Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp chống ngập lụt đô thị tại thành phố hồ chí minh - Pdf 40

1
LỜI MỞ ĐẦU
1.

ĐẶT VẤN ĐỀ
Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở hạ lưu sông Sài Gòn-Đồng Nai, là trung tâm kinh
2

tế của khu vực phía nam, diện tích 2095km với dân số hơn 10 triệu người, là trung tâm
kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật lớn của cả nước. Phần lớn địa hình có cao
độ thấp, diện tích có cao trình < +2,00m chiếm 60% diện tích toàn thành phố. Với hệ
thống kênh rạch dày đặc, chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều biển Đông, nên khi có
triều cường thường gây ra ngập cho các vùng thấp. Hiện nay, tình hình đô thị hóa đang
diễn ra nhanh, kênh rạch và các vùng trũng bị san lấp dành cho xây dựng đô thị, quy
hoạch về tiêu thoát nước không theo kịp với tốc độ phát triển của thành phố, vì vậy vấn
đề ngập úng đang là bài toán bức xúc và nan giải của thành phố, chắc chắn đây cũng là
vấn đề mà các thành phố lớn tại Việt Nam và trong khu vực cũng quan tâm tới. Hiện
tượng ngập lụt không chỉ diễn ra tại Việt Nam mà nó còn là vấn đề nan giải của các đô
thị lớn trên thế giới, nó ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội, gây ô nhiễm nghiêm
trọng đến môi trường, gây nguy hại đến hệ sinh thái và ảnh hưởng đến sức khỏe của con
người.
Hiện nay, vấn đề ngập lụt tại thành phố Hồ Chí Minh đã và đang là vấn đề gây
không ít tranh cãi, là nỗi bức xúc đối với các cơ quan hữu quan, các nhà khoa học và là
nỗi lo lắng thường trực của người dân.
Vì vậy thực hiện đề tài “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp chống ngập
lụt đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh”nhằm mục đích đánh giá một cách tổng quát vấn
đề ngập lụt tại thành phố từ đó đề xuất các giải pháp tổng hợp để chống ngập lụt tại thành
phố Hồ Chí Minh nói riêng và các đô thị lớn trên cả nước nói chung theo hướng phát
triển bền vững.
2.


phố.

-

Thu thập các tài liệu trong và ngoài nước về các giải pháp chống ngập lụt đô thị

-

Thu thập tài liệu về xu hướng phát triển và các định hướng về bảo vệ môi
trường trong tương lai

Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa.
-

Khảo sát thực tế theo tuyến đường, theo phường, theo cụm dân cư của 05 quận:
Quận Gò Vấp, Quận Thủ Đức, Quận Bình Thạnh, Quận 2, Quận 7. Để đánh giá
mức độ ảnh hưởng của ngập lụt đô thị đến đời sống người dân và các giải pháp
cộng đồng. (Biểu mẫu điều tra kèm theo phụ lục)

-

Tiến hành điều tra 100 phiếu/05 quận. Thời gian tiến hành điều tra từ 7/20129/2012.

Phương pháp phân tích và xử lý số liệu.
-

Dùng phần mềm SPSS cho điều tra xã hội học


3

TS. Phan Anh Tuấn, Trưởng phòng nghiên cứu vận hành, Trung tâm điều hành
chương trình chống ngập nước thành phố Hồ Chí Minh.

3.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu
Hiện trạng ngập lụt đô thị
Diễn biến và phạm vi ảnh hưởng ngâp lụt.
Cơ sở khoa học trong công tác quản lý chống ngập lụt đô thị
Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu hiện trạng ngập lụt và hành động cộng đồng tại các quận 2,
quận 7, quận Gò Vấp, quận Bình Thạnh, quận Thủ Đức của thành phố Hồ Chí Minh.
4.

Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

Ý nghĩa khoa học
Đề tài xây dựng trên cơ sở khoa học và thực tiễn đáng tin cậy làm cơ sở khoa học cho cơ
quan quản lý nhà nước hoạch định các chính sách, giải pháp về chống ngập lụt đô thị và
ứng dụng các kiến thức khoa học và giải pháp chống ngập trên thế giới vào điều kiện
thực tế ở nước ta.


4
Ý nghĩa thực tiễn
Việc nghiên cứu, đánh giá hiện trạng ngập lụt đô thị tại thành phố giúp cho ta hiểu được
bản chất của việc ngập lụt, nguyên nhân chủ yếu để từ đó đưa ra các chính sách và giải
pháp hợp lý để giải quyết vấn đề trên. Bên cạnh đó đề tài cũng cho thấy những ảnh hưởng

1.1.

TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC HIỆN TRONG VÀ

NGOÀI NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Vấn đề ngập lụt không chỉ diễn ra tại thành phố Hồ Chí Minh mà nó còn diễn ra ở
nhiều thành phố trên thế giới. Các nhà khoa học đã nghiên cứu thực trạng ngập lụt và
đưa ra các giải pháp để chống ngập lụt đô thị.
Giáo sư Danai Thaitakoo, một nhà nghiên cứu của Đại học Chulalongkorn Thái
Lan, đưa ra một số nguyên nhân gây ngập nước tại Bangkok như sau:
-

Mưa lớn

-

Lún sụt mặt đất do khai thác nước ngầm

-

Nước ngoại lai tràn về

-

Triều cao

-

Hệ thống tiêu thoát không đủ khả năng thoát nước

sông Itajái-Oeste ở thành phố Taío, đập Nam ở thượng nguồn sông Itajái do Sul tại
thành phố Ituporanga và đập Ibirama trên sông Hercílio. Thiết kế của các con đập này
giúp các thành phố của Braxin chống ngập.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam vấn đề nghiên cứu hiện trạng và giải pháp phòng chống ngập lụt đô
thị tại thành phố Hồ Chí Minh đã có nhiều nhà khoa học, các chuyên gia môi trường và
các Trường đại học, Viện nghiên cứu, nghiên cứu về vấn đề trên.
GS.TSKH Lê Huy Bá, chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực môi trường đã đưa một số
nguyên nhân gây ngập lụt tại Thành phố Hồ Chí Minh như sau::
-

Vị trí tạo thành của một “đô thị ngập triều”.

-

Do kênh rạch bị san lấp quá nhiều.

-

Do mưa, nhất là mưa đô thị ngày một tăng.

-

Do điều kiện mặt đất bị bêtông hóa cao, nước không thấm được xuống tầng đất
sâu và tầng nước ngầm, vừa gây ngập tầng đất mặt lại vừa làm mất lượng nước
bổ sung hằng năm cho nước ngầm, làm mực nước ngầm mỗi ngày một tụt sâu
hơn.

-


-

Đối với vùng ngập do mưa: không làm thêm các đường cống nối từ đường này
với đường khác; mà tạo thêm hệ thống cống lấy và dẫn nước mưa vùng phía
bắc trực tiếp ra sông Sài Gòn, không cho đi qua nội thành nữa.

-

Đối với vùng thấp: xây dựng hồ điều hòa dạng chìm chứa lượng nước chưa kịp
tiêu thoát, sau đó khi triều rút thoát nước tự chảy.

-

Xây dựng các hồ điều hòa nửa nổi nửa chìm, hay hồ chìm ở một số quận nội
thành, một số hồ sinh thái - điều hòa ở các quận 12, 9, 7, Bình Tân, Nhà Bè,
Thủ Đức, Bình Chánh, Hóc Môn.

-

Các giải pháp phi công trình: tăng cường năng lượng quản lý hệ thống thoát
nước, xây dựng hệ thống hành lang pháp lý, nâng cao nhận thức cộng đồng...
Việc để người dân tự quản lý, kiểm soát những công trình giảm thiểu lũ cũng là
một yếu tố quan trọng góp phần hạn chế ngập lụt ở các đô thị.

TS Nguyễn Đăng Sơn đưa ra một số giải pháp chống ngập ở Tp. HCM như sau:
-

Thay đổi về mặt nhận thức: phát triển và đô thị hoá không đồng nghĩa với việc
bê tông hoá đô thị. Cần đảm bảo mức độ tương xứng giữa tỷ lệ mảng xanh (cây
xanh, khong gian mở) và mảng xám (công trình xây dựng).


tế của khu vực phía nam, diện tích 2095km với dân số hơn 10 triệu người, là trung tâm
kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật lớn của cả nước. Phần lớn địa hình có cao
độ thấp, diện tích có cao trình < +2,00m chiếm 60% diện tích toàn thành phố. Địa hình
thành phố thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây.
Thành phố Hồ Chí Minh có tọa độ địa lý:
X= 10°10' – 10°38' vĩ độ bắc
Y=106°22' – 106°54' kinh độ đông
Ranh giới hành chính thành phố Hồ Chí Minh:
-

Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương.

-

Phía Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh.

-

Phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang.



Phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai.



Phía Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

Thành phố Hồ Chí Minh cách Hà Nội 1.730 km theo đường bộ, trung tâm thành phố cách

Minh ra thành 5 vùng thoát nước theo cấp độ địa hình và hiện trạng sông ngòi:
- Khu thoát nước phía Bắc chịu ảnh hưởng triều từ sông Sài Gòn, có địa hình phức tạp,
lồi lõm dạng lượn sóng. Nơi cao nhất ở các đồi Long Bình và Long Thạnh Mỹ (30 m).
Khu vực Hóc Môn, Bắc Bình Chánh và Tân Bình triền thoải và ít lồi lõm hơn có cao độ
từ 3,0÷7,0 m.
- Khu vực thoát nước phía Đông sông Sài Gòn có cao trình từ 0,5m đến 1,4 m là vùng
trũng thấp dọc theo sông Sài Gòn và Đồng Nai thuộc Thủ Đức, Quận 2 và Quận 9, cục bộ
như Giồng Ông Tố (Q.2) có cao trình khoảng 5,0 m.
- Khu thoát nước phía Tây sông Sài Gòn có cao trình từ 5 m đến 10 m rìa gò đồi kéo dài
từ Hóc Môn - Bà Điểm đến Tân Sơn Nhất, GòVấp đến Quận 1, đan xen với các vùng
thấp hơn 5,0 ÷7,0 m. Các vùng gò đồi ngăn cách bằng các vùng trũng hẹp thông ra sông
rạch lớn như sông Sài Gòn, rạch Bến Cát, Tham Lương cao trình khoảng 0,6 ÷ 1,0 m, có
vùng thấp hơn -0,2 m.
- Khu thoát nước phía Nam: Ranh giới tự nhiên phân chia thành Bắc Sài Gòn và Nam Sài
Gòn bởi Rạch Bến Nghé. Bắc Sài Gòn ở phía trên rạch Bến Nghé có địa hình thoải về
phía Nam và Đông Nam. Nam Sài Gòn ở phía dưới rạch Bến Nghé có địa hình thấp hơn,
thường xuyên chịu ảnh hưởng triều của Biển Đông. Hệ thống kênh rạch ở vùng này khá
chằng chịt, uốn khúc.
- Khu thoát nước giáp biển, đây là vùng đất thấp phía cực Nam và tiếp giáp Biển. Địa hình
bằng phẳng cao độ mặt đất trung bình 0,7÷0,8 m. Riêng dãy cồn cát dọc biển tương đối
cao hơn và có cao độ từ 1,5÷2,5 m. Vùng này bị chia cắt bởi hệ sông kênh rạch chằng
chịt, tạo thành nhiều cù lao lớn nhỏ chịu sự tác động mạnh của thủy triều. Từ biểu đồ
hình 1 cho thấy, đất đai có cao độ dưới 1,5m chiếm 65% diện tích tự nhiên chịu ảnh


11
hưởng thủy triều, độ dốc nhỏ và ảnh hưởng chế độ nhật triều nên khả năng tiêu thoát
nước tự chảy rất khó khăn trong thời đoạn triều lên.

Biểu đồ1.1: Diện tích qui đổi theo cao độ địa hình thành phố Hồ Chí Minh

nhỏ khoảng hơn 400 ha (0,2%) là "giồng" cát gần biển và đất feralite vàng nâu bị xói
mòn trơ sỏi đá ở vùng đồi gò:
Nhóm đất phù sa không hoặc bị nhiễm phèn, phân bố ở những nơi địa hình hơi cao
khoảng 1,5-2,0m. Nó tập trung tại vùng giữa của phía Nam huyện Bình Chánh, Ðông
Quận 7, Bắc huyện Nhà Bè và một ít nơi ở Củ Chi, Hóc Môn.
Nhóm đất phù sa hai loại: đất phù sa không được bồi, có tầng loang lổ. Trong đó hai loại
đầu chiếm diện tích lớn hơn; loại sau, là đất phù sa ngọt, đất rất tốt, chỉ có khoảng 5.200
ha (2,7%). Ðất phù sa nói chung có thành phần cơ giới từ sét trung bình tới sét nặng. Ðất
có phản ứng chua, độ pH khoảng 4,2-4,5 ở tầng đất mặt và xuống sâu 0,5- 1,2m độ chua
giảm nhiều, pH nâng lên tới 5,5-6,0. Hàm lượng mùn trung bình, các chất dinh dưỡng
khá. Là loại đất màu mỡ, thuận lợi cho phát triển trồng lúa cao sản, chất lượng tốt.
Nhóm đất phèn có hai loại: đất phèn nhiều và đất phèn trung bình. Chúng phân bố tập
trung chủ yếu ở hai vùng. Vùng đất phèn Tây Nam Thành phố, kéo dài từ Tam Tân-Thái
Mỹ huyện Củ Chi xuống khu vực Tây Nam huyện Bình Chánh -các xã Tân Tạo, Phạm
Văn Hai, Lê Minh Xuân... Vùng này hầu hết thuộc loại đất phèn nhiều (phèn nặng); đất
rất chua, độ pH khoảng 2,3-3,0. Nó cùng điều kiện thành tạo và tính chất giống như đất
phèn vùng Ðồng Tháp Mười. Vùng đất phèn ven sông Sài Gòn-Rạch Tra và bưng Sáu xã
quận 9. ở đây hầu hết diện tích thuộc loại đất phèn trung bình và ít, phản ứng của đất
chua nhẹ ở tầng đất mặt, độ pH khoảng 4,5-5,0; song giảm mạnh ở tầng đất dưới, đất rất


13
chua, độ pH xuống tới 3,0-3,5. Ðất phèn có thành phần cơ giới từ sét đến sét nặng, đất
chặt và bí. Dưới độ sâu khoảng từ 1m trở xuống, có nhiều xác hữu cơ nên đất xốp hơn.
Ðất khá giàu mùn, chất dinh dưỡng trung bình; song hàm lượng các ion độc tố cao, nên
trên đất phèn không thích hợp với trồng lúa. Tuy nhiên, tăng cường biện pháp thủy lợi
tưới tiêu tự chảy để rửa phèn, có thể chuyển đất canh tác từ một vụ sang hai vụ lúa .

Nhóm đất phèn mặn: Ở thành phố Hồ Chí Minh, nhóm đất phèn mặn là nhóm có diện
tích lớn nhất. Nó phân bố tập trung ở đại bộ phận lãnh thổ huyện Nhà Bè và hầu như toàn

phố dài 106km. Ngoài ra, còn có sông Đồng Nai. Có mạng lưới sông rạch chằng chịt gồm
7.880km kênh rạch chính, khoảng 33.500ha diện tích mặt nước, diện tích vùng đất thấp
có cao độ dưới 2m bao gồm cả diện tích mặt nước chiếm 61% diện tích tự nhiên, nằm ở
vùng cửa sông với nhiều công trình điều tiết lớn ở thượng nguồn như hồ Dầu Tiếng trên
sông Sài Gòn, hồ Trị An trên sông Đồng Nai.
Kênh rạch: Kênh rạch tự nhiên đóng vai trò quan trọng trong việc tiêu thoát nước từ
Thành phố ra biển, cũng theo đó thủy triều Biển Đông truyền vào nội địa và đây là chỗ
chứa nước tạm thời thay cho diện tích ngập lụt đường phố phải gánh chịu. Tuy nhiên, kết
quả điều tra cho thấy khoảng 50% tổng chiều dài kênh rạch thoát nước hiện hữu đang bị
lấn chiếm khiến dòng chảy bị thu hẹp, nhiều đoạn không thể nạo vét đã làm cho khả năng
tiêu thoát nước ngày càng suy giảm. Các kênh cấp 4, cấp 3 thậm chí cả kênh cấp 2 được
thay thế bằng hệ cống ngầm nhưng chưa có giải pháp công trình thay thế trả lại diện tích
mặt nước tự nhiên, làm mất đi dung tích chứa tạm nước mưa và nước triều mà không có
giải pháp bổ sung, điều này đã làm giảm khả năng điều tiết nước và gia tăng mức độ ngập
trên địa bàn thành phố trong thời gian gần đây.
Mặc dù thời gian qua đã có chỉ thị về tăng cường quản lý nhà nước đối với hệ thống kênh
rạch nhưng kênh rạch thành phố vẫn bị tiếp tục san lấp và lấn chiếm nhất là các vùng đô
thị mới. Chỉ tính sơ bộ từ năm 1996 đến năm 2008 đã có trên 100 kênh rạch lớn nhỏ bị san
lấp và lấn chiếm với tổng diện tích khoảng 4000 ha. Ngoài ra, còn biến trên 16500 ha đất
nông nghiệp (Trung tâm điều tra Tp. Hồ Chí Minh, năm 2009), ao hồ, vùng trũng thành
đất xây dựng, điều này đã làm mất đi khoảng 14.000 ha mặt nước tự nhiên.
Theo qui định của Thủ tướng Chính phủ, các đô thị phải đảm bảo diện tích mặt nước tối
thiểu là 17% diện tích tự nhiên. Tuy nhiên thực tế cho thấy (bảng 1) tỉ lệ diện tích mặt
nước khu đô thị Tp. Hồ Chí Minh chỉ đáp ứng 4,7%. Đây là một nhân tố quan trọng gây


15
nên ngập úng trong thời gian gần đây so với thời kỳ 1985-1986 diện tích mặt nước đạt
trên 25% diện tích tự nhiên.



8174

604.15

7.39

Phía Tây

Quận Tân Phú và quận Bình Tân

7991

452.8

5.67

Phía Bắc

Quận Gò Vấp và quận 12

13619

451.25

3.31

Phía Đông

Quận 2, 9 và quận Thủ Đức


16
chỉnh trang ven bờ, tô điểm vẻ đẹp cảnh quan sông nước, phát huy lợi thế hiếm có đối với
một đô thị lớn.
Nước ngầm: ở Thành phố Hồ Chí Minh, nhìn chung khá phong phú tập trung ở vùng
nửa phần phía Bắc-trên trầm tích Pleixtoxen; càng xuống phía Nam (Nam Bình Chánh,
quận 7, Nhà Bè, Cần Giờ)-trên trầm tích Holoxen, nước ngầm thường bị nhiễm phèn,
nhiễm mặn. Khu vực nội thành cũ có lượng nước ngầm đáng kể, tuy chất lượng không
thực sự tốt, vẫn được khai thác chủ yếu ở ba tầng: 0–20 m, 60–90 m và 170–200 m (tầng
trầm tích Miocen). Tại Quận 12, các huyện Hóc Môn và Củ Chi, chất lượng nước tốt, trữ
lượng dồi dào, thường được khai thác ở tầng 60–90 m, trở thành nguồn nước bổ sung
quan trọng.
Theo thống kê của Sở Tài nguyên & Môi trường (TNMT) TPHCM, hiện nay, tổng trữ
lượng khai thác nước ngầm của thành phố đạt trên 2,5 triệu m3/ngày. Tính đến cuối năm
2010, số giếng khoan tại TPHCM đã tăng gần 7 lần so với năm 2000 với tổng lưu lượng
khai thác lên tới 550.000 - 600.000 m3/ngày, trong đó lưu lượng khai thác được cấp phép
chỉ chiếm khoảng 320.000 m3/ngày. Do khai thác tràn lan, vượt tầm kiểm soát nên ở
nhiều vùng xuất hiện tình trạng sụt lún mặt đất, diễn ra tập trung tại các KCN như Tân
Bình, Tân Tạo, Vĩnh Lộc.... Do khai thác nước ngầm tập trung với lưu lượng lớn, hiện
nay, trữ lượng khai thác an toàn nhiều nơi bị khai thác cạn kiệt, gây mất cân bằng nước.
Trong khi đó, tình trạng bê tông hóa ở nhiều nơi tại thành phố làm hạn chế khả năng hấp
thụ nước tự nhiên bổ sung trữ lượng các tầng nước ngầm. Hiện tại thành phố đã ngưng
cấp phép khai thác nước dưới đất trong nội thành và và một số vùng ngoại ô, nhằm bảo
vệ trữ lượng nước dưới đất và hạn chế tình trạng sụt lún tại một số nơi. Đây là giải pháp
cấp bách để giải quyết tình trạng trên.
1.3.2. Thủy văn
Về thủy văn, nằm ở vùng hạ lưu hệ thống sông Ðồng Nai - Sài Gòn, Thành phố
Hồ Chí Minh có mạng lưới sông ngòi kênh rạch rất đa dạng. Sông Ðồng Nai bắt nguồn từ
cao nguyên Lâm Viên, hợp lưu bởi nhiều sông khác, có lưu vực lớn, khoảng 45.000 km².
Với lưu lượng bình quân 20–500 m³/s, hàng năm cung cấp 15 tỷ m³ nước, sông Đồng Nai


Hệ thống kênh Tham Lương – Bến Cát – Vàm Thuật

Độ dốc của phần lớn các kênh rạch này là rất nhỏ, đáy kênh thì bị lấp đầy bởi các vật chất
lắng đọng từ nước thải đô thị và rác rưởi ném từ các hộ dân cư sinh sống trên và ven kênh
rạch cũng như các ghe xuồng buôn bán trên sông, do đó khả năng thoát nước rất kém. Nét
đặc trưng của hệ thống kênh rạch thành phố là bị ảnh hưởng mạnh bởi thuỷ triều, một vài
kênh còn bị ảnh hưởng bởi nhiều hướng. Kết quả là các chất ô nhiễm tồn đọng lại trong
kênh và đang bị tích tụ dần. Sự ô nhiễm nước và tích tụ bùn lắng trên các kênh rạch này
không chỉ làm xấu cảnh quan đô thị, đặc biệt khu vực gần phía trung tâm thành phố, mà
còn ảnh hưởng không tốt đối với sức khoẻ cộng đồng.
1.2.1.3. KHÍ HẬU – THỜI TIẾT
Điều kiện khí hậu
Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, Thành phố Hồ Chí Mình có nhiệt
độ cao đều trong năm và hai mùa mưa – khô rõ rệt. Mùa mưa được bắt đầu từ tháng 5 tới
tháng 11, còn mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau. Trung bình, Thành phố Hồ Chí
Minh có 160 tới 270 giờ nắng một tháng, nhiệt đó trung bình 270C, cao nhất lên tới 400C,
thấp nhất xuống 13,80C. Hàng năm, thành phố có 330 ngày nhiệt độ trung bình 25 tới


18
280C. Lượng mưa trung bình của thành phố đạt 1.949 mm/năm, trong đó năm 1908 đạt
cao nhất 2.718 mm, thấp nhất xuống 1.392 mm vào năm 1958. Một năm, ở thành phố có
trung bình 159 ngày mưa, tập trung nhiều nhất vào các tháng từ 5 tới 11, chiếm khoảng
90%, đặc biệt hai tháng 6 và 9. Trên phạm vi không gian thành phố, lượng mưa phân bố
không đều, khuynh hướng tăng theo trục Tây Nam – Ðông Bắc. Các quận nội thành và
các huyện phía Bắc có lượng mưa cao hơn khu vực còn lại. Vào những tháng mùa mưa từ
tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa lớn thường gây ra ngập lụt cục bộ cho thành phố. Ngập
do mưa thường xảy ra tại các khu vực có cao độ thấp và hệ thống thoát nước không tốt
Thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng bởi hai hướng gió chính là gió mùa Tây – Tây

Mật độ dân số
(người/ km2)

01

Quận 1

8

187.435

24.248

02

Quận 2

50

140.621

2.827

03

Quận 3

5

188.945


35.254

07

Quận 7

36

274.828

7.700

08

Quận 8

19

148.961

21.844

09

Quận 9

114

263.486


8.092

13

Quận Phú Nhuận

5

175.175

35.897

14

Quận Thủ Đức

48

455.889

9.546

15

Quận Tân Bình

22

430.436


548.145

27.768

19

Quận Bình Thạnh

21

470.054

22.642

20

Huyện Bình Chánh

253

447.291

1.770

21

Huyện Hóc Môn

109


70.697

100

(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2010 thành phố Hồ Chí Minh)
Dân số
Theo kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2009 Thành phố Hồ Chí Minh có dân số
7.123.340 người, gồm 1.812.086 hộ dân, bình quân 3,93 người/hộ. Phân theo giới tính:
Nam có 3.425.925 người chiếm 48,1%, nữ có 3.697.415 người chiếm 51,9% . Dân số
thành phố tăng nhanh, trong 10 năm từ 1999-2009 dân số thành phố tăng thêm 2,086.185
người, bính quân tăng gần 209.000 người/năm, tốc độ tăng 3,53%/năm, chiếm 22% số
dân tăng thêm của cả nước trong vòng 10 năm. Áp lực dân số sẽ ảnh hưởn rất lớn đến cấu
trúc đô thị, quy hoạch thành phố và quản lý môi trường.
1.2.2.2. QUY HOẠCH VÀ KẾT CẤU ĐÔ THỊ
Theo thiết kế đô thị ban đầu của người Pháp vào năm 1860, thành phố Sài Gòn sẽ
là nơi sinh sống cho 500.000 dân. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã tăng qui mô của
thành phố lên đến 3 triệu dân. Tuy nhiên hiện nay thành phố này có dân số kể cả số lượng
khách vãng lai là 10 triệu người, kết cấu đô thị đã quá tải. Sài Gòn từng là thành phố của
cây xanh với không gian kiến trúc theo quy hoạch của Pháp trước đây đã thay đổi với
việc thu hẹp không gian xanh để xây dựng nhà cửa, không gian kiến trúc thành phố này


21
trở nên chật chội với nhiều công trình xây dựng hỗn độn thiếu tính thống nhất. Công tác
quy hoạch có nhiều bất cập và yếu kém. Đến thời điểm đầu năm 2008 mới chỉ có 23%
khối lượng công tác quy hoạch 1/2000 được thực hiện. Quy hoạch cho hệ thống công
trình ngầm vẫn chưa được thực hiện xong. Công tác xây quy họach và xây dựng đô thị
mới vẫn mang nặng tư duy thời kỳ bao cấp. Trong 10 năm gần đây, khu vực đô thị mới
để lại dấu ấn lớn trong quá trình phát triển thành phố này là khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng


23
CHƯƠNG 2
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1. HIỆN TRẠNG NGẬP LỤT TẠI TP HỒ CHÍ MINH
Hiện nay, toàn thành phố còn khoảng 31 điểm ngập chủ yếu do mưa trong đó khu
vực nội thành có đến 12 điểm. Tổng số lần ngập và tổng số các vị trí ngập giảm dần theo
các năm từ 2009-2012. Chúng ta đều rõ TP HCM nhìn chung cao độ đất thấp cho nên
nguyên nhân chính gây ngập do mưa lớn, trong khi hệ thống tiêu thoát hiện hữu không đủ
khả năng thoát nước. Nhiều nhất trên các tuyến đường Nguyễn Hữu Cảnh, Điện Biên
Phủ, D2, D3, Xô Viết Nghệ Tĩnh (Quận Bình Thạnh), Cao Thắng (Quận 3), Trần Xuân
Soạn (Quận 7)… Khi mưa với cường độ khoảng trên 40 mm, thời gian ngắn thường sinh
ra ngập úng. Nếu mưa với cường độ lớn hơn, thời gian mưa tập trung dài hơn thì mức độ
ngập úng càng nguy hiểm hơn. Ngập úng do mưa cũng có liên quan đến hệ thống tiêu
thoát nước, đặc biệt là hệ thống kênh cống tiêu ở khu nội thành.

Bảng 2.1: Số vị trí ngập tại các quận trung tâm và vùng ngoại vi thành phố
Năm

Các quận vùng

Các vùng ngoại vi

trung tâm

Tổng số

Tổng số

lần ngập vị trí


105

359

99

5

2010

33

55

20

58

113

53

3

2011

25

76

24

Bảng 2.2: Diện tích ngập trung bình, thời gian ngập trung bình tại các quận trung tâm và
vùng ngoại vi thành phố
Năm

Diện tích ngập

Thời gian ngập

Vũ lượng trung

trung bình

trung bình

bình bắt đầu gây ngập

(m2)

(phút)

(mm)

2009

2929

162



SỐ LẦN NGẬP

800
600
400

359

200

254

0

THỜI GIAN (Năm)

105
2009

113
55
58
2010

167
76
91
2011



91

59

Biều đồ 2.1: Thống kê số lần ngập nước tại các quận vùng trung tâm và các
quận vùng ngoại vi thuộc khu vực thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2003-2012


25
200
180
160
140

SỐ VỊ TRÍ NGẬP

120

99

100
80
68

60

53

49


68

33

25

12

Số vị trí ngập vùng ngoại vi

31

20

24

19

40
20

THỜI GIAN (Năm) 0

31
12

31

Biều đồ 2.2: Thống kê số vị trí ngập nước tại các quận vùng trung tâm và các


11

Tuệ Tĩnh

Bà Siêu

Tân Phú

Tân Hòa Đông

Rạch Bàu Trâu

9

Trước trường TH Kỹ

Phước Long A

STT

Đường

4 Phan Anh
5 Đỗ Xuân Học

Nghệ
6 Quang Trung

Gò Vấp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status