Tư tưởng hồ chí minh về giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên và vận dụng ở trường cao đẳng an ninh nhân dân II trong giai đoạn hiện nay - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN MINH PHƢƠNG

TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CÁCH MẠNG CHO THANH NIÊN VÀ VẬN DỤNG Ở
TRƢỜNG CAO ĐẲNG AN NINH NHÂN DÂN II
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN MINH PHƢƠNG

TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CÁCH MẠNG CHO THANH NIÊN VÀ VẬN DỤNG Ở
TRƢỜNG CAO ĐẲNG AN NINH NHÂN DÂN II
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết Học
Mã số: 82 29 001

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC


1.2.3. Nội dung tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cách mạng cho
thanh niên .............................................................................................................. 26
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO ĐOÀN VIÊN THANH NIÊN
TRƢỜNG CAO ĐẲNG AN NINH NHÂN DÂN II TRONG GIAI ĐOẠN
HIỆN NAY ....................................................................................................... 37
2.1. Đặc điểm, tình hình và thực trạng công tác giáo dục đạo đức cách mạng
cho đoàn viên thanh niên Trƣờng Cao đẳng An ninh nhân dân II trong thời
gian vừa qua .................................................................................................. 37
2.1.1. Một số nét khái quát về đặc điểm, tình hình của Trƣờng Cao đẳng An ninh
nhân dân II hiện nay ............................................................................................... 37
2.1.2. Đặc điểm của học viên, đoàn viên thanh niên trƣờng Cao đẳng An ninh nhân
dân II trong giai đoạn hiện nay ................................................................................ 38
2.1.3. Những chủ thể trong công tác giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên
thanh niên Trƣờng Cao đẳng An ninh nhân dân II hiện nay .................................. 41
2.1.4. Thực trạng công tác giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên thanh niên
Trƣờng Cao đẳng An ninh nhân dân II trong thời gian qua ................................... 43
2.2. Những yếu tố ảnh hƣởng, phƣơng hƣớng và một số nhóm giải pháp nhằm
nâng cao chất lƣợng giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên thanh niên
Trƣờng Cao đẳng An ninh nhân dân II trong giai đoạn hiện nay .................... 59


2.2.1. Một số yếu tố ảnh hƣởng đến công tác giáo dục nâng cao đạo đức cách
mạng cho đoàn viên thanh niên Trƣờng cao đẳng An ninh nhân dân II giai đoạn
hiện nay .................................................................................................................. 59
2.2.2. Phƣơng hƣớng trong công tác giáo dục, nâng cao đạo đức cách mạng cho
đoàn viên thanh niên Trƣờng Cao đẳng An ninh nhân dân II trong giai đoạn
hiện nay .................................................................................................................. 62
2.2.3. Một số các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo
đức cách mạng cho đoàn viên thanh niên trƣờng Cao đẳng An ninh nhân dân II

:Chủ nghĩa cộng sản

CNXH

:Chủ nghĩa xã hội

CT

:Chỉ thị

Ctr

:Chƣơng trình

ĐUCA

:Đảng ủy Công an

GS

:Giáo sƣ

NQ

:Nghị quyết

PGS

:Phó giáo sƣ




MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thanh niên Việt Nam chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu dân số, là lực lƣợng luôn có
vai trò quan trọng trong các giai đoạn lịch sử phát triển của đất nƣớc. Trong quá
trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt niềm tin và kỳ
vọng lớn lao vào lực lƣợng thanh niên, xác định thanh niên là rƣờng cột của nƣớc
nhà, chủ nhân tƣơng lai của đất nƣớc, là một trong những nhân tố quyết định vận
mệnh của dân tộc, đến sự thành công của công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa .
Hiện nay đất nƣớc ta đang thực hiện hai nhiệm vụ chiến lƣợc là xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ
quốc thì Công an nhân dân Việt Nam là lực lƣợng quan trọng đóng vai trò nòng cốt,
xung kích. Chức năng cơ bản của lực lƣợng Công an nhân dân là tham mƣu cho
Đảng, Nhà nƣớc về lĩnh vực an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, thực hiện chức
năng quản lý Nhà nƣớc về lĩnh vực an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đấu
tranh phòng chống các loại tội phạm và các thế lực thù địch.
Để lực lƣợng Công an nhân dân thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụ của
mình, cùng với xây dựng lực lƣợng Công an nhân dân Việt Nam trở thành chính
quy, tinh nhuệ, từng bƣớc hiện đại, thì đội ngũ này cũng cần phải đƣợc quan tâm
đào tạo một cách toàn diện cả về chuyên môn nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức để
có những cán bộ, chiến sỹ vừa “hồng” vừa “chuyên”, vừa có năng lực chuyên môn
nghiệp vụ giỏi, vừa có lập trƣờng tƣ tƣởng vững vàng, phẩm chất đạo đức trong
sáng, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình hình mới.
Xuất phát từ mục tiêu đó, lực lƣợng đoàn viên thanh niên Công an nhân dân là một
trong những nhân tố cần đƣợc quan tâm bồi dƣỡng nhiều hơn trong vấn đề này.
Tuy nhiên, do ảnh hƣởng của quá trình hội nhập quốc tế, cùng với mặt trái của
nền kinh tế thị trƣờng đã có một bộ phận cán bộ, chiến sỹ xa rời lý tƣởng, suy thoái
về mặt đạo đức; bên cạnh đó các thế lực thù địch không ngừng đẩy mạnh các hoạt
động “diễn biến hòa bình” làm tha hóa đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ,

nghiên cứu về tƣ tƣởng Hồ Chí Minh đối với thanh niên và công tác giáo dục, đào
tạo, bồi dƣỡng thanh niên ở một địa bàn hoặc một số lĩnh vực nhất định. Tƣ tƣởng
Hồ Chí Minh về thanh niên đƣợc đề cập trong các tác phẩm nhƣ Hồ Chí Minh toàn
tập; Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh hoặc ở một số các công trình tiêu biểu nhƣ:

2


“Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về đạo đức” của PGS.TS Đinh Xuân Dũng (chủ
biên), Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2008. Cuốn sách này là tập hợp những bài
nghiên cứu, những trích dẫn tiêu biểu về tƣ tƣởng đạo đức Hồ Chí Minh và một số
mẩu chuyện chân thật, sinh động, ngắn gọn về tấm gƣơng đạo đức Hồ Chí Minh để
phục vụ việc học tập của cán bộ, đảng viên, quảng đại quần chúng nói chung và đối
với cán bộ, giáo viên, học sinh, sinh viên trong các nhà trƣờng nói riêng.
“Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên” của tác giả
Văn Tùng, Nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội, 2010. Cuốn sách đã khái quát về tình
hình thanh niên nƣớc ta trong mấy năm đầu thế ký thứ XXI; Tính toàn diện và hệ
thống về giáo dục, bồi dƣỡng đạo đức cách mạng trong tƣ tƣởng của Bác Hồ; Bác
Hồ với vấn đề giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đoàn viên, thanh niên.
“Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về Công an nhân dân” do Thƣợng tƣớng, GS.TS Tô
Lâm (chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015. Cuốn sách đã khái
quát có hệ thống quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về sự nghiệp bảo vệ an ninh,
trật tự của đất nƣớc; về xây dựng lực lƣợng Công an nhân dân trong sạch, vững
mạnh. Đồng thời làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực tiễn trên cơ sở vận dụng tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh về Công an nhân dân.
Ngoài ra, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về thanh niên và công tác thanh niên cũng
đƣợc nghiên cứu và trình bày khá phong phú trong các luận văn, luận án tiến sĩ:
“Xây dựng đạo đức cho thanh niên Việt Nam trong nền kinh tế thị trƣờng định
hƣớng xã hội chủ nghĩa” - Luận án tiến sĩ của Phạm Minh Giang, 2011; hoặc đƣợc
nghuên cứu và trình bày trong các luận văn thạc sĩ nhƣ: “Giáo dục đạo đức cho

các mạng cho lực lƣợng thanh niên trong giai đoạn hiện nay.
Nhìn tổng thể đã có nhiều tác giả với nhiều công trình nghiên cứu đƣợc công
bố liên quan đến đề tài. Tuy nhiên, có rất ít công trình đi sâu nghiên cứu về vai trò
và tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức cách mạng cho các thế hệ thanh
niên Công an nhân dân nói chung và thanh niên các trƣờng Công an nhân dân nói
riêng. Vì vậy, tác giả mạnh dạn chọn đề tài “Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về giáo dục
đạo đức cách mạng cho thanh niên và vận dụng ở Trƣờng Cao đẳng An ninh
nhân dân II trong giai đoạn hiện nay” để làm đề tài nghiên cứu của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích

4


Tìm hiểu nội dung tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cách mạng
cho thanh niên, qua đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lƣợng giáo dục đạo đức cách
mạng cho các thế hệ đoàn viên thanh niên tại Trƣờng Cao đẳng An ninh nhân dân II
trong giai đoạn hiện nay.
3.2 Nhiệm vụ
- Hệ thống hóa những nội dung tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về thanh niên, vai trò,
nhiệm vụ của thanh niên trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Phân tích, đánh giá thực trạng của việc giáo dục đạo đức cách mạng cho
đoàn viên thanh niên Trƣờng Cao đẳng An ninh nhân dân II thời gian qua.
- Đề xuất phƣơng hƣớng và giải pháp nâng cao chất lƣợng giáo dục đạo đức
cách mạng cho thanh niên Trƣờng Cao đẳng An ninh nhân dân II trong giai đoạn
hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu hệ thống tƣ tƣởng Hồ Chí Minh đối với công
tác giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên nói chung và vận dụng tƣ tƣởng đó

thanh niên và đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lƣợng giáo dục đạo đức cách
mạng cho đoàn viên thanh niên Trƣờng Cao đẳng An ninh nhân dân II trong giai
đoạn hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể đƣợc dùng làm tài liệu tham khảo, phục vụ giảng dạy tại trƣờng
Cao đẳng An ninh nhân dân II nói riêng và các trƣờng Công an nhân dân nói chung.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc
kết cấu thành 02 chƣơng, 4 tiết.

6


CHƢƠNG 1
TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VÀ NHỮNG NỘI DUNG
CƠ BẢN CỦA TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO THANH NIÊN
1.1 Tiền đề lý luận và thực tiễn hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về
giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên
1.1.1. Cơ sở kinh tế - xã hội hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên
Bối cảnh thời đại trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX xảy ra rất
nhiều biến động. Chủ nghĩa tƣ bản chuyển sang giai đoạn Chủ nghĩa đế quốc.Chúng
tăng cƣờng các cuộc chiến tranh xâm lƣợc và bóc lột thuộc địa.Cũng trong những
năm cuối thế kỷ XIX, trung tâm của cách mạng chuyển từ các nƣớc châu Âu sang
nƣớc Nga. V.I Lênin đã vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác cùng với Đảng
Bôsêvích Nga lãnh đạo cuộc Cách mạng Tháng Mƣời vĩ đại giành thắng lợi năm
1917. Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Mƣời đã làm cho chủ nghĩa cộng sản
từ lý luận trở thành thực tiễn sinh động, không chỉ giải phóng cho giai cấp công
nhân, nông dân và nhân dân lao động, đƣa họ đến địa vị làm chủ xã hội: “Cách
mạng Tháng Mƣời đã dùng bạo lực cách mạng đánh đổ giai cấp tƣ sản và giai cấp

phong kiến với giai cấp nông dân, lúc này còn nổi lên một mâu thuẫn bao trùm đó là
mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp.
Sau khi hoàn tất quá trình xâm lƣợc Việt Nam, ngƣời Pháp đã tổ chức ra một
bộ máy cai trị khá hoàn chỉnh từ trung ƣơng cho đến địa phƣơng. Chúng chia nƣớc
ta ra làm ba kỳ với ba chế độ khác nhau và tiến hành các chính sách cai trị về chính
trị, kinh tế và văn hóa.
Về chính trị, thực dân Pháp áp đặt chính sách cai trị theo kiểu thực dân,
chúng đã tƣớc bỏ hết các quyền đối nội và đối ngoại của chính quyền phong kiến
triều Nguyễn; chia Việt Nam ra làm ba kỳ, mỗi kỳ có một chế độ cai trị riêng. Đồng
thời với chính sách nham hiểm này, thực dân Pháp còn câu kết với giai cấp địa chủ
trong việc bóc lột kinh tế và áp bức chính trị đối với nhân dân Việt Nam. Với chính
sách “chia để trị” và” dùng ngƣời Việt trị ngƣời Việt” thực dân Pháp đã làm cho xã
hội Việt Nam bị chia cắt, lòng dân ly tán, phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc để dễ bề

8


dập tắt các cuộc khởi nghĩa của nhân dân yêu nƣớc, khiến cho xã hội Việt Nam
chúng ta lúc bấy giờ hết sức ngột ngạt về chính trị.
Về kinh tế, thực dân Pháp tiến hành cƣớp đoạt ruộng đất để lập đồn điền, xây
dựng các hầm mỏ xí nghiệp nhằm phục vụ cho các nhu cầu phát triển công nghiệp ở
chính quốc. Lúc này nhân dân An Nam phải sống rất khổ cực dƣới hai tầng áp bức
thực dân và phong kiến, không những bị tƣớc đoạt hết các quyền tự do dân chủ, bị
tƣớc đoạt hết các nguồn tƣ liệu sản xuất cơ bản mà nhân dân ta còn bị thực dân
Pháp bóc lột đến tận xƣơng tủy với với hàng chục loại thuế khác nhau nhƣ là thuế
gạo, thuế ruộng đất, thuế muối, thuế thân... Hồ Chí Minh đã kết luận: “Từ năm 1890
đến năm 1896, thuế trực thu tăng gấp đôi; từ năm 1896 đến năm 1898 lại tăng lên
gấp rƣỡi. Làng nào bị tăng thuế cũng cắn răng mà chịu; hỏi còn biết kêu vào đâu?
Đƣợc thể các ngài Công sứ càng làm già. Nhiều ngƣời Pháp coi việc các làng ngoan
ngoãn đóng thuế nhƣ vậy là một bằng chứng rõ ràng rằng mức thuế không có gì là

bóc lột nhân dân ta. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển đó, giai cấp địa chủ cũng
có sự phân hóa trong nội bộ của mình. Một bộ phận giai cấp địa chủ cam tâm tình
nguyện làm tay sai cho Pháp, làm công cụ bóc lột nhân dân lao động để vơ vét của
cải cho thực dân Pháp; bên cạnh đó cũng có một bộ phận của giai cấp địa chủ có
tinh thần dân tộc, tinh thần yêu nƣớc, căm ghét chế độ thực dân và chính quyền bù
nhìn phong kiến nên đã đứng về phe cách mạng, ủng hộ cách mạng hoặc trực tiếp
nổi dậy làm thủ lĩnh của một số phong trào cách mạng.
Giai cấp nông nhân.
Giai cấp nông dân là lực lƣợng đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam với
hơn 90% dân số. Tuy nhiên, đây cũng là giai cấp phải chịu nhiều cực khổ nhất dƣới
hai tầng áp bức bóc lột của thực dân, phong kiến. Ngoài việc mỗi ngƣời phải gánh
trên vai hàng trăm thứ thuế vô lý của thực dân, phong kiến, họ còn bị tƣớc đoạt hết
ruộng đất cho thực dân mở các đồn điền, họ bị bắt đi phu, đi lính cho Pháp. Một lực
lƣợng lớn ngƣời trong độ tuổi lao động, đặc biệt là thanh niên đã bị thực dân Pháp
bắt phu, bắt lính, họ bị bóc lột và đánh đập một cách thậm tệ. Miêu tả về tình cảnh
này, Hồ Chí Minh đã viết: “Phần lớn những đồn điền này đều đƣợc thực dân lập ra
bằng lối cƣớp giật đƣợc hợp pháp hóa... Hàng bao nhiêu làng đã bị tƣớc đoạt theo
kiểu đó, và dân bản xứ đã rơi vào cảnh phải lao động cho bọn chúa đất đƣơng thời,
bọn này chiếm đoạt có khi lên đến 90% thu hoạch”[27, tr. 91]. Tình cảnh khốn khổ

10


và bần cùng của giai cấp nông dân Việt Nam đã làm tăng thêm lòng căm thù bọn
thực dân đế quốc và phong kiến tay sai, làm tăng thêm ý chí cách mạng của họ
trong cuộc đấu tranh giành lại ruộng đất và quyền sống tự do.
Giai cấp công nhân.
Vào cuối thế kỷ XIX, sau khi cơ bản hoàn thành quá trình xâm lƣợc nƣớc ta,
thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa. Dƣới tác động của các cuộc khaithác
thuộc địa, giai cấp công nhân ở nƣớc ta đã ra đời. Tính đến cuối năm 1929, tổng số

lƣợng của cách mạng, đã đóng góp một phần đáng kể cho cách mạng Việt Nam.
Tầng lớp tiểu tư sản.
Tầng lớp này bao gồm học sinh, sinh viên, trí thức, công chức, viên chức, thợ
thủ công và những ngƣời buôn bán nhỏ. Họ có lòng yêu nƣớc, căm thù đế quốc, thực
dân, lại chịu ảnh hƣởng của những tƣ tƣởng tiến bộ từ bên ngoài truyền vào. Vì vậy,
đây là lực lƣợng có tinh thần cách mạng cao và sẵn sàng đi theo giai cấp lãnh đạo để
làm cách mạng. Đánh giá về tầng lớp tiểu tƣ sản thời kỳ này, đồng chí Lê Duẩn đã
viết: “Giai cấp tiểu tƣ sản ở một nƣớc vốn là thuộc địa nhƣ nƣớc ta rất hăng hái cách
mạng. Đặc biệt là tầng lớp trí thức, học sinh, có tinh thần yêu nƣớc nồng nàn, tha
thiết mong muốn bảo vệ truyền thống văn hóa đẹp đẽ của dân tộc, khôi phục những
giá trị tinh thần cao quý của con ngƣời Việt Nam bị bọn đế quốc phong kiến chà đạp.
Họ tỏ ra thức thời và rất nhạy cảm với thời cuộc. Đƣợc phong trào cách mạng rầm rộ
của công nông thức tỉnh và cổ vũ, họ bƣớc vào hàng ngũ cách mạng ngày càng đông
và đóng một vai trò quan trọng trong phong trào đấu tranh của nhân dân, nhất là ở
thành thị”[11, tr. 27].
Nhƣ vậy, trƣớc sự xâm lƣợc, cai trị và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp,
xã hội Việt Nam đã thay đổi về tính chất từ xã hội phong kiến thành xã hội thực dân
nửa phong kiến. Thực tiễn đó đã đặt ra hai nhiệm vụ cho cách mạng Việt Nam đó
là: Đánh đuổi đế quốc Pháp giành độc lập cho dân tộc, tự do dân chủ cho nhân dân
và đánh đổ giai cấp địa chủ cùng chế độ phong kiến lỗi thời lạc hậu để đem lại
ruộng đất cho dân cày nghèo. Thực hiện hai nhiệm vụ chiến lƣợc đó, hàng loạt các
cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ đã nổ ra, tiêu biểu nhƣ: Phong trào Cần Vƣơng (1885 1896) do vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết lãnh đạo. Khởi nghĩa Yên Thế do
Hoàng Hoa Thám lãnh đạo (1887 - 1913). Phong trào Đông Du của cụ Phan Bội
Châu với chủ trƣơng tìm ra con đƣờng cứu nƣớc mới trong hội Duy Tân với sự cầu

12


viện nƣớc Nhật để đánh đuổi giặc Pháp. Phong trào của cụ Phan Chu Trinh theo
khuynh hƣớng dân chủ tƣ sản, chống Pháp với con đƣờng bất bạo động...Các phong


vọng Nhật giúp ta đuổi Pháp cũng chẳng khác gì “đƣa hổ cửa trƣớc, rƣớc beo cửa
sau”. Cụ Hoàng Hoa Thám thực tế hơn, đã trực tiếp đấu tranh chống Pháp nhƣng còn
nặng cốt cách phong kiến”[47, tr. 10-11]. Đồng thời qua các phong trào này, Hồ Chí
Minh nhận thấy đã có một lực lƣợng rất đông đảo thanh niên chủ yếu là học sinh,
sinh viên tham gia rất tích cực vào phong trào cách mạng. Từ đây, Ngƣời đã nhận
thức đƣợc thanh niên có một vai trò, một nhiệm vụ, một trọng trách rất to lớn đối với
vận mệnh của quốc gia dân tộc.
Nhƣ vậy, chính từ hoàn cảnh nƣớc mất nhà tan, nhân dân phải chịu cảnh nô lệ,
bị áp bức bóc lột của chế độ thực dân phong kiến. xuất phát từ lòng yêu nƣớc nồng
nàn, từ thực tiễn phong trào đấu tranh cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ đang rơi vào
bế tắc không có đƣờng ra. Xuất phát từ sự nhận thức về vai trò, nhiệm vụ của lực
lƣợng thanh niên đối với phong trào cách mạng đã thôi thúc cho Hồ Chí Minh ra đi
tìm đƣờng cứu nƣớc và hình thành nên tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về thanh niên.
1.1.2. Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên
Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh nói chung, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về thanh niên nói
riêng không chỉ đƣợc hình thành và phát triển dựa trên những điều kiện về kinh tế xã hội Việt Nam và thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX mà còn chịu ảnh hƣởng
bởi những tiền đề tƣ tƣởng lý luận xác định.
Truyền thống văn hóa Việt Nam, nổi bật là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần
nhân ái, cố kết cộng đồng dân tộc đã được hun đúc qua hàng ngàn năm, lòng kiên
cường, bất khuất, tự lực, tự cường, thông minh, sáng tạo, chống giặc ngoại xâm,
bảo vệ độc lập dân tộc và bảo tồn nền văn hiến của đất nước, chống mọi âm mưu
đồng hóa của ngoại bang.
Việt nam là một quốc gia đƣợc hình thành từ rất sớm, trải qua mấy nghìn
năm dựng nƣớc và giữ nƣớc, đất nƣớc Việt Nam đã trở thành Tổ quốc thiêng liêng
của mỗi ngƣời dân Việt Nam. Tinh thần yêu nƣớc đã trở thành đạo lý sống, niềm tự
hào và là một nhân tố đứng đầu trong bảng giá trị tinh thần của con ngƣời Việt
Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nƣớc. Đó là
một truyền thống quý báu của ta. Từ xƣa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì


điều kiện nƣớc ta. Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng phải đã có những
điểm chung đó sao? Họ đều muốn “mƣu hạnh phúc cho loài ngƣời, mƣu phúc lợi

15


cho xã hội”. Nếu hôm nay, họ còn sống trên đời này, nếu họ họp lại một chỗ, tôi tin
rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ nhƣ những ngƣời bạn thân thiết.
Tôi cố gắng làm học trò nhỏ của các vị ấy”[3, tr. 61].
Lời nói trên đây chứng minh Hồ Chí Minh đã biết kế thừa có phê phán, chọn
lọc mọi tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu cho tƣ tƣởng của mình. Vậy Hồ Chí
Minh đã đến với các dòng tƣ tƣởng lớn của nhân loại nhƣ thế nào, đã tiếp thu có
chọn lọc và vận dụng sáng tạo ra sao?
Về ảnh hƣởng của tƣ tƣởng phƣơng Đông.
Tƣ tƣởng phƣơng Đông trƣớc hết là Nho giáo. Khi Nho giáo vào nƣớc ta thì
đã bắt gặp chủ nghĩa yêu nƣớc là dòng chủ lƣu cơ bản của tƣ tƣởng Việt Nam do đó
đã hình thành nên một trào lƣu Nho giáo yêu nƣớc, một thứ Nho giáo đã Việt Nam
hóa. Đạo đức Nho giáo thấm vào tƣ tƣởng của Hồ Chí Minh không phải những giáo
điều “tam cƣơng”, “ngũ thƣờng” nhằm bảo vệ tôn ti trật tự phong kiến mà là tinh
thần “nhân nghĩa”, đạo “tu thân”, sự ham học hỏi, đức tính khiêm tốn, ôn hòa, cách
xử thế có tình có lý. Ngoài những yếu tố duy tâm, lạc hậu, Nho giáo cũng có những
yếu tố tích cực, tiến bộ. Nó đề cao những mệnh đề “trung - hiếu”, “nhân - nghĩa”,
“dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”, “khắc kỷ phục lễ”...Trong khi tiếp thu,
sử dụng những yếu tố tích cực của Nho giáo, Hồ Chí Minh đã phê phán, loại bỏ
những yếu tố lạc hậu, tiêu cực của học thuyết này. Ngƣời đã chỉ rõ: “Đạo đức cũ và
đạo đức mới khác nhau nhiều. Đạo đức cũ nhƣ ngƣời đầu đi ngƣợc xuống đất chân
chổng lên trời. Đạo đức mới nhƣ ngƣời hai chân đứng vững dƣới đất, đầu ngửng lên
trời”[32, tr. 220]. Và chính Ngƣời đã đảo lại thế đứng đó, nhƣ Mác - Ăngghen đã
tiếp thu phép biện chứng duy tâm của Hêghen và đặt lại phép biện chứng đó trên cái
nền duy vật.

“quyền sống, quyền tự do, quyền mƣu cầu hạnh phúc” của con ngƣời, quyền của
nhân dân kiểm soát chính phủ... “Hễ chính phủ nào có hại cho dân chúng, thì dân
chúng phải đập đổ chính phủ ấy đi và gây lên chính phủ khác”[27, tr. 291]. Ngƣời
khâm phục ý chí giành độc lập, tự do của nhân dân Mỹ, khâm phục những tƣ tƣởng
vĩ đại của Oasinhtơn, Jepphesơn, Lincôn, nhƣng đồng thời Ngƣời cũng phát hiện
những nghịch lý: Đằng sau những lời lẽ hoa mỹ về tự do, bình đẳng là sự bất bình
đẳng và nghèo đói của hàng triệu ngƣời lao động, là điều kiện sống khủng khiếp của

17


ngƣời da đen, là nạn phân biệt chủng tộc một cách ghê gớm dƣới chân tƣợng nữ
thần Tự do...
Ở Pari, thủ đô nƣớc Pháp - nơi Hồ Chí Minh sống dài ngày nhất trong quãng
thời gian tìm đƣờng cứu nƣớc, đã để lại cho Hồ Chí Minh nhiều ấn tƣợng và bài học
sâu sắc về chủ nghĩa nhân văn, tƣ tƣởng tự do - bình đẳng - bác ái trong tác phẩm của
thời kỳ Phục hƣng, của thế kỷ Ánh sáng, rồi những tƣ tƣởng mới mẻ của cách mạng
tƣ sản Pháp 1789. Đặc biệt, những tƣ tƣởng của bản tuyên ngôn nhân quyền và dân
quyền đã đƣợc Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đi sâu nghiên cứu và phân tích.
Trong khi khẳng định những giá trị chân chính, những nhân tố tích cực, tiến
bộ của cách mạng dân chủ tƣ sản, Hồ Chí Minh cũng đồng thời đánh giá đúng
những hạn chế của nó. Trong tác phẩm “Đƣờng cách mệnh” Ngƣời viết về cách
mạng Mỹ: “Tuy rằng cách mạng thành công đã hơn 150 năm nay, nhƣng công nông
vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai. Ấy là vì cách mệnh Mỹ là
cách mệnh tƣ bản, mà cách mệnh tƣ bản chƣa phải là cách mệnh đến nơi”[27, tr.
291]. Về cách mạng Pháp, Ngƣời cũng đánh giá: “Cách mệnh Pháp cũng nhƣ cách
mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tƣ bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa
và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tƣớc lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc
địa...”[27, tr. 296]. Ngƣời kết luận: “Cách mệnh An Nam nên nhớ những điều
ấy”[27, tr. 296]. Chính vì không thỏa mãn với con đƣờng cách mạng tƣ sản, Ngƣời

Ngƣời đề cập một cách rất giản dị dễ hiểu, gắn nguyên lý với hành động, lý luận với
thực tiễn, gắn những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin với tinh hoa văn
hóa Việt Nam và văn hóa phƣơng Đông. Ngƣời coi việc học tâp chủ nghĩa Mác Lênin, trƣớc hết phải nắm vũng cốt lõi, “linh hồn sống” của nó là phƣơng pháp biện
chứng, “phải học tập tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin; học lập trƣờng, quan điểm
và phƣơng pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng lập trƣờng, quan điểm và
phƣơng pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng
của chúng ta”[36, tr. 95].
Ngƣời nhắc nhở chúng ta phải nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tƣ
tƣởng. Đọc tài liệu thì phải đào sâu, hiểu kỹ, không tin một cách mù quáng từng câu
trong sách... Theo Ngƣời, chủ nghĩa Mác - Lênin là để phụng sự cho cách mạng,

19



Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status