VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THANH THẢO
CÁC TÌNH TIẾT LOẠI TRỪ TÍNH CHẤT PHẠM TỘI
CỦA HÀNH VI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THANH THẢO
CÁC TÌNH TIẾT LOẠI TRỪ TÍNH CHẤT PHẠM TỘI
CỦA HÀNH VI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. TRẦN ĐÌNH NHÃ
HÀ NỘI - 2018
BLHS
: Bộ luật Hình sự
CHLB
: Cộng hòa Liên bang
CHND
: Cộng hòa nhân dân
CTTP
: Cấu thành tội phạm
PLHS
: Pháp luật hình sự
PVCĐ
: Phòng vệ chính đáng
TANDTC
: Tòa án nhân dân tối cao
TNHS
luật hình sự”; “các tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi” và
“các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự”... Mặc dù chưa có sự thống nhất trong
việc sử dụng các thuật ngữ như kể trên nhưng xét về nội dung, các trường hợp này
đều được hiểu không khác nhau và hậu quả pháp lý mà người thực hiện hành vi gây
thiệt hại cho xã hội đều giống nhau - không phải chịu TNHS. Khi nghiên cứu đề tài,
tác giả chọn thuật ngữ là “các tình tiết loại trừ tính chất phạm tội của hành vi”.
Cùng với chế định TNHS, chế định “các tình tiết loại trừ tính chất phạm tội
của hành vi” có ý nghĩa trong việc giải quyết TNHS, là “cơ sở pháp lý cho việc đấu
tranh chống và phòng ngừa tội phạm, góp phần bảo vệ chế độ XHCN, quyền làm
chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa các dân tộc, các quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân, bảo vệ trật tự pháp luật XHCN, xây dựng nhà nước pháp
1
quyền XHCN Việt Nam trên con đường đổi mới” [6, tr.280]. Tuy nhiên, trong khoa
học luật hình sự và trong thực tiễn, nhận thức và áp dụng các tình tiết loại trừ tính
chất phạm tội của hành vi đang còn có một số vướng mắc. Bản thân hai tình tiết đã
được quy định trong BLHS năm 1999 (phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết)
vẫn còn nhận thức và áp dụng chưa thống nhất. Hơn nữa, BLHS năm 2015 đã quy
định thêm 03 tình tiết loại trừ tính chất phạm tội của hành vi cùng với 02 tình tiết
phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết trong chương mới - chương IV - “Những
trường hợp loại trừ TNHS” cũng đòi hỏi có sự nghiên cứu về các trường hợp bổ
sung này để làm rõ hơn chế định “các tình tiết loại trừ tính chất phạm tội của hành
vi”.
Kinh nghiệm pháp luật hình sự nước ngoài, điển hình là các nước Anh, Pháp,
Nga với nhiều ưu điểm trong kỹ thuật lập pháp là những kinh nghiệm có giá trị
tham khảo trong hoạt động hoàn thiện các quy định tương tự trong BLHS Việt
Nam.
Từ thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về PVCĐ và TTCT cho thấy vẫn còn
- Nhóm nghiên cứu “các trường hợp (tình tiết) loại trừ trách nhiệm hình sự”
được hiểu bao gồm cả các trường hợp không có TNHS khác. Do vậy, trong các
công trình này, vấn đề mà tác giả luận văn nghiên cứu chỉ là một nội dung trong
nhiều nội dung khác được nghiên cứu. Ví dụ: Nguyễn Ngọc Chí, Về chế định loại
trừ trách nhiệm hình sự, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 4 (1999); Giang Sơn,
Các yếu tố loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, Luận án tiến sĩ Luật
học, trường Đại học Luật Hà Nội (2002); Trịnh Tiến Việt, Chế định loại trừ trách
nhiệm hình sự và những yêu cầu đặt ra khi sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự Việt
Nam, Tạp chí Khoa học ĐHQG, Luật học, tập 29, số 4 (2013); Nguyễn Tuyết Mai,
Hoàn thiện chế định loại trừ trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự Việt Nam,
Tạp chí Luật học số 2 (2014);... Như vậy, hai nhóm nghiên cứu này có nội dung
nghiên cứu tương đối rộng và nội dung thuộc đề tài luận văn của tác giả không phải
là nội dung được tập trung nghiên cứu của các công trình này.
- Nhóm nghiên cứu chuyên về chế định PVCĐ hoặc về TTCT. Đây là nhóm
có nhiều công trình nghiên cứu để phục vụ trực tiếp việc giải thích, bình luận các
điều luật của BLHS. Điểm chung của các công trình này là tập trung giải thích nội
dung quy định của BLHS về PVCĐ và TTCT, từ cơ sở, nội dung, phạm vi đến các
3
vướng mắc có liên quan. Ví dụ: Hoàng Văn Hùng, Tìm hiểu về bản chất của tình
thế cấp thiết, Tạp chí Luật học số 5/1999; Nguyễn Đức Mai, Phòng vệ chính đáng
theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 6 (2000);
Giang Sơn, Quy định về chế định phòng vệ chính đáng theo Bộ luật Hình sự Việt
Nam năm 1999, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện Nhà nước và pháp luật, số 8
(2001); Phạm Quốc Hưng, Phòng vệ chính đáng trong luật hình sự Việt Nam, Luận
văn thạc sĩ Luật học, trường Đại học Luật Hà Nội (2001); Đinh Văn Quế, Một số
vấn đề phòng vệ chính đáng, vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng và những
vướng mắc trong thực tiễn xét xử, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 17 (2009); Nguyễn
vấn đề này.
Để đạt được mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:
- Phân tích cơ sở lý luận của các tình tiết loại trừ tính chất phạm tội của hành
vi;
- Giải thích các quy định của BLHS hiện hành về các tình tiết loại trừ tính
chất phạm tội của hành vi trong sự so sánh với lý luận và thực tiễn lập pháp của một
số quốc gia trên thế giới;
- Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về các tình tiết loại trừ tính chất
phạm tội của hành vi, làm rõ những vấn đề đặt ra đối với quy định của BLHS;
- Đề xuất những kiến nghị hoàn thiện chế các tình tiết loại trừ tính chất phạm
tội của hành vi trong BLHS Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Ngoài đối tượng nghiên cứu là các tình tiết loại trừ tính chất phạm tội của
hành vi, luận văn còn có các đối tượng nghiên cứu về chế định này, gồm: các quy
định của BLHS Việt Nam năm 1999, BLHS Việt Nam năm 2015 và luật hình sự
một số quốc gia khác trên thế giới về các tình tiết này. Cụ thể: Các điều luật được
nghiên cứu là các điều 15, 16 BLHS Việt Nam năm 1999; các điều 21, 22, 23, 24,
25, 26 BLHS Việt Nam năm 2015; các điều 37, 38, 39, 40, 41,42 BLHS Liên bang
Nga; các điều 1, 2, 4, 8, (chương 24) BLHS Thụy Điển; các điều 25, 27, 34 BLHS
Cannada; các điều 32, 33, 34 BLHS Cộng hòa Liên bang Đức; các điều 20, 21
BLHS nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5
- Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử, quán triệt quan điểm của Đảng, Nhà nước, tư
tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, về chính sách hình sự và đấu tranh
phòng, chống tội phạm.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
kết cấu thành 3 chương:
- Chương 1. Những vấn đề lý luận và khái quát lập pháp hình sự về các tình
tiết loại trừ tính chất phạm tội của hành vi
- Chương 2. Quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 về các tình
tiết loại trừ tính chất phạm tội của hành vi và thực trạng áp dụng ở Việt Nam
- Chương 3. Giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự về các tình
tiết loại trừ tính chất phạm tội của hành vi
7
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT LẬP PHÁP HÌNH SỰ
VỀ CÁC TÌNH TIẾT LOẠI TRỪ TÍNH CHẤT
PHẠM TỘI CỦA HÀNH VI
1.1. Nhận thức chung về các tình tiết loại trừ tính chất phạm tội của
hành vi
1.1.1. Khái niệm tình tiết loại trừ tính chất phạm tội của hành vi
1.1.1.1. Các cách hiểu và tên gọi khác nhau về các tình tiết loại trừ tính chất
phạm tội của hành vi
Theo luật hình sự Việt Nam, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được
quy định trong BLHS. Người (có đủ điều kiện chủ thể của tội phạm) thực hiện hành
vi đã được mô tả là tội phạm tại điều luật cụ thể của BLHS bị coi là người phạm tội
và phải chịu TNHS về hành vi phạm tội đó.
Khi thực hiện hành vi được mô tả trong BLHS, người thực hiện có thể bị
những động cơ khác nhau thúc đẩy. Tính chất khác nhau của những động cơ này có
ảnh hưởng khác nhau đến tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi đã thực hiện - có
thể làm tăng hoặc có thể làm giảm tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.