 Đường kính tản nấm và tốc độ sinh trưởng trung bình của các mẫu
Phytophthora và Pythium trên môi trường CRA ở nhiệt độ 35oC ........................ 52
x
DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Một số triệu chứng của bệnh thối rễ chết cây hoa lài .................................. 8
Hình 4.1 Triệu chứng sau 7 ngày chủng các mẫu Phytophthora và Pythium
đã phân lập được trên rễ cây đậu nành ...................................................... 25
Hình 4.2 Lá lài không gây vết thương sau 3 ngày chủng ......................................... 29
Hình 4.3 Lá lài không gây vết thương sau 10 ngày chủng ....................................... 29
Hình 4.4 Lá lài có gây vết thương sau 3 ngày chủng ............................................... 30
Hình 4.5 Lá lài có gây vết thương sau 10 ngày chủng ............................................. 30
Hình 4.6 Hình thái khuẩn lạc mẫu NB03 trên 4 loại môi trường
sau 3 ngày cấy ........................................................................................... 37
Hình 4.7 Hình thái khuẩn lạc mẫu NB04 trên 4 loại môi trường
sau 3 ngày cấy ........................................................................................... 37
Hình 4.8 Hình thái khuẩn lạc mẫu BM03 trên 4 loại môi trường
sau 3 ngày cấy ........................................................................................... 38
Hình 4.9 Hình thái khuẩn lạc mẫu BM10 trên 4 loại môi trường
1
Chương 1
GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Công dụng của hoa lài đã được con người biết đến từ lâu, từ thế kỷ 13 người
Trung Quốc đã dùng hoa lài để ướp trà, thế kỷ 17 du nhập vào Châu Âu và được dùng
như một loại cây cảnh có hương thơm. Hoa lài còn có vai trò quan trọng trong tín
ngưỡng của người Ấn Độ, là quốc hoa của Philippines và Indonesia, hiện nay cây hoa
lài được trồng làm cảnh ở khắp nước ta. Ngoài ra hoa lài còn được dùng làm nước hoa,
mỹ phẩm, và theo y học cổ truyền, hoa lài còn là vị thuốc hay, có tính bình, hơi hàn, vị
đắng có tác dụng tốt trong việc chữa bệnh .
Nhờ dược tính của mình mà hoa lài có giá trị kinh tế cao, mang lại nhiều lợi
nhuận cho người trồng. Hơn nữa cây hoa lài rất dễ trồng vì cây thích nghi khá tốt đối
với điều kiện khí hậu, đất đai ở nước ta trong đó có Tp. Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, thực
tế diện tích trồng cây hoa lài tại Tp. Hồ Chí Minh đang giảm một cách đáng kể, theo
báo cáo của Chi cục Bảo vệ thực vật Tp. Hồ Chí Minh năm 2001 diện tích trồng lài tại
quận 12 là 600 ha, huyện Hoóc Môn là 100 ha, đến năm 2010 diện tích trồng cây hoa
lài chỉ còn 74,5 ha ở quận 12 và 30 ha ở huyện Hoóc Môn. Thiệt hại do sâu bệnh hại
gây ra là một trong những nguyên nhân làm giảm hiệu quả kinh tế của việc canh tác
cây hoa lài dẫn đến diện tích trồng cây hoa lài tại Tp. Hồ Chí Minh bị giảm sút.
Hiện nay các nghiên cứu về bệnh hại trên cây hoa lài vẫn còn khá ít kể cả trên
thế giới và tại Việt Nam. Trong 43 nghiên cứu liên quan đến chi Jasminum thì chỉ có 6
nghiên cứu về sâu bệnh hại (Springerlink, 2011), các nghiên cứu trong nước mới chỉ
dừng lại ở điều tra, khảo sát mức độ thiệt hại của sâu bệnh gây ra trên cánh đồng, rất ít
nghiên cứu liên quan đến tác nhân gây hại, vì vậy các biện pháp quản lý bệnh hại còn
hạn chế. Một trong các bệnh hại quan trọng là bệnh thối rễ chết cây hoa lài vì bệnh rất
khó phát hiện, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh trưởng, năng suất, chất lượng nụ hoa
lài và khi cây đã thể hiện triệu chứng bệnh rõ ràng thì gần như không thể cứu chữa.
Khảo sát khả năng sinh trưởng của Phytophthora và Pythium.
1.3 Giới hạn đề tài
-
Chưa định danh được tên loài các mẫu Phytophthora và Pythium đã phân lập
được bằng mô tả hình thái học.
-
Chưa thực hiện chủng bệnh trên cây hoa lài bằng các mẫu Phytophthora và
Pythium đã phân lập được ở điều kiện ngoài đồng nhằm xác định lại tác nhân
gây bệnh theo qui tắc Koch.
3
Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Sơ lược về cây hoa lài
2.1.1 Nguồn gốc phân loại
Cây hoa lài có nguồn gốc ở Nam Á (Ấn Độ, Philippines, Myanmar và Sri
lanka) cho đến Ả Rập và được trồng làm cảnh khắp nơi.
Phân loại thực vật
Giới: ............................................................ Thực vật
Ngành Ngọc lan: ......................................... Magnoliophyta
Lớp Ngọc lan: .............................................. Magnoliopsida
Bộ :............................................................... Lamiales
Jasminum nudiflorum là hoa lài có màu vàng rực rỡ cũng được trồng ở đây.
(Ernest Guenther, 1952).
Theo Trần Thị Dung (1999), ở Việt Nam hoa lài đã có mặt khoảng một thế kỷ
trước ở làng hoa Ngọc Hà (Hà Nội), làng hoa Gò Vấp, Hoóc Môn (TP.HCM). Hiện
nay, để xuất khẩu hoa lấy hương liệu các nhà vườn ở Tp. Hồ Chí Minh gây trồng
chủng có cánh kép Jasminum sambac var. flora pleno Hort. (Trần Hợp, 1998).
2.1.2 Đặc tính thực vật học
Đặc điểm họ Oleaceae: Thân gỗ leo hay mọc thành bụi, phân nhánh lưỡng phân
rất rõ. Lá không có lá kèm, thường mọc đối hay lá kép lông chim lẻ. Hoa đều mẫu
năm, lưỡng tính ít khi đơn tính, có lá bắc và hai lá bắc con. Hoa ít khi mọc riêng lẻ mà
xếp thành chùm kép hay xim ở ngọn. Quả có thể là quả khô hay quả mọng.
•
Đặc điểm hình thái của loài Jasminum sambac
Theo Nguyễn Hữu Đảng (2003), Trần Hợp (1998) và Phạm Hoàng Hộ (1999)
thì cây lài Jasminum sambac có những đặc điểm sau:
-
Cây có thân gỗ nhỏ, mọc thành bụi, nhiều cành nhánh, có thể vươn dài
trên giá đỡ, thường cao 0,5 – 3 m. Lá bóng cả hai mặt, phiến lá hình bầu
dục hơi trái xoan, gần như không có cuống. Lá dài 3 – 12,5 cm, rộng 2 –
7,5 cm, ở kẽ lá có những gân phụ, mỗi bên có 5 – 6 gân phụ, lồi ở giữa,
cong đột ngột ở mép, gân con hình mạng lưới. Rễ thuộc loại rễ chùm,
phát triển nhiều, lan rộng. Hoa màu trắng, mọc thành cụm ở nách lá hay
ngọn cây, hoa rất thơm, thường mọc thành phát, mỗi phát hoa có từ 3 –
12 hoa, cánh hoa thường tròn hay tròn dài, hoa thường từ 8 – 10 cánh
5
2.1.3 Điều kiện sinh thái
Cây lài có nguồn gốc ở Nam Á, nhiệt độ thích hợp cho cây lài sinh trưởng là 20
– 330C, nhiệt độ thấp 8 – 100C cây sinh trưởng kém. Lài là cây ưa sáng, do đó cần
trồng nơi thoáng, rộng, không bị che bóng, cây mới cho năng suất cao và hoa mới
thơm. Lài cần nước để sinh trưởng và ra hoa liên tục nhưng không chịu úng do đó cần
trồng nơi cao ráo, tưới tiêu thuận lợi. Lài sống được trên nhiều loại đất khác nhau từ
đất đồng bằng trung tính (pH từ 6,5 – 7) đến đất đồi núi hơi chua (pH từ 3,5 – 4); từ
đất thịt nặng đến đất thịt pha cát, đất đồi núi nghèo dinh dưỡng, đất bạc màu nếu được
chăm sóc tốt, bón phân, tưới nước đầy đủ vẫn cho năng suất hoa cao.
Ngày dài và thời tiết nóng thuận lợi cho việc ra hoa và kích thước hoa lớn. Cây
lài phát triển tốt ở những vùng khô và dưới lượng ánh sáng mặt trời đầy đủ cây cho
lượng hoa dồi dào. Dưới điều kiện râm mát cây phát triển kém và cho hoa ít hơn. Nhiệt
độ ban ngày từ 27 – 32oC và ban đêm từ 21 – 27oC là tốt nhất. Nếu nhiệt độ ban đêm
dưới 21oC năng suất và kích thước hoa giảm. Cây chịu mặn và gió trung bình, gió
mạnh có thể làm gãy hoa (Trần Hợp, 1998).
6
2.1.4 Giá trị kinh tế của cây hoa lài
Trong những năm gần đây chương trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở một số
địa phương phát triển mạnh, nhất là mô hình trồng hoa màu theo hướng chuyên canh
cho hiệu quả kinh tế cao. Ngoài Tp. Hồ Chí Minh đã chuyên canh cây hoa lài lâu năm
thì một số tỉnh như Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Bình Dương đã đưa cây hoa lài
vào mô hình sản xuất nông nghiệp và được xem là mô hình rất có triển vọng.
Theo người dân canh tác cây hoa lài thì sau 3 tháng trồng cây sẽ ra hoa và cây
ra hoa quanh năm nên thời gian thu hoạch liên tục. Tuy năng suất cho hoa của cây lài ở
mùa nắng và mùa mưa không đồng đều, mùa nắng ra hoa nhiều hơn mùa mưa, giá cả
cây hoa lài trên thế giới (Lin, Y. Y. và ctv., 2004).
Theo Leonhardt và Teves (2002), các sinh vật hại chính trên cây hoa lài gồm:
-
Bọ trĩ gây hại hoa: Thrips hawaiiensis, Frankliniella occidentalis
-
Muỗi vằn gây hại hoa: Contarinia maculipennis
-
Nhện có phổ ký chủ rộng: Polyphagotarsonemus latus
-
Nhện đỏ: Tetranychus cinnabarinus
-
Bọ phấn trắng: Aleuroclava jasmini, Dialeurodes kirkaldyi
-
Rệp sáp: Pseudococcus longispinus
-
Sâu ăn lá: Psilogramma menephron
Vùng canh tác
2001
2007
2010
Quận 12
600
163
74,5
Huyện Hoóc Môn
100
110
30
Xã Bình Mỹ - Huyện Củ Chi
_
40
D
E
Hình 2.1 Một số triệu chứng của bệnh thối rễ chết cây hoa lài. A: triệu chứng vàng lá;
B: triệu chứng lá vàng và rụng; C: cây hoa lài chết do bệnh thối rễ; D, E: Bộ rễ bị hư
hại của cây hoa lài mắc bệnh thối rễ chết cây.
9
2.2 Sơ lược về Phytophthora và Pythium
2.2.1 Vị trí phân loại của Phytophthora và Pythium
Pythium và Phytophthora là hai chi thuộc lớp Oomycetes trong giới Chromista,
chúng không phải là nấm thực mà là vi sinh vật giống nấm.
Vị trí phân loại của Pythium và Phytophthora (Burgess và ctv., 2009)
Giới: ............................................................................... Chromista
Ngành: ............................................................................ Oomycota
Lớp:................................................................................. Oomycetes
Bộ:................................................................................... Peronosporales
Họ: .................................................................................. Pythiaceae
Chi: ................................................................................. Pythium
.................................................................................. Phytophthora
2.2.2 Đặc điểm của Phytophthora và Pythium
Lớp Oomycetes có những đặc trưng về hình thái và chu kỳ sống gần giống nấm
thực, tuy nhiên chúng được phân biệt rõ ràng với nấm thực bởi di truyền học và cơ chế
sinh sản của chúng (Erwin và Ribeiro, 1996), chúng sản sinh ra các sợi nấm không
vách ngăn, một đặc điểm chính phân biệt chúng với các chi nấm thực. Một đặc điểm
Bào tử noãn bị ức chế bởi ánh sáng, nhưng nhiệt độ cho bào tử noãn hình thành nhìn
chung là thấp hơn cho sự phát triển của túi noãn. Bào tử noãn được xem như là một
cấu trúc nghỉ và dưới điều kiện không thích hợp chúng đi vào giai đoạn ngủ nghỉ. Khi
điều kiện thích hợp trở lại cho sự nảy mầm chúng sẽ hình thành sợi nấm, sau đó hình
thành túi bào tử và động bào tử.
-
Bào tử hậu (Chlamydospore) là một cấu trúc nghỉ vô tính. Chúng là những tế
bào sinh dưỡng hình thành bên trong sợi nấm hoặc tại đầu chóp của sợi nấm. Chúng
phát triển vách dày, có thể tồn tại trong môi trường khắc nghiệt. Điều kiện tối thích
cho bào tử vách dày hình thành là nhiệt độ khoảng 15oC, sự hiện diện của sterol trong
môi trường nuôi cấy và một tỷ lệ cao của C (30:1). Sự nảy mầm có thể xảy ra khi nồng
độ dinh dưỡng cao, đặc biệt là glucose và asparagine.
Tất cả các dạng bào tử đều yêu cầu nước tự do cho sự nảy mầm. Bào tử tồn tại
trong đất hoặc trong xác bã thực vật đã chết. Mầm bệnh có thể được lan rộng bởi túi
bào tử, lan truyền nhờ gió, mưa, côn trùng, động vật và con người mang đất bị nhiễm
bệnh và cặn bã thực vật có mang mầm bệnh trên giày dép, quần áo, xe cộ và những
dụng cụ khác. Chúng sống tự do như một loài hoại sinh trong một thời gian ngắn cho
tới khi tìm được một ký chủ thích hợp (Trịnh Thị Phương Vy, 2005).
Các dạng bào tử được hình thành qua hai quá trình sinh sản, đó là quá trình sinh
sản vô tính và quá trình sinh sản hữu tính:
-
Sinh sản vô tính: tạo thành các cấu trúc gọi là bọc bào tử động, nơi hình thành
và giải phóng du động bào tử. Những du động bào tử này di chuyển được và có vai trò
quan trọng trong chu kỳ bệnh, đặc biệt là chức năng lan truyền trong đất ướt hoặc trên
bề mặt cây trồng. Du động bào tử giúp cho việc lan truyền bệnh nhanh chóng từ cây
bệnh sang cây khỏe.
tản và có thể sinh bào tử noãn (oospores) nhanh và nhiều trong môi trường nuôi cấy,
các loài còn lại là dị tản và chỉ sinh túi giao tử khi có sự kích thích hóa học từ các mẫu
của hình thức sinh sản đối ngược nhau (Brasier, 1992; Ko, 1978). Hệ thống lai của tính
dị tản liên quan tới kiểu sinh sản A1 và A2 là phổ biến ở tất cả các giống.
Chi Phytophthora là một chi rộng được công nhận là khá khó khăn trong phân
loại, tuy nhiên đặc trưng hình thái học vẫn là cơ bản để xác định loài và phân loại.
Theo Waterhouse (1963), phân loại các loài Phytophthora chủ yếu dựa trên hình thái
của túi bào tử có chóp đầu, hơi chóp đầu hoặc không chóp đầu; tính rụng của túi bào
tử; kiểu tiếp xúc của túi tinh và túi noãn.
Theo ghi nhận của Drenth và Sendall (2001) cho thấy Phytophthora dễ dàng
gây bệnh cho cây trồng hơn các loài của chi nấm thực vì chúng có những khả năng đặc
biệt hơn như:
-
Khả năng hình thành nhiều dạng bào tử khác nhau như túi bào tử, động bào tử
làm nhiệm vụ phát tán và xâm nhiễm trong thời gian ngắn, bào tử hậu và bào tử
12
noãn làm nhiệm vụ lưu tồn trong thời gian dài, bào tử noãn có khả năng sống
sót qua bộ máy tiêu hóa của động vật như ốc sên.
-
Khả năng hình thành túi bào tử nhanh trên mô ký chủ trong 3 – 5 ngày sau lây
nhiễm, dưới điều kiện môi trường thích hợp.
-
vào môi trường nuôi cấy.
Quá trình sinh sản vô tính diễn ra nhờ túi động bào tử và động bào tử, ở
Pythium động bào tử không được phóng thích trực tiếp từ túi động bào tử mà được
phóng thích qua một bọc giả (vesicle) được nối với túi bào tử bằng một khoang nhỏ.
13
Túi bào tử được chia tách với phần còn lại của sợi nấm bằng một vách ngăn. Từ túi
bào tử, hàm lượng những chất chưa biệt hóa di chuyển qua khoang nhỏ vào bọc giả
(vesicle), tại đây động bào tử được hình thành và phóng thích ra bên ngoài.
Động bào tử chỉ được phóng thích dưới điều kiện ẩm ướt. Sự sản sinh của túi
bào tử hoặc chỗ trương phồng của sợi nấm có thể bị kích thích bởi ion Mg, K và Ca.
Dịch tiết của rễ và những hạt nảy mầm kích thích sự nảy mầm của bào tử và hệ sợi
nấm. Bào tử hậu và bào tử noãn được kích thích nảy mầm bởi vài loại đường và amino
acid, hỗn hợp của những chất này cũng có tác dụng kích thích sự nảy mầm của bào tử
hậu và bào tử noãn đồng thời gây tính hướng dương của động bào tử, sterol có thể ảnh
hưởng tích cực đến sự sinh sản vô tính của Pythium.
Sinh sản hữu tính diễn ra bởi túi noãn và túi đực. Túi noãn dạng hình cầu như
quả chanh, thành của túi noãn có thể trơn hoặc có gai; khi tiếp xúc với túi noãn, túi đực
hình thành một ống thụ tinh để đâm xuyên qua túi noãn. Túi đực được xem là đơn
nghiêng (monoclinous) nếu chúng có cùng cuống với túi noãn và được xem là đôi
nghiêng (diclinous) nếu hình thành từ sợi nấm khác và phần ở gần cuống túi noãn hình
thành túi đực thì gọi là hypogynous.
Quá trình hình thành bào tử noãn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhiệt độ thuận lợi
cho sinh sản hữu tính đa phần thấp hơn nhiệt độ sinh trưởng nhưng cao hơn so với
nhiệt độ hình thành túi động bào tử. Các ion Ca, Mg, K, Zn và Mn kích thích sự hình
thành bào tử noãn, nhân tố quan trọng cho sinh sản hữu tính là sterol. Sterol kích thích
sự sinh sản, tăng sinh trưởng, tăng tính chịu đựng ở nhiệt độ cao và ảnh hưởng tính