Xây dựng hệ thống bài tập trong phân môn luyện từ và câu lớp 3 - Pdf 49

Lêi c¶m ¬n
Tôi xin chân thành cảm ơn sự nhiệt tình hướng dẫn của các thầy cô
giáo trong khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non đã tạo điều kiện cho tôi
trong quá trình làm khóa luận.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Nguyễn Thị Nga, cô đã
trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình để tôi hoàn thành khóa luận này.
Xin được gửi lời cảm ơn tới các bạn sinh viên đã giúp đỡ để tôi có thể
thực hiện khóa luận thành công.
Trong khi thực hiện đề tài này, do thời gian và năng lực có hạn nên
không tránh khỏi thiếu sót và hạn chế, chúng tôi rất mong nhận được sự
tham gia đóng góp ý kiến của thầy cô và bạn bè để khóa luận được hoàn
chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Đồng Hới, tháng 05 năm 2018
Tác giả

Trần Thị Phương Ly


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực, khách quan và chưa có ai công
bố trong bất kì một công trình nghiên cứu nào khác.
Tác giả khóa luận

Trần Thị Phương Ly


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN

2.1. Bài tập nhận diện. ..................................................................................... 21
2.2. Bài tập vận dụng....................................................................................... 36
2.3. Bài tập sáng tạo. ....................................................................................... 46
CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP LUYỆN TỪ VÀ CÂU
CHO HỌC SINH LỚP 3 ................................................................................. 51
3.1. Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập trong phân môn Luyên từ và câu ở
lớp 3 ................................................................................................................. 51
3.2. Xây dựng hệ thống bài tập trong phân môn Luyện từ và câu lớp 3 ..... 53
3.2.1. Hệ thống bài tập nhận diện.................................................................... 53
3.2.2. Hệ thống bài tập vận dụng .................................................................... 58
3.2.3. Hệ thống bài tập sáng tạo ...................................................................... 63
C. KẾT LUẬN ................................................................................................ 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 71


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Kí hiệu

Chú giải

GV

Giáo viên

HS

Học sinh

LTVC


những kĩ năng giao tiếp phù hợp với lứa tuổi và thực tiễn cuộc sống. Ngoài
phân môn Luyện từ và câu, môn Tiếng Việt còn gồm nhiều phân môn khác
như Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Tập viết và Tập làm văn. Các em được
nâng cao hiểu biết, cảm nhận cái hay, cái đẹp của cuộc sống, biết quý trọng
những nét đẹp của ngôn ngữ mẹ đẻ. Góp phần hình thành và bồi dưỡng tình
yêu tiếng Việt, giúp các em có thói quen giữ gìn và phát huy sự trong sáng
của ngôn ngữ dân tộc.
Hình thành năng lực về từ và câu cho học sinh Tiểu học nói chung và
học sinh lớp 3 nói riêng là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của dạy
Luyện từ và câu ở bậc học này. Muốn thực hiện được mục tiêu này, người
giáo viên phải mở rộng và phát triển khả năng dùng từ đặt câu cho học sinh.
Bởi vậy, hệ thống hóa các bài tập Tiếng Việt là việc làm hết sức cần thiết.
Trong phân môn Luyện từ và câu, nội dung rèn luyện về dùng từ đặt câu chủ
yếu thông qua các bài tập nhưng thực tế cho thấy các bài tập trình bày rải rác,
chưa được hệ thống hóa một cách khoa học gây khó khăn cho việc dạy học
phân theo nhóm trình độ.

1


Đến nay đã có một số sách tham khảo cho giáo viên, phụ huynh và học
sinh tuy nhiên chưa có tài liệu nào đề cập đến vấn đề hệ thống hóa các bài tập
trong sách giáo khoa làm cơ sở để xây dựng và phát triển khả năng dùng từ và
câu cho các em.
Là một sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học, tôi nhận thấy việc hệ thống
hóa các bài tập một cách rõ ràng và cụ thể góp phần phục vụ cho nhiệm vụ
học tập, chuẩn bị hành trang về kiến thức, kĩ năng để sau này dạy học tốt hơn.
Chính vì những lí do trên tôi lựa chọn đề tài: "Xây dựng hệ thống bài
tập trong phân môn Luyện từ và câu lớp 3" làm đề tài khóa luận của mình.
Với hi vọng đóng góp một phần nhỏ vào việc cung cấp tài liệu làm cơ sở cho

3, chương 2 trình bày cách giải bài tập luyện từ và câu ở sách Tiếng Việt 3
và bài tập bổ sung. Ở chương 1, ngoài mục đích và yêu cầu chung các tác giả
đã chỉ rõ mức độ yêu cầu trong từng nội dung LTVC. Chẳng hạn, về mức độ
yêu cầu của nội dung luyện từ, học sinh lớp 3 phải nắm được khoảng 400
đến 450 từ thuộc 15 chủ điểm trong sách học; biết nghĩa của một số thành
ngữ, tục ngữ, nhận biết một số biện pháp tu từ phổ biến như so sánh, nhân
hóa; nhận biết sâu hơn ý nghĩ chung của từng lớp từ đã học ở lớp 2... Về mức
độ yêu cầu của nội dung luyện câu, học sinh lớp 3 phải biết được câu trong
lời nói và câu trong văn bản phải tương đối trọn vẹn về nghĩa, phải nhận biết
được dấu hiệu mở đầu và dấu hiệu kết thúc của câu. Ở chương 2, các tác giả
trình bày cách giải bài tập luyện từ và câu ở Tiếng Việt 3 và bài tập bổ sung.
Các bài tập trong sách giáo khoa được cuốn sách hướng dẫn cách giải tương
đối kĩ càng. Hệ thống bài tập bổ sung cũng phù hợp với nội dung chương
trình và trình độ học sinh. Song hệ thống bài tập ở đây chỉ dừng lại ở những
bài tập quen thuộc, ít thấy dạng bài tập nâng cao và dạng bài tập sử dụng trò
chơi ngôn ngữ để giáo viên có thể hướng dẫn học sinh thực hiện trong giờ
ngoại khóa.
Hai cuốn Bài tập thực hành Tiếng Việt 3, Nguyễn Thị Hạnh (2008),
NXB Đại học sư phạm Hà Nội và Bài tập trắc nghiệm Tiếng Việt 3, Lê
3


Phương Liên (2008), NXB Đại học sư phạm, Hồ Chí Minh các tác giả đều
xây dựng hệ thống bài tập theo từng tuần. Các văn bản được sử dụng trong
các công trình này phần lớn đều là văn bản trong sách giáo khoa tuy nhiên
phần lớn là bài tập ở phân môn Tập đọc.
Đã có những công trình nghiên cứu chú trọng việc xây dựng hệ thống bài
tập nhưng số lượng còn hạn chế, kiểu bài tập chưa phong phú và đa dạng. Đặc
biệt chưa có một công trình nghiên cứu nào hệ thống hóa các bài tập trong
SGK một cách rõ ràng làm tư liệu cho giáo viên và học sinh lớp 3.

- Do thời gian có hạn nên đề tài chỉ tiến hành nghiên cứu và khảo sát tại
trường Tiểu học Quảng Minh A, Ba Đồn, Quảng Bình.
6. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ
yếu sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Để nghiên cứu đề tài này, tôi tham
khảo và nắm vững nội dung chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3,
nghiên cứu tham khảo sách giáo viên, đọc và hệ thống hóa các tài liệu có liên
quan đến cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu và việc phân loại các dạng bài
tập trong phân môn Luyện từ và câu lớp 3. Bên cạnh đó, tôi còn nghiên cứu
các tài liệu, văn bản làm tiền đề cho việc xây dựng hệ thống bài tập Tiếng
Việt cho học sinh lớp 3 sao cho thật phù hợp và khoa học để khi giáo viên áp
dụng và thực tế dạy học phát huy được hiệu quả của đề tài.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
được vận dụng trong quá trình quan sát, dự giờ để tìm hiểu về chất lượng,
hoạt động, xu thế dạy - học phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3, từ đó rút
ra những nhận định về thực trạng dạy học môn Tiếng Việt để có phương
hướng trong việc hệ thống bài tập phù hợp với học sinh lớp 3.

5


- Phương pháp toán học: So sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp những
vấn đề lí luận và thực tiễn từ đó rút ra kết luận. Thống kê, phân loại các dạng
bài tập để đưa ra những kết luận cần thiết của đề tài.
7. Đóng góp của đề tài
- Hệ thống hóa các dạng bài tập của phân môn Luyện từ và câu trong
sách giáo khoa Tiếng Việt 3.
- Xây dựng hệ thống bài tập trong phân môn Luyện từ cà câu lớp 3 là tài
liệu tham khảo bổ ích cho các bạn sinh viên khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm

thì phạm vi ứng dụng của bài tập rộng hơn nhiều. Nhiều quan điểm hiện nay
cho rằng, bài tập không chỉ được dùng với mục đích giúp người học vận dụng
những tri thức đã học, rèn luyện kĩ năng tương ứng mà còn giúp họ hình
thành tri thức mới và phát triển các kĩ năng khác.
Bài tập Tiếng Việt được coi như là một trong những đơn vị nội dung
định hướng cho việc dạy học TV. Thông qua việc thiết kế bài tập Tiếng Việt
và hướng dẫn học sinh làm bài tập của giáo viên, quá trình làm bài tập của
học sinh, GV có thể kiểm tra kết quả hoạt động giảng dạy của mình. Học sinh
củng cố được những tri thức vừa tiếp nhận và nắm vững những các kĩ năng
dùng từ đặt câu.
7


Thực hành với bài tập TV là một khâu trọng yếu có ý nghĩa quyết định
đối với việc hình thành kĩ năng ứng dụng TV trong đời sống của học sinh. Bởi
vậy, hệ thống bài tập được xây dựng phải phong phú, đa dạng, thiết thực và hiệu
quả.
1.1.1.2. Xây dựng hệ thống bài tập
Hệ thống bài tập là các bài tập được sắp xếp một cách khoa học theo
những căn cứ nhất định.
Hệ thống bài tập trong phân môn Luyện từ và câu là một tập hợp gồm
các dạng bài tập được sắp xếp một cách khoa học, hệ thống. Có nhiều cách
phân loại bài tập dựa trên những cơ sở khác nhau: căn cứ vào hình thức thiết
kế (bài tập trắc nghiệm, bài tập tự luận); căn cứ vào nội dung chủ đề (bài tập
chủ đề 1, bài tập chủ đề 2, bài tập chủ đề 3...); căn cứ vào mục tiêu dạy học
(bài tập hình thành, bài tập rèn luyện, bài tập phát triển); căn cứ vào các mạch
kiến thức, kĩ năng (bài tập nhận diện, phân loại, phân tích, bài tập xây dựng,
tổng hợp).
Dựa theo yêu cầu về năng lực, trình độ của học sinh ta có thể chia hệ
thống bài tập tiếng Việt thành 3 dạng: bài tập nhận diện, bài tập vận dụng, bài

"Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang
những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất
định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong Tiếng Việt và
nhỏ nhất để tạo câu" [4, tr.16].
Định nghĩa này cho ta thấy, so với từ của tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng
Pháp,... từ của Tiếng Việt có tính cố định, bất biến ở mọi vị trí, mọi quan hệ
và chức năng trong câu. Tính cố định, bất biến về âm thanh là điều kiện hết
sức quan trọng giúp ta nhận diện từ một cách dễ dàng. Song cũng vì tính cố
định và bất biến mà bản thân hình thức ngữ âm của từ tiếng Việt không chứa
đựng những dấu hiệu chỉ rõ đặc điểm ngữ pháp của chúng. Nói cách khác, ở
tiếng Việt, "đặc điểm ngữ pháp của từ không biểu hiện trong nội bộ từ mà
biểu hiện chủ yếu ở ngoài từ, trong tương quan của nó với các từ khác trong
câu" [4, tr.21].
9


* Các thành phần ý nghĩa của từ:
Tuỳ theo các chức năng mà từ chuyên đảm nhiệm, trong ý nghĩa của từ
có những thành phần ý nghĩa cơ bản sau đây (những thành phần ý nghĩa này
được Đỗ Hữu Châu phân biệt rất kĩ):
- Ý nghĩa biểu vật ứng với chức năng biểu vật.
- Ý nghĩa biểu niệm ứng với chức năng biểu niệm.
- Ý nghĩa biểu thái ứng với chức năng biểu thái.
Ba thành phần ý nghĩa trên được gọi chung là ý nghĩa từ vựng. Ý nghĩa
từ vựng thường được đối lập với thành phần ý nghĩa thứ tư, đó là:
- Ý nghĩa ngữ pháp ứng với chức năng ngữ pháp.
Các ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp có tính ổn định, bền vững
tương đối. Chúng không phải chỉ do quan hệ giữa từ với những yếu tố ngoài
ngôn ngữ mà có. Chúng còn do quan hệ về ý nghĩa giữa từ này với từ khác
trong ngôn ngữ quy định nên.

những hệ thống con thích hợp. Có nghĩa là, tính hệ thống về ngữ nghĩa trong
lòng từ vựng và quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ riêng lẻ thể hiện qua quan hệ
giữa những tiểu hệ thống ngữ nghĩa chứa chúng.
Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa. Đó là những
tập hợp từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa.
Dựa vào các trường nghĩa, ta có thể phân định một cách tổng quát những
quan hệ ngữ nghĩa trong từ vựng thành những quan hệ ngữ nghĩa giữa các
trường nghĩa và những quan hệ ngữ nghĩa trong lòng mỗi trường. Nói một
cách khác, mỗi trường nghĩa là một tiểu hệ thống nằm trong hệ thống là từ
vựng của một ngôn ngữ.
Người ta có thể chia hệ thống từ vựng thành các trường nghĩa, tuỳ theo
từng tiêu chí. Có thể chia hệ thống từ vựng thành trường nghĩa biểu vật và
trường nghĩa biểu niệm.
- Trường biểu vật:

11


Trường nghĩa biểu vật "là tập hợp những từ cùng biểu thị một phạm vi
sự vật, hiện tượng thực tế khách quan" [4, tr.172]. Cơ sở để xác lập trường
nghĩa biểu vật là sự đồng nhất nào đó trong ý nghĩa biểu vật của các từ. Ví dụ,
trường nghĩa biểu vật về động vật:
+ Tên các loài: chó, bò, mèo, trâu...
+ Trường nghĩa chỉ bộ phận cơ thể: thân, chân, mỏ, đuôi, mõm...
- Trường nghĩa biểu niệm:
Trường nghĩa biểu niệm là "một tập hợp các từ có chung một cấu trúc
biểu niệm" [4, tr.178].
Căn cứ để phân lập các trường biểu niệm là các ý nghĩa biểu niệm của
từ. Cấu trúc biểu niệm không chỉ riêng cho từng từ mà chung cho nhiều từ. Ví
dụ, nói về trường biểu niệm "vật thể nhân tạo", "thay thế hoặc tăng cường

kiến thức, kĩ năng về từ và câu còn được tích hợp trong những phân môn còn
lại của môn Tiếng Việt và cả trong các môn học khác.
Việc dạy Luyện từ và câu nhằm mở rộng, hệ thống hóa làm phong phú
vốn từ cho học sinh, cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về từ và
câu, rèn cho học sinh kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các kiểu câu để thể
hiện tư tưởng, tình cảm của mình, đồng thời giúp cho học sinh có khả năng
hiểu được các câu nói của người khác.
Bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng, nói, viết thành câu và
có ý thức sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp phù hợp với các chuẩn mực văn
hoá. Ở cấp Tiểu học phân môn Luyện từ và câu có nhiệm vụ làm phong phú
vốn từ và tích cực hóa vốn từ cho học sinh: cung cấp một lượng từ ngữ nhất
định theo quy định của chương trình, giúp học sinh hiểu được nghĩa của từ
trong hệ thống, hiểu đúng nghĩa của nghĩa từ trong hoạt động giao tiếp của
mình. Học sinh có ý thức và thói quen sử dụng tiếng Việt trong văn hóa giao
tiếp để trẻ tích lũy những hiểu biết cần thiết về tiếng Việt. Các em biết sử
dụng các từ ngữ phù hợp để giao tiếp với bố mẹ, bạn bè, thầy cô... Đó cũng
chính là đào tạo ra con người biết giao tiếp trong đời sống.
Sử dụng từ và câu tiếng Việt giúp phát triển trí tưởng tượng và năng lực
tư duy cho học sinh. Thông qua các bài thơ, bài văn... các em hiểu được tác
dụng của cách dùng từ đặt câu, sử dụng các dấu câu để viết đúng, viết hay và
vận dụng các biện pháp tu từ. Từ đó các em có thể trau dồi kĩ năng vận dụng
từ ngữ để đưa vào những ngữ cảnh phù hợp. Hơn thế nữa, khi có vốn từ dồi
dào các em sẽ tư duy chính xác và chặt chẽ hơn. Nếu không có vốn từ các em
sẽ không có đủ điều kiện thể hiện một cách sinh động ý nghĩ của mình.
15


Bồi dưỡng cho các em biết thưởng thức cái đẹp, biết thể hiện vui, buồn,
yêu, ghét của con người. Nhờ đó mà phân biệt được xấu, đẹp, thiện, ác để
hoàn thiện nhân cách bản thân. Phân môn Luyện từ và câu còn giáo dục cho

nhớ có máy móc và ghi nhớ có chủ định.
c) Tưởng tượng của học sinh.
- Khái niệm tưởng tượng: Tưởng tượng của học sinh là một quá trình
tâm lí nhằm tạo ra các hình ảnh mới dựa vào các hình ảnh đã biết. Ở học sinh
tiểu học có 2 loại tưởng tượng: tưởng tượng tái tạo và tưởng tượng sáng tạo.
- Đặc điểm tưởng tượng của học sinh tiểu học: Tính có mục đích, có chủ
định của tưởng tượng học sinh tiểu học tăng lên rất nhiều so với trước 6 tuổi.
Do yêu cầu của hoạt động học, học sinh muốn tiếp thu tri thức mới thì phải
tạo cho mình các hình ảnh tưởng tượng.
d) Tư duy của học sinh Tiểu học.
- Khái niệm tư duy của học sinh Tiểu học: Tư duy của học sinh tiểu học
là quá trình các em hiểu được, phản ánh được bản chất của đối tượng của các
sự vật hiện tượng được xem xét nghiên cứu trong quá trình học tập của học
sinh. Có 2 loại tư duy: tư duy cụ thể và tư duy trừu tượng.
- Đặc điểm tư duy của học sinh Tiểu học: Do hoạt động học được hình
thành qua hai giai đoạn nên tư duy của học sinh cũng được hình thành qua
hai giai đoạn.
+ Giai đoạn 1: Tư duy cụ thể vẫn tiếp tục hình thành và phát triển, tư
duy trừu tượng bắt đầu hình thành. Tư duy cụ thể được thể hiện rõ nhất ở lớp
1, lớp 2 nghĩa là học sinh tiếp thu tri thức mới phải tiến hành các thao tác với
vật thật hoặc các hình ảnh trực quan.
+ Giai đoạn 2: Tư duy trừu tượng bắt đầu chiếm ưu thế so với tư duy cụ
thể, nghĩa là học sinh tiếp thu tri thức của các môn học bằng cách tiến hành
các thao tác tư duy với ngôn ngữ, với các loại kí hiệu quy tắc.

17


1.1.4. Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 3
Ở lứa tuổi Tiểu học chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 là ở lứa tuổi lớp 1,

(theo chủ điểm), từ loại, rèn luyện kỹ năng dùng từ, đặt câu, một số kiểu câu
được phân loại theo mục đích nói, một số biện pháp tu từ (so sánh, nhân hoá).
Tất cả các tiết học luyện từ và câu trong sách Tiếng Việt 3 không có những
bài học dạy riêng kiến thức lý thuyết về từ và câu mà tất cả các tri thức về từ
và câu đều được hình thành và củng cố thông qua việc dạy học sinh giải các
bài tập.
Chương trình sách giáo khoa có nội dung dạy học bắt đầu từ kì một lớp
1, mỗi tuần gồm 5 tiết ứng với 5 bài tập đọc (có 3 bài đọc thêm).
Ở lớp 2,3,4,5 chương trình cả năm đều gồm 35 tuần, sách giáo khoa in
thành hai tập. Mỗi tuần ở lớp 3 có 1 tiết Luyện từ và câu, 1 tiết Tập làm văn.
Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 có 15 chủ điểm, mỗi chủ điểm trong 2 tuần
(riêng chủ điểm''Ngôi nhà chung" trong 3 tuần).
Cũng như ở các lớp dưới, các chủ điểm xoay quanh những lĩnh vực gần
gũi với cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của các em, gồm:
Tập 1 gồm 8 chủ điểm, học trong 18 tuần:
- Măng non (tuần 1, 2)
- Mái ấm (tuần 3, 4)
- Tới trường (tuần 5, 6)
- Cộng đồng (tuần 7, 8)
- Quê hương (tuần 10, 11)
- Bắc - Trung - Nam (tuần 12, 13)
- Anh em một nhà (tuần 14, 15)
- Thành thị và nông thôn (tuần 16, 17)
Tuần 9 dùng để ôn tập giữa học kì 1, tuần 18 ôn tập cuối học kì 1.
Tập 2 gồm 7 chủ điểm, học trong 17 tuần:
- Bảo vệ tổ quốc (tuần 19, 20)
- Sáng tạo (tuần 21, 22)
19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status