VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐOÀN THỊ VÀNH KHUYÊN
NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CHO CÁN BỘ
CẤP CƠ SỞ Ở HUYỆN CHƢƠNG MỸ HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
HÀ NỘI, 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐOÀN THỊ VÀNH KHUYÊN
NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CHO CÁN BỘ
CẤP CƠ SỞ Ở HUYỆN CHƢƠNG MỸ HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 8310201
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN ĐÌNH HÒA
Khu công nghiệp.
5. NXB:
6. TDTT:
Nhà xuất bản
Thể dục thể thao.
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài ......................................................... 3
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................... 6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 6
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu ................................................... 7
6. Đóng góp mới về khoa học của đề tài ........................................................... 7
7. Kết cấu luận văn ............................................................................................ 7
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG
LỰC LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CHO CÁN BỘ CẤP CƠ SỞ ...................... 9
1.1. Nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý cho cán bộ cấp cơ sở: Khái niệm,
vai trò và tính tất yếu ......................................................................................... 9
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản ......................................................................... 9
1.1.2. Vai trò của việc nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý cho cán bộ cấp cơ
sở ..................................................................................................................... 15
1.1.3. Tính tất yếu của việc nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý cho cán bộ
cấp cơ sở hiện nay ........................................................................................... 19
1.2. Những nội dung cơ bản của việc nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý cho
cán bộ cấp cơ sở .............................................................................................. 22
2.2.3. Có chính sách bồi dưỡng đào tạo chuyên môn nghiệp vụ, chế độ, tiền
lương phù hợp với từng vùng, tạo động lực cho cán bộ quản lý .................... 56
2.2.4. Cần đổi mới lề lối, tác phong làm việc ................................................. 59
2.2.5. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát của cấp trên (tỉnh,
huyện) đồng thời đổi mới công tác đánh giá, phân loại cán bộ lãnh đạo, quản
lý ...................................................................................................................... 63
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2 ............................................................................... 69
KẾT LUẬN .................................................................................................... 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 75
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã thu được
những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Sự nghiệp cách mạng trong giai
đoạn mới đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ thích ứng với yêu cầu và nhiệm vụ
mới, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt; trong đó, cán bộ lãnh
đạo, quản lý cấp cơ sở ở các địa phương có tầm quan trọng đặc biệt, mang tính
chiến lược để vươn tới những thắng lợi mới trong giai đoạn hiện nay.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã nhận thức rõ tầm quan
trọng của công tác cán bộ đối với sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản.
V.I.Lênin khẳng định: “Trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào giành
được quyền thống trị, nếu nó không tạo ra được trong hàng ngũ của mình
những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và
lãnh đạo phong trào” [60, tr.473]. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng đánh
giá rất cao vai trò của công tác cán bộ. Theo Người, “cán bộ là cái gốc của
mọi công việc”, “công việc thành công hay thất bại là do cán bộ tốt hay kém”
[27, tr.10]. Hồ Chí Minh khẳng định: “Việc nước lấy Đoàn thể làm cốt cán.
Việc Đoàn thể lấy cán bộ làm cốt cán. Cán bộ lấy đức làm cốt cán. Đó là đạo
đức làm người, hoàn thiện con người, đạo đức vì thắng lợi của sự nghiệp vĩ
số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn và những
người hoạt động không chuyên trách cấp xã.
Trước yêu cầu ngày càng cao trong lãnh đạo, quản lý, điều hành quá
trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế - xã hội, quản
lý đô thị, xây dựng nông thôn mới… Ở cấp xã hiện nay, đội ngũ cán bộ, công
chức cấp xã tại nhiều địa phương còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém cả về số
lượng và chất lượng. Vì vậy, nâng cao năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ
chủ chốt cấp cơ sở trở thành nhiệm vụ mang tính cấp bách và có tầm quan
trọng đặc biệt.
2
Chương Mỹ là một huyện thuộc Thành phố Hà Nội. Trong những năm
qua, huyện đã có sự phát triển vượt bậc về các mặt của đời sống kinh tế, xã
hội; trong đó, có sự đóng góp quan trọng của đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý
cấp cơ sở. Tuy nhiên. đội ngũ cán bộ cấp cơ sở ở huyện Chương Mỹ hiện nay,
bên cạnh những thành tích đã đạt được, vẫn còn nhiều hạn chế yếu kém, chưa
phát huy được vai trò trong tổ chức và khai thác được những tiềm năng, thế
mạnh của vùng để phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, chưa đẩy mạnh công
tác tuyên truyền, vận động nhân dân phát huy những giá trị tiên tiến của văn
hóa dân tộc và đấu tranh chống những tư tưởng lạc hậu, xây dựng đời sống
văn hóa mới… Công tác cán bộ còn nhiều hạn chế, chưa tập hợp được đại đa
số những cá nhân ưu tú của cộng đồng người dân trong huyện tham gia, thiếu
quy hoạch mang tính chiến lược. Hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Chương
Mỹ hoạt động còn lúng túng, kém hiệu quả.
Thực tiễn cho thấy, việc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt của hệ
thống chính trị cơ sở ở huyện Chương Mỹ đáp ứng được nhiệm vụ trong giai
đoạn mới nổi lên như một đòi hỏi khách quan và có tính cấp thiết.
Với những lý do đó, tác giả lựa chọn vấn đề “Nâng cao năng lực lãnh
Luận văn Thạc sĩ của Phan Văn Hai (1997) về đề tài “Nâng cao năng
lực tổ chức thực tiễn của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở”; trong đó, tác
giả đã phân tích những yêu cầu cấp bách của việc nâng cao năng lực công tác
cho đội ngũ cán bộ cấp cơ sở, từ đó đề xuất những giải pháp để giúp đội ngũ
cán bộ cấp cơ sở có thể nâng cao năng lực chuyên môn cũng như trình độ
chuyên môn nghiệp vụ nhằm đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn công tác tại cơ sở.
Mai Đức Ngọc (2002),“Nâng cao năng lực cán bộ lãnh đạo chủ chốt
cấp xã vùng Đồng bằng Bắc bộ ở nước ta hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ, Học
viện Báo chí và Tuyên truyền. Tác giả đã phân tích sự cần thiết phải nâng cao
năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cấp xã vùng Đồng bằng Bắc
bộ nước ta hiện nay, đồng thời đánh giá thực trạng năng lực lãnh đạo của đội
ngũ này, trên cơ sở đó đề xuất những biện pháp để nâng cao năng lực của đội
ngũ lãnh đạo hiện nay.
4
Nguyễn Minh Châu (2003), “Xây dựng đội ngũ cán bộ trong hệ thống
chính trị cấp xã ở Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn hiện nay”, Luận văn
Thạc sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Tác giả đã phân tích cơ sở lý luận
của việc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã, khái quát thực trạng năng
lực đội ngũ cán bộ cấp xã vùng Đồng bằng sông Cửu Long, từ đó đề xuất các
giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ này.
Trương Tiến Hưng (2004), “Luật tục Chăm và sự vận dụng trong quản
lý nhà nước của chính quyền cấp xã ở Ninh Thuận”, Luận văn Thạc sĩ, Học
viện Báo chí và Tuyên truyền. Trong đó, tác giả đã phân tích, làm rõ những
tiền đề lý luận của việc quản lý nhà nước, khái quát tục Chăm ở đây, qua đó
khái quát vấn đề quản lý nhà nước của chính quyền cấp xã thuộc tỉnh Ninh
Thuận; trên cơ sở đó xuất một số quan điểm áp dụng luật tục Chăm vào quản
lý nhà nước ở cấp xã ở tỉnh Ninh Thuận.
Bùi Khắc Hằng (2004),“Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ với
đạo, quản lý cho cán bộ cấp cơ sở, đồng thời phân tích thực trạng nâng cao
năng lực lãnh đạo, quản lý cho cán bộ cấp cơ sở ở huyện Chương Mỹ, Hà
Nội, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục nâng cao năng lực lãnh
đạo, quản lý cho cán bộ cấp cơ sở trên địa bàn huyện trong giai đoạn hiện
nay.
Nhiệm vụ của luận văn
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý
cho cán bộ cấp cơ sở ở nước ta hiện nay.
- Phân tích thực trạng nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý cho cán bộ
cấp cơ sở ở huyện Chương Mỹ, Hà Nội trong thời gian qua.
- Luận giải một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo,
quản lý cho cán bộ cấp cơ sở ở huyện Chương Mỹ, Hà Nội.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Về đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu vấn đề nâng cao năng lực cho cán bộ lãnh đạo,
quản lý cấp cơ sở ở huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội dưới góc độ chính
trị học.
6
4.2. Về phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề nâng cao năng lực lãnh đạo,
quản lý cho cán bộ cấp cơ sở trên địa bàn huyện Chương Mỹ, gồm Bí thư
Đảng ủy, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND, Phó Chủ tịch HĐND, Chủ
tịch UBND, Phó Chủ tịch UBND, Bí thư Đoàn thanh niên xã và trong khoảng
thời gian từ năm 2010 đến nay.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nâng cao năng
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC
LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CHO CÁN BỘ CẤP CƠ SỞ
1.1. Nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý cho cán bộ cấp cơ sở:
Khái niệm, vai trò và tính tất yếu
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định rằng, “cán bộ là những
người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho quần chúng
hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình hình người dân báo cáo cho Đảng và
Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng ”; “vì vậy cán bộ là cái gốc của
mọi việc” [27, tr.309]. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng của mình,
Người luôn quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ. Người nói: Việc đào
tạo, bồi dưỡng, huấn luyện cán bộ là rất quan trọng, rất cần thiết và “Đảng
phải nuôi dạy cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu,
phải trọng nhân tài,trọng cán bộ, trọng những người có ích cho công việc
chung của chúng ta” [27, tr.32].
Khái niệm cán bộ cấp cơ sở:
Điều 4 Luật Cán bộ công chức năm 2008 quy định về cán bộ như sau:
Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức
vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành
phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng
lương từ ngân sách nhà nước.
Cơ sở là đơn vị ở cấp dưới cùng, nơi trực tiếp thực hiện các hoạt động
như sản xuất, công tác, v.v. của một hệ thống tổ chức, trong quan hệ với các
bộ phận lãnh đạo cấp trên.
9
Theo Từ điển tiếng Việt, “lãnh đạo” là ra chủ trương và tổ chức động
10
viên thực hiện, “quản lý” là tổ chức điều khiển các hoạt động theo các yêu cầu
đã đề ra. Như vậy, khái niệm “năng lực lãnh đạo, quản lý” được hiểu là khả
năng khái quát, đánh giá thực tiễn để đưa ra những chủ trương, đường lối và
hiện thực hóa chủ trương, đường lối đó trong cuộc sống trên cơ sở có sự
thống nhất, tập trung theo nguyên tắc thực tiễn.
Năng lực lãnh đạo, quản lý cũng phản ánh phẩm chất của người cán bộ,
đặc biệt là cán bộ giữ vị trí lãnh đạo. Người có phẩm chất này sẽ tạo ra động
lực cho sự lãnh đạo, từ đó tạo ra bước tiến về kinh tế, văn hóa, xã hội ở cấp cơ
sở. Ngược lại, nếu lãnh đạo không có phẩm chất này thì khó có thể tổ chức
thực hiện, đưa những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào trong
thực tiễn cách mạng Việt Nam ở thời kỳ đổi mới.
Về mặt bản chất, “lãnh đạo” và “quản lý” là những nội dung có quan hệ
mật thiết, tác động lẫn nhau, đan xen nhau. Xét về mặt nội dung, tính chất thì
giữa hai khái niệm này có điểm gần giống nhau nên người ta thường sử dụng
cụm từ chung là “lãnh đạo, quản lý”. Vì thế, hoạt động lãnh đạo cũng đồng
thời thực hiện chức năng quản lý và hoạt động quản lý cũng đồng thời thực
hiện chức năng lãnh đạo. Tuy nhiên, khái niệm lãnh đạo và quản lý không
hoàn toàn đồng nhất với nhau. Trong quá trình lãnh đạo, hoạt động chủ yếu là
định hướng cho khách thể thông qua hệ thống cơ chế, đường lối chủ trương
chính sách làm thức tính hành vi của đối tượng, định hướng hoạt động của đối
tượng và xã hội. Còn hoạt động quản lý mang tính điều khiển, vận hành thông
qua những thiết chế có tính pháp lệnh được quy định từ trước.
Phẩm chất và năng lực không thể tách rời trong một chủ thể lãnh đạo.
Phẩm chất làm nền tảng cho năng lực phát triển; năng lực lại thể hiện phẩm
chất khi nó căn cứ trên các phẩm chất và năng lực, đặc biệt là những phẩm
chất và năng lực biểu hiện thành những kết quả có giá trị và cống hiến lớn của
tìm tòi, khám phá, phát hiện và đề xuất cái mới có ích cho nhân dân, có giá trị
cho xã hội.
Thứ mười, có khả năng quyết đoán, táo bạo, đồng thời lại chắc chắn
trong việc đưa ra những quyết định cũng như trong chỉ đạo hành động.
12
Khái niệm cán bộ lãnh đạo:
Khái niệm cán bộ lãnh đạo được hiểu theo hai thành phần sau:
Thứ nhất, cán bộ lãnh đạo được hiểu là những ai giữ chức vụ và trách
nhiệm cao trong một tổ chức có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của tổ chức,
của bộ máy, có vai trò tham gia định hướng, điều khiển hoạt động của cả bộ
máy. Ví dụ: Các uỷ viên ban chấp hành, ban thường vụ, trưởng, phó các cơ
quan, đơn vị .
Cán bộ lãnh đạo chính là những người đứng đầu, có chức vụ cao nhất
trong một tập thể, có quyền ra quyết định về chủ trương, có trách nhiệm và
quyền điều hành một tập thể, một đơn vị, một tổ chức để thực hiện những
nhiệm vụ của tập thể, tổ chức ấy; thậm chí có thể chi phối, dẫn dắt toàn bộ
hoạt động của tổ chức và của cả hệ thống chính trị.
Cán bộ quản lý là những người điều hành, có chức năng và nhiệm vụ
điều khiển, tổ chức và phối hợp thực hiện hoạt động chuyên môn trong một
khâu, một công đoạn, một chương trình dự án.
Xét cho cùng, hoạt động quản lý là sự tiếp nối của hoạt động lãnh đạo,
là khâu tất yếu để thực hiện sự lãnh đạo. Sự phân biệt này chỉ là tương đối
nhưng rất cần thiết đối với công tác cán bộ, làm cơ sở cho việc xác định tiêu
chuẩn, chức năng của cán bộ lãnh đạo, bộ máy lãnh đạo với tiêu chuẩn, chức
năng của người cán bộ quản lý, bộ máy quản lý; tránh sự trùng lặp, chồng
chéo giữa các cơ quan lãnh đạo và quản lý.
Thứ hai, cán bộ lãnh đạo là những người đứng đầu tổ chức, quốc gia.
Họ là nhóm người lãnh đạo ở tầm vĩ mô. Trong xã hội hiện đại, những người
Cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở là những người đứng đầu, có chức
vụ quan trọng nhất thuộc ban lãnh đạo của các cơ quan Đảng, chính quyền và
các cơ quan chuyên trách ở cấp cơ sở (còn gọi là cán bộ chủ chốt cấp cơ sở).
Theo đó, cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở bao gồm:
- Bí thư, phó bí thư Đảng uỷ cấp xã; Chủ tịch, phó chủ tịch Hội đồng nhân
dân.
14
- Chủ tịch, phó chủ tịch Ủy ban nhân dân.
- Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc.
- Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.
Theo Hiến pháp năm 2013, ở nước ta cơ cấu tổ chức của hệ thống
chính trị chia làm 4 cấp: Cấp cơ sở là cấp cuối cùng trong sự phân cấp hành
chính, là nơi nhân dân cư trú, sinh sống, gắn bó chặt chẽ trong các quan hệ
kinh tế, dòng tộc và văn hóa. Cấp cơ sở là nơi trực tiếp sản xuất vật chất, là
nền tảng vật chất cơ bản của xã hội, là nơi có thể tổ chức, huy động, phát huy
cao độ nội lực của quần chúng nhân dân.
Khái niệm nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý:
Năng lực lãnh đạo, quản lý là tổng hợp những phẩm chất, trình độ,
kinh nghiệm thực tiễn và khả năng đáp ứng yêu cầu hoạt động lãnh đạo của
cán bộ cấp cơ sở. Điều này được thể hiện tiêu biểu nhất ở năng lực lãnh
đạo của cấp uỷ đảng.
Nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý chính là khả năng quán triệt sâu
sắc và vận dụng một cách sáng tạo, linh hoạt đường lối, chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước vào hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của địa phương mình
quản lý để đề ra các chủ trương, phương hướng đúng, có biện pháp tổ chức
thực hiện tốt các nhiệm vụ ở cơ sở mình quản lý; tuyên truyền, vận động, giáo
dục để lôi cuốn quần chúng thực hiện đúng đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đồng thời kiểm tra việc thực hiện quyền
của chủ thể có đủ thẩm quyền và trách nhiệm pháp lý, nhằm bồi dưỡng, phát
triển cán bộ xã đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, có lập trường chính trị
vững vàng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ sở. Đồng
thời còn bao hàm cả việc nâng cao chất lượng cán bộ xã hiện có để thích ứng
với cơ chế mới, yêu cầu mới của nhiệm vụ chính trị đang đặt ra.
Chủ thể xây dựng cán bộ cấp xã bao gồm các Huyện uỷ, Thị uỷ, trong
đó trước hết là Ban Thường vụ Huyện uỷ, Thị uỷ và những người đứng đầu
các tổ chức trong hệ thống chính trị cấp huyện; tổ chức cơ sở đảng xã, mà
16
trực tiếp là Ban Thường vụ Đảng uỷ xã, phường, thị trấn, và người đứng đầu
các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cấp xã.
Công tác xây dựng cán bộ xã nhằm phát hiện, tìm ra những con người
thật sự có bản lĩnh chính trị, có phẩm chất đạo đức và năng lực đủ sức gánh
vác những trọng trách của nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới. Công tác
đó bao gồm: Việc xác định đường lối, chủ trương, chính sách về cán bộ và
công tác cán bộ của Đảng; xác định tiêu chuẩn, cơ cấu cán bộ và đội ngũ cán
bộ, những tiêu chí nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ và thực hiện đồng bộ các
khâu trong công tác cán bộ, như quản lý, đánh giá, tuyển chọn, quy hoạch,
đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng, bảo vệ chính trị nội bộ và
thực hiện chính sách cán bộ.
Thứ ba, nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý cán bộ cơ sở là sự biểu
hiện vai trò lãnh đạo của Đảng và khả năng, sức mạnh của tổ chức đảng ở cấp
cơ sở.
Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được biểu hiện trước hết
ở trình độ giác ngộ cao, bản lĩnh chính trị vững vàng của các tổ chức cơ sở
đảng ở địa phương trước mọi biến động của tình hình chính trị - xã hội. Khả
năng khắc phục những biểu hiện tiêu cực, sai trái, những hạn chế, khuyết
điểm của bản thân tổ chức cơ sở đảng và chính quyền xã. Điều đó được thể
sinh hoạt ở địa bàn, ngoài giờ hành chính. Họ làm nhiệm vụ của mình thông
qua các biện pháp hành chính, đồng thời còn phải trực tiếp làm công tác vận
động quần chúng, tạo nên tinh thần đoàn kết nhất trí trong nhân dân, bảo vệ
những giá trị văn hóa truyền thống, những phong tục tập quán lâu đời của địa
phương mình.
Hoạt động của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở bị chi phối bởi cả
quan hệ gia đình, dòng tộc, phong tục, tập quán của địa phương đến việc
chung của xã hội. Họ đóng nhiều vai trò khác nhau trong giao tiếp, ứng xử để
điều hòa hoạt động. Chẳng hạn, họ đóng vai trò hòa giải trong mối quan hệ
18
giữa các công dân, làm chứng cho các quan hệ có tính chất công dân giữa
nhân dân lao động với nhau và giữa công dân với nhà nước. Họ là người giải
quyết những tranh chấp dân sự lần đầu trên địa bàn, là chỗ dựa tin cậy của
nhân dân cũng như của các cơ quan quản lý khác trong việc xác định tư cách,
xác định thân nhân của các đối tượng khác nhau ở địa phương.
Nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý cho cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp
cơ sở là nền tảng vững chắc đảm bảo cho việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ
của cách mạng, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên xứng đáng là “người
lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” [31, tr.XII]. Năng lực
lãnh đạo, quản lý của cán bộ cấp cơ sở thể hiện khả năng lãnh đạo, dựa trên
yếu tố nội sinh, từ sự phấn đấu của bản thân chính quyền trong công tác để
thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo. Điều này chính là khả năng của cán bộ cấp cơ
sở trong việc thực hiện các khâu, các bước của quy trình lãnh đạo nhằm đạt
được kết quả cao trong thực tiễn. Năng lực đó được phản ánh thông qua việc
ra quyết định, tổ chức thực hiện nghị quyết của cấp trên, kiểm tra, giám sát và
sơ kết, tổng kết việc thực hiện nghị quyết của các tổ chức cơ sở đảng.
1.1.3. Tính tất yếu của việc nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý cho
cán bộ cấp cơ sở hiện nay