Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng (SAE) trong thử nghiệm lâm sàng thuốc tại việt nam - Pdf 49

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

NGUYỄN DUY THỰC

PHÂN TÍCH MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI
HOẠT ĐỘNG BÁO CÁO BIẾN CỐ BẤT LỢI NGHIÊM
TRỌNG (SAE) TRONG THỬ NGHIỆM
LÂM SÀNG THUỐC TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC

HÀ NỘI – 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

NGUYỄN DUY THỰC

PHÂN TÍCH MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI
HOẠT ĐỘNG BÁO CÁO BIẾN CỐ BẤT LỢI NGHIÊM
TRỌNG (SAE) TRONG THỬ NGHIỆM
LÂM SÀNG THUỐC TẠI VIỆT NAM


Học viên

Nguyễn Duy Thực


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ ........................................................................................................ 1
Chương 1. TỔNG QUAN ..................................................................................... 3
1.1. Khái quát về báo cáo AE/SAE trong TNLS .......................................................... 3

1.1.1. Định nghĩa các loại biến cố bất lợi trong TNLS ....................... 3
1.1.2. Quy định về báo cáo AE/SAE của một số nước trên thế giới và
Việt Nam ............................................................................................ 4
1.1.3. Tổng quan về thực trạng báo cáo AE/SAE trong TNLS .......... 10
1.2. Tổng quan về yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động báo cáo biến cố bất lợi trong
TNLS ...........................................................................................................................14

1.2.1. Một số yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động báo cáo biến cố bất lợi
trên thế giới ........................................................................................ 14
1.2.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động báo cáo biến cố bất lợi
trong TNLS tại Việt Nam .................................................................. 19
1.3. Giải pháp nâng cao chất lượng báo cáo biến cố bất lợi trong TNLS. 21

1.3.1. Giải pháp về quy trình báo cáo ................................................. 21
1.3.2. Giải pháp về đào tạo ................................................................. 21

3.2. Đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố tới hoạt động báo cáo AE/SAE
tại Việt Nam ...............................................................................................................57

3.2.1. Xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tới hoạt động báo
cáo AE/SAE tại Việt Nam ................................................................. 57
3.2.2. Tầm quan trọng của biến độc lập .............................................. 59
3.2.3. Đánh giá về các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động báo cáo
AE/SAE .............................................................................................. 61
Chương 4: BÀN LUẬN ........................................................................................ 67
4.1 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động báo cáo AE/SAE tại Việt Nam ........67


4.1.1 Yếu tố “Quy định, quy trình gửi báo cáo”: ................................ 67
4.1.2. Yếu tố “Biểu mẫu báo cáo và phương thức gửi” ...................... 68
4.1.3. Yếu tố “Kiến thức và thái độ” ................................................... 68
4.1.4. Yếu tố “Người bệnh tham gia nghiên cứu” .............................. 69
4.1.5. Yếu tố “Một số yếu tố khác” .................................................... 70
4.2. Mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố tới hoạt động báo cáo AE/SAE tại Việt
Nam, xác định vấn đề cần cải thiện .......................................................................70

4.2.1. Mức độ ảnh hưởng của yếu tố “Quy định, quy trình báo cáo” tới
hoạt động báo cáo AE/SAE tại Việt Nam ......................................... 70
4.2.2. Mức độ ảnh hưởng của yếu tố “Biểu mẫu và phương thức gửi
báo cáo ” tới hoạt động báo cáo AE/SAE tại Việt Nam 71
4.2.3. Mức độ ảnh hưởng của yếu tố “Kiến thức và thái độ” tới hoạt
động báo cáo AE/SAE tại Việt Nam ................................................. 72
4.2.4 Mức độ ảnh hưởng của yếu tố “Một số yếu tố khác” tới hoạt
động báo cáo AE/SAE tại Việt Nam ................................................. 73
4.2.5 Mức độ ảnh hưởng của yếu tố “Người bệnh tham gia nghiên cứu”
tới hoạt động báo cáo AE/SAE tại Việt Nam .................................... 73

Clinical Research Associate

DSMB

Data and Safety Monitoring
Board

Ủy ban giám sát an toàn dữ liệu

eCRF

Electronic case report form

Bệnh án điện tử

The European Medicines
Agency
European Union
The Food and Drug
Administration
Good Clinical Practice

Cơ quan quản lý thuốc Châu Âu

EMA
EU
FDA
GCP
HĐĐĐ
ICH

Biến cố bất lợi nghiêm trọng
Thử nghiệm lâm sàng
Tổ chức Y tế thế giới


DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 1.1.
Bảng 1.2:

Phân biệt AE và ADR............................................................................. 4
Trách nhiệm các bên liên quan trong ghi nhận, xử trí và báo cáo AE,

Bảng 1.3:
Bảng 1.4:

SAE trong TNLS tại Việt Nam ............................................................. 8
Bảng so sánh công văn số 6586/BYT-K2ĐT với quyết định 62/QĐ - K2ĐT ....... 9
Cơ sở hình thành 6 thang đo nhân tố trong mô hình ............................ 24

Bảng 1.5:
Bảng 2.6:

Chỉnh sửa sau nghiên cứu thử nghiệm ................................................. 26
Biến số nghiên cứu ............................................................................... 28

Bảng 2.7.
Bảng 3.8:

Tiến trình phân tích dữ liệu định tính ................................................... 37


Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính ................................................... 57
Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hoạt động báo cáo AE/SAE .... 60
Đánh giá ảnh hưởng của yếu tố “Quy định, quy trình báo cáo AE/SAE” 62
Đánh giá ảnh hưởng của yếu tố “Kiến thức và thái độ” ....................... 63
Đánh giá ảnh hưởng của yếu tố “Biểu mẫu báo cáo và phương thức gửi” 64
Đánh giá ảnh hưởng của yếu tố “Người bệnh tham gia nghiên cứu” .. 65
Đánh giá ảnh hưởng của yếu tố “Yếu tố khác” .................................... 65
Đánh giá ảnh hưởng của yếu tố “Đánh giá chung” .............................. 66

Bảng 3.14:
Bảng 3.15:


DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 1.1: Mối quan hệ giữa AE và ADR ................................................................ 4
Hình 1.2. Quy trình chung khi báo cáo SAE trong TNLS của một số nước trên thế
giới ........................................................................................................... 4
Hình 1.3: Chi tiết yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động báo cáo AE/SAE trên thế giới ...... 18
Hình 1.4: Chi tiết yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động báo cáo AE/SAE tại Việt Nam .... 20
Hình 1.5: Mô hình đánh giá yếu tố ảnh hưởng hoạt động báo cáo AE/SAE tại Việt
Nam ....................................................................................................... 27
Hình 1.6: Sơ đồ thiết kế nghiên cứu ...................................................................... 32
Hình 3.7: Đồ thị phân khúc nhân tố ....................................................................... 55
Hình 3.8: Mô hình nghiên cứu của đề tài .............................................................. 56
Hình 3.9: Mô hình mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tới hoạt động báo cáo
AE/SAE ................................................................................................. 61





lâm sàng bị ảnh hưởng bởi những yếu tố/nhân tố nào và mức độ ảnh hưởng của
từng yếu tố/nhân tố đó. Mục tiêu của đề tài bao gồm:
1. Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động báo cáo biến cố bất lợi
nghiêm trọng (SAE) trong thử nghiệm lâm sàng thuốc tại Việt Nam.
2. Đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố tới hoạt động báo cáo biến cố
bất lợi nghiêm trọng (SAE) trong thử nghiệm lâm sàng thuốc tại Việt Nam.
Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động báo cáo
SAE tại Việt Nam.

2


Chương 1. TỔNG QUAN
1.1. Khái quát về báo cáo AE/SAE trong TNLS
1.1.1. Định nghĩa các loại biến cố bất lợi trong TNLS
Trong TNLS, việc theo dõi, ghi nhận, xử trí và báo cáo các biến cố bất lợi,
đặc biệt là biến cố bất lợi nghiêm trọng, xảy ra trong quá trình nghiên cứu là cần
thiết và có ý nghĩa quan trọng.
a) Biến cố bất lợi (Adverse event - AE) là sự việc hoặc tình trạng y khoa bao
gồm bất kỳ dấu hiệu, triệu chứng, tình trạng bệnh tật hoặc kết quả xét nghiệm có
chiều hướng xấu xảy ra trong quá trình thử nghiệm lâm sàng ảnh hưởng đến đối
tượng tham gia thử nghiệm lâm sàng, có hoặc không có liên quan đến sản phẩm thử
nghiệm lâm sàng.
b) Biến cố bất lợi nghiêm trọng (Serious Adverse Event - SAE) là biến cố bất
lợi có thể dẫn tới một trong các tình huống sau đây trên đối tượng tham gia thử
nghiệm lâm sàng:
b1. Tử vong;
b2. Đe dọa tính mạng;


chứng, tình trạng bệnh tật hoặc xảy ra trên đối tượng tham gia thử
kết quả xét nghiệm có chiều nghiệm lâm sàng và được đánh giá
hướng xấu.
là có liên quan nhân quả với sản
phẩm thử nghiệm ở bất kỳ liều nào.

Nguyên Nguyên nhân chưa xác định.
nhân

Có liên quan nhân quả với thuốc.

AE
ADR

SAE

Hình 1.1: Mối quan hệ giữa AE và ADR
1.1.2. Quy định về báo cáo AE/SAE của một số nước trên thế giới và Việt Nam
1.1.2.1. Trên thế giới

Hình 1.2. Quy trình chung khi báo cáo SAE trong TNLS của một số nước trên
thế giới [15], [16]

4


Theo ICH, tất cả các biến cố bất lợi nghiêm trọng (SAE) phải được báo cáo
ngay cho nhà tài trợ ngoại trừ những SAE trong các đề cương hoặc thông tin cho
người nghiên cứu xếp vào loại không cần báo cáo khẩn cấp. Các biến cố bất lợi, xét

Cách thức báo cáo cần theo mẫu quy định nhưng có thể đệ trình bản điện tử
hoặc các phương tiện thông tin nhanh khác như điện thoại, fax, email.
Nghiên cứu viên được yêu cầu báo cáo cho Hội đồng đạo đức tất cả các vấn đề
không dự kiến trước liên quan đến nguy cơ cho đối tượng nghiên cứu hoặc các đối tượng
khác, bao gồm các AE được nghiên cứu viên xếp loại là biến cố không định trước.
Những nội dung khác được báo cáo trong các báo cáo an toàn định kỳ hoặc
khi kết thúc nghiên cứu [40], [46].
Báo cáo tại EU theo hướng dẫn của EMA
Các nghiên cứu viên chính cần báo cáo các biến cố bất lợi nghiêm trọng
ngay lập tức và cần báo cáo trong vòng 24h kể từ lúc phát hiện.
Đối với các biến cố bất lợi nghiêm trọng nghi ngờ ngoài dự kiến gây tử vong
hoặc đe dọa tính mạng, nhà tài trợ cần báo cáo cho cơ quan chức năng và Ủy ban
Đạo đức trong các nước thành viên có liên quan.
+ Báo cáo ban đầu: báo cáo sớm nhất có thể nhưng không muộn hơn 7 ngày
kể từ ngày nhận thông tin và có kiến thức tối thiểu về các tiêu chuẩn cho việc báo
cáo nhanh.
+ Báo cáo theo dõi: báo cáo sớm nhất có thể trong vòng 8 ngày tiếp theo.
Đối với các biến cố bất lợi nghiêm trọng ngoài dự kiến không gây tử vong
hoặc đe dọa tính mạng, nhà tài trợ cần báo cáo cho cơ quan chức năng và Ủy ban
Đạo đức ở các nước liên quan sớm nhất có thể không muộn hơn 15 ngày kể từ ngày
nhận thông tin[15].
Báo cáo tại Ấn Độ
Theo Hội đồng nghiên cứu y học Ấn Độ, nghiên cứu viên phải báo cáo tất cả
SAE không mong muốn cho các nhà tài trợ trong vòng 24 giờ và các Ủy ban đạo
đức trong vòng 7 ngày.
Trong các trường hợp tử vong, Ủy ban đạo đức cũng cần được thông báo
trong vòng 24 giờ. Bất kỳ SAE không mong muốn, nhà tài trợ nên báo cáo kịp thời
trong vòng 14 ngày cho Cơ quan cấp phép và cho điều tra viên của các địa điểm thử
nghiệm khác tham gia nghiên cứu.


nhận được thông tin về SAE. Trong trường hợp nhận được các thông tin bổ sung có
ý nghĩa y khoa về diễn biến của SAE, tiến triển của đối tượng tham gia thử nghiệm
7


lâm sàng gặp SAE hoặc thay đổi quy kết mối quan hệ nhân quả giữa SAE với sản
phẩm nghiên cứu, phải báo cáo trong vòng 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
thông tin bổ sung đó.
- Trách nhiệm của bên liên quan trong việc ghi nhận, xử trí và báo cáo biến cố
bất lợi AE/SAE trong TNLS tại Việt Nam:
Theo quyết định 62/QĐ - K2ĐT, trách nhiệm của các bên liên quan trong TNLS
tại Việt Nam được trình bày tại bảng 1.2 như sau [3]:
Bảng 1.2: Trách nhiệm các bên liên quan trong ghi nhận, xử trí và báo cáo AE,
SAE trong TNLS tại Việt Nam [3]
Trách nhiệm

Bên liên quan

Phát hiện, xử trí SAE kịp thời; đảm bảo an toàn
cho đối tượng nghiên cứu.
Nghiên cứu viên chính

Gửi báo cáo AE/SAE cho Nhà tài trợ, HĐĐĐ các
cấp, Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo - BYT và
Trung tâm ADR quốc gia.

Tổ chức nhận thử thuốc trên

Quản lý, giám sát việc phát hiện theo dõi, ghi nhận,


Bảng 1.3: Bảng so sánh công văn số 6586/BYT-K2ĐT với quyết định 62/QĐ - K2ĐT
Nội dung so sánh

Công văn

Quyết định

6586/BYT -K2ĐT

62/QĐ - K2ĐT

SAE đe dọa

Trong vòng 7 ngày kể Trong vòng 7 ngày làm

tính mạng/

từ khi nhận SAE

việc

Thời gian

tử vong

báo cáo

SAE không

Trong vòng 15 ngày

+ Văn phòng

+ Văn phòng BĐGĐĐ

BĐGĐĐ

+ Trung tâm ADR

Như vậy so với công văn cũ số 6586/BYT-K2ĐT thì quyết định 62/QĐ K2ĐT có một số điểm thay đổi:
Thứ nhất, làm rõ hơn định nghĩa các trường hợp SAE, đặc biệt bổ sung SAE
loại có ý nghĩa y khoa để phù hợp quy định, hướng dẫn quốc tế và thực tiễn nghiên
cứu TNLS, tránh báo cáo thiếu SAE loại này.
Thứ hai, chỉnh sửa mẫu báo cáo để thuận tiện hơn cho người báo cáo.
Thứ ba, về thời gian báo cáo SAE xảy ra tại Việt Nam, theo quy định mới thì
thời gian được quy định rõ ràng hơn tránh gây hiểu nhầm: với SAE đe dọa tính
mạng/tử vong thì thời hạn báo cáo là 7 ngày làm việc so với quy định cũ là 7 ngày
kể từ ngày nhận SAE. Với SAE không đe dọa tính mạng/tử vong thì theo quy định
mới cũng dài hơn là trong vòng 15 ngày làm kể từ ngày nhận được thông tin SAE
so với 15 ngày theo quy định cũ.

9


Thứ hai về đối tượng báo cáo, theo quy định cũ thì chỉ NCV chính phối hợp
với nhà tài trợ hoàn thiện thông tin và báo cáo. Còn theo quyết định mới thì có thêm
tổ chức hỗ trợ nghiên cứu được ủy quyền.
Thứ ba về đối tượng nhận báo cáo, ngoài các đối tượng nhận báo cáo là
HĐĐĐ cấp cơ sở và văn phòng BĐGĐĐ thì báo cáo cần được gửi về Trung tâm
Tổng quan về thực trạng báo cáo AE/SAE trong TNLS.
1.1.3. Tổng quan về thực trạng báo cáo AE/SAE trong TNLS

sử có liên quan không chứa đủ số liệu hỗ trợ nhà tài trợ đánh giá các trường hợp
biến cố. Ngày bắt đầu khởi phát biến cố không được ghi trong 5.7% biểu mẫu báo
cáo [11]; 3.6% báo cáo bị thiếu tiêu chí chính (mà theo yêu cầu ít nhất 1 trong 6 tiêu
chí phải được tích); 9.3% nghiên cứu viên không đề cập tới mối quan hệ nhân quả.
Trong cơ sở dữ liệu của cơ quan Cảnh giác dược Mexico chỉ có 44.5% báo cáo AE
là đầy đủ theo tiêu chuẩn chính thức của Mexico [34].
Peron và cộng sự (J Clin Oncol 2013) rà soát 325 RCT thuốc ung thư xuất bản
2007-2011: các mục báo cáo kém phổ biến nhất bao gồm: phương pháp thu thập AE
(chỉ được báo cáo đủ trong 10% nghiên cứu), mô tả đặc điểm AE dẫn đến phải rút
bệnh nhân khỏi nghiên cứu (chỉ có 15% có báo cáo), nhận định mối liên quan (38%);
chất lượng báo cáo AE không được cải thiện theo thời gian và không tốt hơn trên các
tạp chí có chỉ số ảnh hưởng cao so với các tạp chí có chỉ số này thấp hơn [32].
Về thời gian nộp báo cáo:
Crepin cũng chỉ ra thời gian trễ trung bình từ khi khởi phát SAE đến ngày báo
cáo với nhà tài trợ là 13 ngày; chỉ có 21% báo cáo đúng trong vòng 24h [11].
Theo Winston S Liauw và Richard O Day, Trường ĐH New South Wales (Úc)
trong phân tích thực trạng, nguyên nhân và giải pháp cho báo cáo AE đã chỉ ra có rất
nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng báo cáo AE. Trong đó là quy trình báo cáo
phức tạp dẫn đến chậm trễ trong các khâu của quy trình báo cáo. Thực tế, rất nhiều
báo cáo thời gian từ lúc biến cố xảy ra tới HĐĐĐ có thể mất vài tháng [27].

11


1.1.3.2. Thực trạng báo cáo AE/SAE trong TNLS tại Việt Nam
Về số lượng các báo cáo AE/SAE:
Theo nghiên cứu của tác giả Lê Anh Tuấn năm 2014, giai đoạn 2006-2013 số
lượng báo cáo AE, SAE tại các TNLS tăng dần. Cụ thể, năm 2006, 8 TNLS tại Việt
Nam nhưng không có báo cáo AE/SAE nào. Đến năm 2013 số lượng báo cáo đã
tăng lên 133 báo cáo trên 98 TNLS [4].

tế còn chưa thật sự phù hợp [7].
Về thời gian nộp báo cáo:
Giai đoạn 2006-2013, nghiên cứu của Lê Anh Tuấn cho thấy có khoảng 42%
số lượng báo cáo nộp đúng thời hạn quy định, 53% số lượng báo cáo nộp không
đúng thời hạn quy định, còn lại là không có thông tin. Sau khi loại trừ các báo cáo
thiếu thông tin, giá trị trung vị số ngày từ khi xuất hiện đến khi hoàn thành báo cáo
là 13 ngày; cá biệt có những trường hợp thời gian gửi báo cáo là 671 ngày [4].
Đến năm 2015, theo tác giả Nguyễn Đoàn Thoan thì số báo cáo SAE nộp đúng
hạn mà Cục Khoa học và công nghệ Đào tạo nhận được chiếm 59,3%, số lượng báo
cáo không đúng thời gian quy định là 21,0% còn lại 19,6% số lượng báo cáo là
không có thông tin. Thời gian trung bình từ ngày xuất hiện biến cố SAE đến khi
hoàn thành báo cáo ban đầu là 15,5 ngày chậm hơn so với quy định của Bộ Y tế
trung bình 8,5 ngày [7].
Về Biểu mẫu báo cáo:
Cũng theo nghiên cứu của Nguyễn Đoàn Thoan, các đơn vị tổ chức nhận thử
thuốc phần lớn sử dụng mẫu báo cáo của Bộ Y tế cùng với một số mẫu báo cáo
khác được sử dụng song song để gửi báo cáo AE/SAE, các mẫu báo cáo khác
thường sử dụng ngôn ngữ là tiếng Anh: năm 2014, BĐGĐĐ - Bộ Y tế còn nhận
được những báo cáo theo mẫu CIOMS (bằng tiếng anh), mẫu khác của đơn vị báo
cáo. Việc sử dụng nhiều mẫu báo cáo và nhiều ngôn ngữ báo cáo khác nhau, mặc dù
tỷ lệ còn thấp, nhưng nó cũng gây khó khăn trong việc quản lý, theo dõi các SAE
xảy ra với đối tượng TNLS [7].
Về phương thức và quy trình báo cáo:
Theo quy định của Bộ Y tế Việt Nam, tất cả các báo cáo AE, SAE đều được báo
cáo dạng văn bản giấy và được gửi đi các cơ quan (HĐĐĐ cấp cơ sở, nhà tài trợ, Bộ Y
tế...) bằng đường công văn [2]. Hơn nữa, Quy trình báo cáo còn phức tạp [7].

13



14


tài liệu của nghiên cứu viên, theo định nghĩa mà không được coi là không dự đoán
trước và không yêu cầu phải báo cáo cho hội đồng đạo đức [41]. Các nước châu Âu
cũng thông qua những hướng dẫn như vậy [19].
Mỗi tháng, HĐĐĐ nhận 80-100 báo cáo nhiều trang giấy và việc xem xét
những báo cáo này tốn gần một nửa thời gian làm việc của HĐĐĐ. Hơn nữa, trong
khi HĐĐĐ và các nhà điều tra có trách nhiệm phải xem xét từng báo cáo biến cố bất
lợi với hàng loạt những Protocols trong cùng một thời gian tuy nhiên không có một
cơ chế nào để đảm bảo điều này. Chắc chắn, thành viên của HĐĐĐ làm việc không
có thù lao hoặc đơn giản không đủ thời gian và nguồn lực để thực hiện như một
doanh nghiệp [27].
Cũng theo tác giả Califf RM, hệ thống quản lý hiện hành trong thử nghiệm lâm
sàng thì một số bộ phận bao gồm HĐĐĐ có thể không phù hợp để đánh giá, giám
sát hoạt động nghiên cứu [10].
1.2.1.2. Kiến thức và thái của nghiên cứu viên:
Một nghiên cứu tổng hợp thực hiện ở Mỹ và Canada chỉ ra có rất nhiều yếu tố
ảnh hưởng đến việc thực hiện quy trình báo cáo SAE. Tuy nhiên, yếu tố quan trọng
nhất là là những yếu tố liên quan đến con người. Các vấn đề chính đó là:
+ Sự khác nhau về trình độ: Mức độ thông thạo của nghiên cứu viên trong việc
xác định và báo cáo SAE được chứng minh qua các địa điểm nghiên cứu. Theo đó,
để đảm bảo báo cáo đầy đủ và chính xác SAE cần phải giảm sự khác biệt về trình
độ này.
+ Yêu cầu về đào tạo: Các khóa đào tạo về báo cáo AE cần được thực hiện
trước khi bắt đầu nghiên cứu và định kỳ trong suốt quá trình nghiên cứu [43].
Báo cáo của Viện dược phẩm Hoa Kỳ năm 2016 có tên Phòng ngừa Sai sót Dược
Phẩm tuyên bố “Các yếu tố không khuyến khích nghiên cứu viên báo cáo” [23]:
+ Áp lực về thời gian.
+ Lo sợ về trách nhiệm pháp lý.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status