BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP. HCM
TRẦN HỮU TUẤN
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ
XUẤT GIẢI PHÁP CHỐNG NGẬP LỤT
ĐÔ THỊ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG
Mã số: 60520320
TP. HỒ CHÍ MINH, THÁNG 3, 2013
1
LỜI MỞ ĐẦU
1.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở hạ lưu sông Sài Gòn-Đồng Nai, là trung tâm kinh
2
tế của khu vực phía nam, diện tích 2095km với dân số hơn 10 triệu người, là trung tâm
kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật lớn của cả nước. Phần lớn địa hình có cao
độ thấp, diện tích có cao trình < +2,00m chiếm 60% diện tích toàn thành phố. Với hệ
thống kênh rạch dày đặc, chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều biển Đông, nên khi có
triều cường thường gây ra ngập cho các vùng thấp. Hiện nay, tình hình đô thị hóa đang
diễn ra nhanh, kênh rạch và các vùng trũng bị san lấp dành cho xây dựng đô thị, quy
Thu thập số liệu về diện tích bị ngập tại các năm, vị trí ngập lụt, thời gian ngập lụt,
mức độ ngập lụt và chất lượng nước ngập.
3. Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu-nước biển dâng đến vấn đề ngập lụt tại thành
phố Hồ Chí Minh theo kịch bản biến đổi khí hậu- nước biển dâng năm 2012 của Bộ
Tài nguyên và Môi trường.
4. Đánh giá tổng hợp công tác quản lý chống ngập của thành phố Hồ Chí Minh.
5. Đề xuất các giải pháp thích hợp để chống ngập lụt theo hướng phát triển bền vững.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập, tổng hợp các tài liệu có liên quan.
-
Thu thập các bài báo cáo, các tài liệu của các nhà khoa học trong lĩnh vực
phòng, chống ngập lụt đô thị
-
Thu thập các số liệu thống kê của trung tâm điều hành chống ngập nước thành
phố.
-
Thu thập các tài liệu trong và ngoài nước về các giải pháp chống ngập lụt đô thị
-
Thu thập tài liệu về xu hướng phát triển và các định hướng về bảo vệ môi
trường trong tương lai
Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa.
-
-
GS.TSKH Lê Huy Bá, Viện trưởng Viện khoa học công nghệ và quản lý môi
trường, Đại học Công Nghiệp thành phố Hồ Chí Minh.
-
GS. TS Nguyễn Tất Đắc, Phó viện trưởng Viện khoa học công nghệ và quản lý
môi trường, Đại học Công Nghiệp thành phố Hồ Chí Minh.
-
TS. Nguyễn Văn Ngà, Trưởng phòng quản lý tài nguyên nước và khoáng sản, Sở
Tài nguyên&Môi trường thành phố Hồ Chí Minh.
-
TS. Phan Anh Tuấn, Trưởng phòng nghiên cứu vận hành, Trung tâm điều hành
chương trình chống ngập nước thành phố Hồ Chí Minh.
3.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Hiện trạng ngập lụt đô thị
Diễn biến và phạm vi ảnh hưởng ngâp lụt.
Cơ sở khoa học trong công tác quản lý chống ngập lụt đô thị
Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu hiện trạng ngập lụt và hành động cộng đồng tại các quận 2,
-
Chưa xây dựng được bản đồ ngập lụt tại thành phố.
-
Chưa xây dựng được mô hình thủy lực thoát nước tại các điểm ngập.
-
Chưa đi sâu vào các giải pháp công nghệ.
5
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1.
TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC HIỆN TRONG VÀ
NGOÀI NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Vấn đề ngập lụt không chỉ diễn ra tại thành phố Hồ Chí Minh mà nó còn diễn ra ở
nhiều thành phố trên thế giới. Các nhà khoa học đã nghiên cứu thực trạng ngập lụt và
đưa ra các giải pháp để chống ngập lụt đô thị.
Giáo sư Danai Thaitakoo, một nhà nghiên cứu của Đại học Chulalongkorn Thái
Lan, đưa ra một số nguyên nhân gây ngập nước tại Bangkok như sau:
-
Thủy triều lên cao
-
Mưa lớn
-
Nước sông dâng cao
Carlos E. M. Tucci, chuyên gia tại Viện nghiên cứu Nước thuộc trường Đại học Liên
bang Rio Grande do Sul, đã đưa ra giải pháp công nghệ về một hệ thống đập kiểm soát
lũ tại châu thổ sông Itajái-Açu ở Santa Catarina (Braxin). Đó là hệ thống gồm ba con
đập được xây dựng trong những năm 1970 - 1980, gồm đập Tây nằm ở thượng nguồn
6
sông Itajái-Oeste ở thành phố Taío, đập Nam ở thượng nguồn sông Itajái do Sul tại
thành phố Ituporanga và đập Ibirama trên sông Hercílio. Thiết kế của các con đập này
giúp các thành phố của Braxin chống ngập.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam vấn đề nghiên cứu hiện trạng và giải pháp phòng chống ngập lụt đô
thị tại thành phố Hồ Chí Minh đã có nhiều nhà khoa học, các chuyên gia môi trường và
các Trường đại học, Viện nghiên cứu, nghiên cứu về vấn đề trên.
GS.TSKH Lê Huy Bá, chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực môi trường đã đưa một số
nguyên nhân gây ngập lụt tại Thành phố Hồ Chí Minh như sau::
-
Vị trí tạo thành của một “đô thị ngập triều”.
-
Nạo vét kênh rạch để tăng lưu lượng thoát nước. Mức nạo vét lấy kích thước
kênh rạch trước khi bị bồi lấp, lấn chiếm.
-
Đối với vùng cao: không nối thêm ống cống vào các đường cống cũ để nhận
thêm lượng thải quá dung tích lưu vực. Xây dựng các đoạn cống thoát nước mới
bên cạnh các đoạn cống thoát nước quá tải để biến thành không quá tải. Cuối
đoạn cống mới này lắp van một chiều để chủ động thoát nước tự chảy; hoặc
thay vào đoạn cống mới là một hồ điều hòa dạng chìm ở những nơi có điều kiện
7
địa hình cho phép như ở công viên, dưới vòng xoay, dưới vườn hoa..., lượng
nước này có thể được dùng cho cứu hỏa, tưới cây, rửa đường...
-
Đối với vùng ngập do mưa: không làm thêm các đường cống nối từ đường này
với đường khác; mà tạo thêm hệ thống cống lấy và dẫn nước mưa vùng phía
bắc trực tiếp ra sông Sài Gòn, không cho đi qua nội thành nữa.
-
Đối với vùng thấp: xây dựng hồ điều hòa dạng chìm chứa lượng nước chưa kịp
tiêu thoát, sau đó khi triều rút thoát nước tự chảy.
-
-
Các ao hồ sẽ đóng vai trò là các nơi lưu chứa nước mưa (trước khi được thoát ra
sông/biển) nhằm giảm nguy cơ gây ngập lụt vào mùa mưa;
-
Các khu vực này sẽ đóng vai trò như là các không gian mở và vùng đệm trong
đô thị nhằm cải thiện điều kiện vi khí hậu, đồng thời cải thiện môi trường cảnh
quan đô thị không bị ngột ngạt bởi những toà nhà và các công trình bê tông.
8
1.2. TỔNG QUAN VÙNG NGHIÊN CỨU
1.2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở hạ lưu sông Sài Gòn-Đồng Nai, là trung tâm kinh
2
tế của khu vực phía nam, diện tích 2095km với dân số hơn 10 triệu người, là trung tâm
kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật lớn của cả nước. Phần lớn địa hình có cao
độ thấp, diện tích có cao trình < +2,00m chiếm 60% diện tích toàn thành phố. Địa hình
thành phố thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây.
Thành phố Hồ Chí Minh có tọa độ địa lý:
X= 10°10' – 10°38' vĩ độ bắc
Y=106°22' – 106°54' kinh độ đông
Ranh giới hành chính thành phố Hồ Chí Minh:
-
Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương.
Nhìn chung có thể chia địa hình thành phố Hồ Chí Minh thành 03 dạng chính:
Vùng cao: Dạng đất gò cao lượn sóng, cao độ thay đổi từ +4m đến +32m nằm ở phía
Bắc- Đông Bắc và một phần Tây Bắc (phân bố phần lớn ở huyện Củ Chi, Hóc Môn, Bình
Chánh, một phần Thủ Đức và quận 9).
Vùng trung bình: dạng đất bằng phẳng thấp, độ cao xấp xỉ từ +2m đến +4m ( phân bố ở
nội thành, một phần đất của Thủ Đức và Hóc Môn nằm dọc theo sông Sài Gòn và Bình
Chánh), điều kiện tiêu thoát nước tương đối thuận lợi, chiếm 15% diện tích.
Vùng trũng thấp, đầm lầy: nằm ở phía Tây Nam, độ cao phổ biến từ +1m đến +2m chiếm
34% diện tích, Vùng trũng thấp đầm lầy mới hình thành ven biển nằm về phía Nam và
10
Đông Nam thành phố độ cao phổ biến từ +0m đến +1m, có nơi dưới 0m (chịu ảnh hưởng
của thủy triều hằng ngày) chiếm 21% diện tích.
Tp. Hồ Chí Minh nằm ở hạ lưu hai hệ thống sông lớn: Sài Gòn - Đồng Nai và Vàm Cỏ,
phần lớn có địa hình bằng phẳng, thấp, độ dốc nhỏ và chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế
độ bán nhật triều biển Đông. Theo kết quả nghiên cứu của JICA , có thể phân Tp. Hồ Chí
Minh ra thành 5 vùng thoát nước theo cấp độ địa hình và hiện trạng sông ngòi:
- Khu thoát nước phía Bắc chịu ảnh hưởng triều từ sông Sài Gòn, có địa hình phức tạp,
lồi lõm dạng lượn sóng. Nơi cao nhất ở các đồi Long Bình và Long Thạnh Mỹ (30 m).
Khu vực Hóc Môn, Bắc Bình Chánh và Tân Bình triền thoải và ít lồi lõm hơn có cao độ
từ 3,0÷7,0 m.
- Khu vực thoát nước phía Đông sông Sài Gòn có cao trình từ 0,5m đến 1,4 m là vùng
trũng thấp dọc theo sông Sài Gòn và Đồng Nai thuộc Thủ Đức, Quận 2 và Quận 9, cục bộ
như Giồng Ông Tố (Q.2) có cao trình khoảng 5,0 m.
- Khu thoát nước phía Tây sông Sài Gòn có cao trình từ 5 m đến 10 m rìa gò đồi kéo dài
từ Hóc Môn - Bà Điểm đến Tân Sơn Nhất, GòVấp đến Quận 1, đan xen với các vùng
thấp hơn 5,0 ÷7,0 m. Các vùng gò đồi ngăn cách bằng các vùng trũng hẹp thông ra sông
rạch lớn như sông Sài Gòn, rạch Bến Cát, Tham Lương cao trình khoảng 0,6 ÷ 1,0 m, có
vùng thấp hơn -0,2 m.
ngầm khá phong phú.
Đặc điểm đất đai
Ở thành phố Hồ Chí Minh, đất xám có ba loại: đất xám cao, có nơi bị bạc màu; đất
xám có tầng loang lổ đỏ vàng và đất xám gley; trong đó, hai loại đầu chiếm phần lớn diện
12
tích. Ðất xám nói chung có thành phần cơ giới chủ yếu là cát pha đến thịt nhẹ, khả năng
giữ nước kém; mực nước ngầm tùy nơi và tùy mùa biến động sâu từ 1-2m đến 15m. Ðất
chua, độ pH khoảng 4,0- 5,0. Ðất xám tuy nghèo dinh dưỡng, nhưng đất có tầng dày, nên
thích hợp cho sự phát triển của nhiều loại cây trồng nông lâm nghiệp, có khả năng cho
năng suất và hiệu qủa kinh tế cao, nếu áp dụng biện pháp luân canh, thâm canh tốt. Nền
đất xám, phù hợp đối với sử dụng bố trí các công trình xây dựng cơ bản.
Trầm tích Holoxen (trầm tích phù sa trẻ): tại thành phố Hồ Chí Minh, trầm tích này có
nhiều nguồn gốc-ven biển, vũng vịnh, sông biển, lòng sông và bãi bồi... nên đã hình
thành nhiều loại đất khác nhau: nhóm đất phù sa có diện tích 15.100 ha (7,8%), nhóm đất
phèn 40.800 ha (21,2%) và đất phèn mặn (45.500 ha (23,6). Ngoài ra có một diện tích
nhỏ khoảng hơn 400 ha (0,2%) là "giồng" cát gần biển và đất feralite vàng nâu bị xói
mòn trơ sỏi đá ở vùng đồi gò:
Nhóm đất phù sa không hoặc bị nhiễm phèn, phân bố ở những nơi địa hình hơi cao
khoảng 1,5-2,0m. Nó tập trung tại vùng giữa của phía Nam huyện Bình Chánh, Ðông
Quận 7, Bắc huyện Nhà Bè và một ít nơi ở Củ Chi, Hóc Môn.
Nhóm đất phù sa hai loại: đất phù sa không được bồi, có tầng loang lổ. Trong đó hai loại
đầu chiếm diện tích lớn hơn; loại sau, là đất phù sa ngọt, đất rất tốt, chỉ có khoảng 5.200
ha (2,7%). Ðất phù sa nói chung có thành phần cơ giới từ sét trung bình tới sét nặng. Ðất
có phản ứng chua, độ pH khoảng 4,2-4,5 ở tầng đất mặt và xuống sâu 0,5- 1,2m độ chua
giảm nhiều, pH nâng lên tới 5,5-6,0. Hàm lượng mùn trung bình, các chất dinh dưỡng
khá. Là loại đất màu mỡ, thuận lợi cho phát triển trồng lúa cao sản, chất lượng tốt.
Nhóm đất phèn có hai loại: đất phèn nhiều và đất phèn trung bình. Chúng phân bố tập
trung chủ yếu ở hai vùng. Vùng đất phèn Tây Nam Thành phố, kéo dài từ Tam Tân-Thái
huyện Cần Giờ. Ðất thịt trung bình, màu xám đen, nhiều mùn nhão lẫn xác hữu cơ bán
phân giải, bị ngập triều thường ngày, nói chung đất còn ở dạng bùn lỏng chưa cố định,
giàu chất dinh dưỡng, độ pH tầng đất trên 5,8-6,5. Ðất ngập mặn, phù hợp với duy trì và
phát triển các loại cây rừng ngập mặn, nhằm giữ bờ lấn biển, bảo vệ môi trường cảnh
quan, phục vụ phát triển du lịch sinh thái và nuôi dưỡng hệ sinh thái giàu tiềm năng ở
vùng ven biển phía nam của thành phố.
Nhược điểm chung của hai loại đất phèn, mặn là nền đất yếu, nhất là đất phèn mặn
thường xuyên; do đó có mặt hạn chế trong xây dựng cơ bản, phát triển cơ sở hạ tầng kỹ
thuật.
14
1.2.1.2. NGUỒN NƯỚC – THỦY VĂN
Nguồn nước
Nằm ở vùng hạ lưu hệ thống sông Ðồng Nai - Sài Gòn, thành phố Hồ Chí Minh có mạng
lưới sông ngòi, kênh rạch rất phát triển:
Sông ngòi: Trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh chỉ có sông Sài Gòn đi qua Thành
phố dài 106km. Ngoài ra, còn có sông Đồng Nai. Có mạng lưới sông rạch chằng chịt gồm
7.880km kênh rạch chính, khoảng 33.500ha diện tích mặt nước, diện tích vùng đất thấp
có cao độ dưới 2m bao gồm cả diện tích mặt nước chiếm 61% diện tích tự nhiên, nằm ở
vùng cửa sông với nhiều công trình điều tiết lớn ở thượng nguồn như hồ Dầu Tiếng trên
sông Sài Gòn, hồ Trị An trên sông Đồng Nai.
Kênh rạch: Kênh rạch tự nhiên đóng vai trò quan trọng trong việc tiêu thoát nước từ
Thành phố ra biển, cũng theo đó thủy triều Biển Đông truyền vào nội địa và đây là chỗ
chứa nước tạm thời thay cho diện tích ngập lụt đường phố phải gánh chịu. Tuy nhiên, kết
quả điều tra cho thấy khoảng 50% tổng chiều dài kênh rạch thoát nước hiện hữu đang bị
lấn chiếm khiến dòng chảy bị thu hẹp, nhiều đoạn không thể nạo vét đã làm cho khả năng
tiêu thoát nước ngày càng suy giảm. Các kênh cấp 4, cấp 3 thậm chí cả kênh cấp 2 được
thay thế bằng hệ cống ngầm nhưng chưa có giải pháp công trình thay thế trả lại diện tích
mặt nước tự nhiên, làm mất đi dung tích chứa tạm nước mưa và nước triều mà không có
(%)
Quận 1, 3, 4, 5, 6, 8, 11, Tân Bình,
Trung tâm
Phú Nhuận, Bình Thạnh và một
10641
387.96
3.65
phần quận Gò Vấp
Phía Nam
Quận 7, 8 và quận Nhà Bè
8174
604.15
7.39
Phía Tây
Quận Tân Phú và quận Bình Tân
7991
Tổng cộng
(Nguồn: Trung tâm điều hành chương trình chống ngập thành phố Hồ Chí Minh)
Để thực hiện chương trình chống ngập và đảm bảo yêu cầu về tiêu thoát nước, Ủy ban
nhân dân Tp. Hồ Chí Minh đã có văn bản số 6814/UBND-ĐTMT ngày 11 tháng 10 năm
2007 về việc thỏa thuận san lấp kênh rạch, “Giao Sở Giao thông - Công chính khi thực
hiện việc thỏa thuận san lấp kênh rạch phải có quy định việc bố trí hồ điều tiết thay thế
với diện tích hồ bằng 1,2 lần diện tích kênh rạch được san lấp, với các dự án có diện tích
san lấp nhỏ phải có tính toán giải quyết yêu cầu thoát nước phù hợp”.
Ngoài trục các sông chính kể trên ra, thành phố còn có mạng lưới kênh rạch chằng chịt,
như ở hệ thống sông Sài Gòn có các rạch Láng The, Bàu Nông, rạch Tra, Bến Cát, An
Hạ, Tham Lương, Cầu Bông, Nhiêu Lộc-Thị Nghè, Bến Nghé, Lò Gốm, Kênh Tẻ, Tàu
Hũ, Kênh Ðôi và ở phần phía Nam Thành phố thuộc địa bàn các huyện Nhà Bè, Cần Giờ
mật độ kênh rạch dày đặc; cùng với hệ thống kênh cấp 3-4 của kênh Ðông-Củ Chi và các
kênh đào An Hạ, kênh Xáng, Bình Chánh đã giúp cho việc tưới tiêu thuận lợi, giao thông
phát triển và đang dần dần từng bước thực hiện các dự án giải tỏa, nạo vét kênh rạch,
16
chỉnh trang ven bờ, tô điểm vẻ đẹp cảnh quan sông nước, phát huy lợi thế hiếm có đối với
một đô thị lớn.
Nước ngầm: ở Thành phố Hồ Chí Minh, nhìn chung khá phong phú tập trung ở vùng
nửa phần phía Bắc-trên trầm tích Pleixtoxen; càng xuống phía Nam (Nam Bình Chánh,
quận 7, Nhà Bè, Cần Giờ)-trên trầm tích Holoxen, nước ngầm thường bị nhiễm phèn,
nhiễm mặn. Khu vực nội thành cũ có lượng nước ngầm đáng kể, tuy chất lượng không
thực sự tốt, vẫn được khai thác chủ yếu ở ba tầng: 0–20 m, 60–90 m và 170–200 m (tầng
trầm tích Miocen). Tại Quận 12, các huyện Hóc Môn và Củ Chi, chất lượng nước tốt, trữ
lượng dồi dào, thường được khai thác ở tầng 60–90 m, trở thành nguồn nước bổ sung
quan trọng.
Theo thống kê của Sở Tài nguyên & Môi trường (TNMT) TPHCM, hiện nay, tổng trữ
-
Hệ thống kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè
-
Hệ thống kênh Tân Hoá – Lò Gốm
-
Hệ thống kênh Tàu Hũ – kênh Đôi – kênh Tẻ
-
Hệ thống kênh Bến Nghé
-
Hệ thống kênh Tham Lương – Bến Cát – Vàm Thuật
Độ dốc của phần lớn các kênh rạch này là rất nhỏ, đáy kênh thì bị lấp đầy bởi các vật chất
lắng đọng từ nước thải đô thị và rác rưởi ném từ các hộ dân cư sinh sống trên và ven kênh
rạch cũng như các ghe xuồng buôn bán trên sông, do đó khả năng thoát nước rất kém. Nét
đặc trưng của hệ thống kênh rạch thành phố là bị ảnh hưởng mạnh bởi thuỷ triều, một vài
kênh còn bị ảnh hưởng bởi nhiều hướng. Kết quả là các chất ô nhiễm tồn đọng lại trong
kênh và đang bị tích tụ dần. Sự ô nhiễm nước và tích tụ bùn lắng trên các kênh rạch này
không chỉ làm xấu cảnh quan đô thị, đặc biệt khu vực gần phía trung tâm thành phố, mà
còn ảnh hưởng không tốt đối với sức khoẻ cộng đồng.
1.2.1.3. KHÍ HẬU – THỜI TIẾT
Điều kiện khí hậu
2.095,239 km2, trong đó nội thành là 140,3km2 còn lại là ngoại thành. Độ cao trung bình
so với mặt nước biển: nội thành là 5m, ngoại thành là 16m. Dự kiến đến năm 2020 TP sẽ
mở rộng lên diện tích 650 km2, chiếm 31% tổng diện tích tự nhiên, với tổng dân số 10
triệu người.
19
Bảng 1.2: Đơn vị hành chính thành phố Hồ Chí Minh
STT
Tên đơn vị
Diện tích (km2)
Dân số (người)
Mật độ dân số
(người/ km2)
01
Quận 1
8
187.435
24.248
05
Quận 5
4
174.154
40.785
06
Quận 6
7
253.474
35.254
07
Quận 7
36
274.828
7.700
11
Quận 11
5
232.536
45.241
12
Quận 12
53
427.083
8.092
13
Quận Phú Nhuận
5
175.175
35.897
20
17
Quận Bình Tân
52
595.335
11.473
18
Quận Gò Vấp
20
548.145
27.768
19
Quận Bình Thạnh
21
470.054
1.034
23
Huyện Củ Chi
435
355.882
814
24
Huyện Cần Giờ
704
70.697
100
(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2010 thành phố Hồ Chí Minh)
Dân số
Theo kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2009 Thành phố Hồ Chí Minh có dân số
7.123.340 người, gồm 1.812.086 hộ dân, bình quân 3,93 người/hộ. Phân theo giới tính:
Nam có 3.425.925 người chiếm 48,1%, nữ có 3.697.415 người chiếm 51,9% . Dân số
thành phố tăng nhanh, trong 10 năm từ 1999-2009 dân số thành phố tăng thêm 2,086.185
người, bính quân tăng gần 209.000 người/năm, tốc độ tăng 3,53%/năm, chiếm 22% số
dân tăng thêm của cả nước trong vòng 10 năm. Áp lực dân số sẽ ảnh hưởn rất lớn đến cấu
lao động nhưng vẫn đang tham gia làm việc. Năm 2008, thu nhập bình quân đầu người ở
thành phố đạt 2.534 USD/năm, cao hơn nhiều so với trung bình cả nước, 1024 USD/năm.
- Nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh đa dạng về lĩnh vực, từ khai thác mỏ, thủy
sản, nông nghiệp, công nghiệp chế biến, xây dựng đến du lịch, tài chính... Cơ cấu kinh tế
của thành phố, khu vực nhà nước chiếm 33,3%, ngoài quốc doanh chiếm 44,6%, phần
còn lại là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Về các ngành kinh tế, dịch vụ chiếm tỷ
trọng cao nhất: 51,1%. Phần còn lại, công nghiệp và xây dựng chiếm 47,7%, nông
nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chỉ chiếm 1,2% .
- Tính đến giữa năm 2006, 3 khu chế xuất và 12 khu công nghiệp Thành phố Hồ Chí
Minh đã thu hút được 1.092 dự án đầu tư, trong đó có 452 dự án có vốn đầu tư nước
22
ngoài với tổng vốn đầu tư hơn 1,9 tỉ USD và 19,5 nghìn tỉ VND. Thành phố cũng đứng
đầu Việt Nam tổng lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với 2.530 dự án FDI, tổng vốn
16,6 tỷ USD vào cuối năm 2007
23
CHƯƠNG 2
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1. HIỆN TRẠNG NGẬP LỤT TẠI TP HỒ CHÍ MINH
Hiện nay, toàn thành phố còn khoảng 31 điểm ngập chủ yếu do mưa trong đó khu
vực nội thành có đến 12 điểm. Tổng số lần ngập và tổng số các vị trí ngập giảm dần theo
các năm từ 2009-2012. Chúng ta đều rõ TP HCM nhìn chung cao độ đất thấp cho nên
nguyên nhân chính gây ngập do mưa lớn, trong khi hệ thống tiêu thoát hiện hữu không đủ
khả năng thoát nước. Nhiều nhất trên các tuyến đường Nguyễn Hữu Cảnh, Điện Biên
Phủ, D2, D3, Xô Viết Nghệ Tĩnh (Quận Bình Thạnh), Cao Thắng (Quận 3), Trần Xuân
Soạn (Quận 7)… Khi mưa với cường độ khoảng trên 40 mm, thời gian ngắn thường sinh
ra ngập úng. Nếu mưa với cường độ lớn hơn, thời gian mưa tập trung dài hơn thì mức độ
Số lần
ngập
ngập
ngập
ngập
2009
68
254
31
105
359
99
5
2010
33
12
48
19
59
107
31
4
(Nguồn: Trung tâm điều hành chương trình chống ngập thành phố Hồ Chí Minh)
24
Bảng 2.2: Diện tích ngập trung bình, thời gian ngập trung bình tại các quận trung tâm và
vùng ngoại vi thành phố
Năm
Diện tích ngập
Thời gian ngập
Vũ lượng trung
trung bình
91
36
2012
1799
85
48
(Nguồn: Trung tâm điều hành chương trình chống ngập thành phố Hồ Chí Minh)
1400
1200
1000
SỐ LẦN NGẬP
800
600
400
359
200
254
107
Số lần ngập vùng Trung tâm
254
55
76
48
Số lần ngập vùng ngoại vi
105
58
91
59
Biều đồ 2.1: Thống kê số lần ngập nước tại các quận vùng trung tâm và các
quận vùng ngoại vi thuộc khu vực thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2003-2012