THỰC TRẠNG MỨC ĐỘ THÍCH ỨNG VỚI HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
CỦA SINH VIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
The status level of adaptation to the learning activities of Hong Duc University
students of ethnic minorities
Trương Thị Thảo
Trường Đại học Hồng Đức
Tóm tắt:
Sự thích ứng với hoạt động học tập ở đại học có vai trò rất quan trọng đối
với sinh viên dân tộc thiểu số. Việc hình thành khả năng thích ứng với hoạt động
học tập trong thời gian đầu ở giảng đường đại học giúp các em có phương pháp,
cách thức học tập phù hợp, học tập của các em hiệu quả hơn và là điều kiện cho
sự phát triển nhân cách của các em. Việc nghiên cứu mức độ thích ứng với hoạt
động học tập của sinh viên dân tộc thiểu số có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận
và thực tiễn, là cơ sở tâm lý học cho việc tổ chức hoạt động sư phạm, giúp sinh
viên dân tộc thiểu số thích ứng nhanh hơn và nâng cao hiệu quả học tập ở trường
đại học.
Từ khóa: mức độ thích ứng với hoạt động học tập, sinh viên dân tộc thiểu
số, mức độ thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên dân tộc thiểu số
Đặt vấn đề
Sự thích ứng với hoạt động học tập (HĐHT) có vai trò rất quan trọng đối
với sinh viên, giúp các em định hướng, điều khiển, điều chỉnh một cách tự giác,
tích cực thái độ, hành vi của bản thân để đáp ứng được các yêu cầu của việc học.
Đối với sinh viên, đặc biệt là sinh viên dân tộc thiểu số (DTTS), sự thích ứng là
một trong những đặc điểm tâm lý quan trọng liên quan đến kết quả học tập của
các em, thậm chí còn chi phối việc hoàn thiện các thuộc tính tâm lý quan trọng,
cần thiết của sinh viên. Việc hình thành khả năng thích ứng với hoạt động học
tập trong thời gian đầu ở giảng đường đại học giúp các em có phương pháp,
cách thức học tập phù hợp, học tập của các em hiệu quả hơn và là điều kiện cho
sự phát triển nhân cách của các em.
1
Quan trọng/Thích/Thành thạo, 2 điểm: Bình thường/Chưa thành thạo, 1 điểm:
2
Không quan trọng/Không thích/Chưa biết cách; từ đó chúng tôi tính ra điểm trung
bình để xác định MĐTƯ với hoạt động học tập của sinh viên: = 1.0 – 1.66: MĐTƯ
thấp, = 1.67 – 2.33: MĐTƯ trung bình; = 2.34 – 3.0: MĐTƯ cao.
Kết quả nghiên cứu
1. Mức độ thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên DTTS
Bảng 1: Mức độ thích ứng với HĐHT của sinh viên DTTS
TT
1
2
3
4
5
6
Hành động học tập Nhận thức
Phân phối và sắp xếp
2.19
thời gian học tập
Chuẩn bị nghe giảng
2.40
Lĩnh hội thông tin bài
2.42
giảng
Sử dụng giáo trình và
2.17
tài liệu tham khảo
1.5
2.40
2.29
2.37
1.5
2.15
2.19
2.17
4
2.01
2.03
2.02
6
2.39
2.25
2.20
thế nào cho đúng…”.
- Về mặt thái độ: Với điểm TBC là 2.25 cho thấy thái độ của sinh viên
DTTS đối với hoạt động học tập ở mức bình thường. Trong các hành động học
tập thì chuẩn bị và tiến hành xemina là hành động mà sinh viên DTTS có mức
độ thích ứng thấp nhất (ĐTB về mức độ thích ứng là 2.01), hành động tiếp theo
là sử dụng giáo trình và tài liệu tham khảo (ĐTB về mức độ thích ứng là 2.15)
và phân phối và sắp xếp thời gian học tập (ĐTB về mức độ thích ứng là 2.16).
Các hành động lĩnh hội thông tin bài giảng, ôn tập và chuẩn bị nghe giảng là
những hành động mà sinh viên DTTS cho rằng có mức độ thích ứng cao (ĐTB
mức độ thích ứng lần lượt là 2.40, 2.39 và 2.38). Điều này có thể lý giải: Sinh
viên DTTS trường Đại học Hồng Đức còn gặp nhiều khó khăn về nhận thức
như: năng lực học tập còn hạn chế, phương pháp học tập ở đại học khác với phổ
thông, mặc cảm mình yếu kém không thể giỏi được, trong giao tiếp thường có
thái độ thờ ơ, không biết sử dụng phối hợp ngôn ngữ và cử chỉ, biểu cảm thái độ
đúng lúc, đúng chỗ,… Chính những điều này làm cho sinh viên DTTS không
hứng thú, thiệu tự tin trong học tập và chưa chủ động, tích cực sắp xếp thời gian
để học tập tốt.
- Về mặt kỹ năng: Với ĐTB chung là 2.20 cho thấy kỹ năng học tập của
sinh viên DTTS trường Đại học Hồng Đức ở mức chưa thành thạo.Trong các
hành động học tập thì sinhh viên DTTS có mức độ thích ứng thấp nhất là chuẩn
bị và tiến hành xemina (ĐTB mức độ thích ứng là 2.03). Điều này có thể lý giải
như sau: khi chuẩn bị và tiến hành xemina, sinh viên DTTS chưa nhận thức
được đầy đủ, chính xác tác dụng của xemina; chưa đánh giá đúng vai trò và vị trí
của xemina là một khâu không thể thiếu khi tiến hành hoạt động học ở trường
đại học, điều mà ở trường phổ thông các em chưa được học theo hình thức này.
Vì vậy mà dẫn đến việc các em chưa thành thạo khi tiến hành xemina, thậm chí
4
nhiều sinh viên DTTS còn chưa biết cách chuẩn bị cho công việc này. Hành
và giảng viên có những thông tin cần thiết để tổ chức hoạt động sư phạm giúp
sinh viên cải thiện MĐTƯ nhằm học tập đạt kết quả cao.
2. Mức độ thích ứng với HĐHT của sinh viên DTTS trường Đại học
Hồng Đức xét theo các nhóm khách thể
2.1. Xét theo khóa đào tạo
Bảng 2: MĐTƯ với hoạt động học tập của sinh viên DTTS xét theo khóa đào tạo
STT
Khóa đào tạo
Khóa 18 & 36
(năm thứ nhất)
Khóa 17 & 35
2
(năm thứ hai)
Trung bình chung
Nhận xét: Kết quả ở bảng
1
Thái độ
Kỹ năng
TBC
(1≤≤3)
2.21
2.24
với 2.26).
- Về mặt kỹ năng: sinh viên DTTS năm thứ nhất có mức độ thích ứng thấp
hơn sinh viên năm thứ hai về mặt kỹ năng (ĐTB về mức độ thích ứng là 2.11 so
với 2.29).
Qua nghiên cứu trên sinh viên DTTS năm thứ nhất và năm thứ hai chúng
tôi thấy: Sinh viên DTTS năm thứ nhất vừa chuyển từ phổ thông lên đại học nên
còn nhiều bỡ ngỡ, chưa làm quen với môi trường sống và học tập ở đại học. Nội
dung học tập nhiều và khó, nhịp độ học và phương pháp giảng dạy nhanh mà
khả năng học tập của sinh viên năm thứ nhất còn hạn chế, phương pháp học tập
6
của các em chưa phù hợp. Nhưng bù lại thì đa số sinh viên năm thứ nhất có tinh
thần học tập rất hăng say, có ý chí quyết tâm cao và thái độ tích cực trong việc
tiếp thu kiến thức. Đến năm thứ hai, sinh viên DTTS trải qua một năm học nên
đã làm quen với môi trường học tập mới, với cuộc sống tập thể, với nội dung
chương trình và phương pháp giảng dạy ở trường đại học,… Song việc học tập
đối với sinh viên năm thứ hai lại có những yêu cầu mới, cao hơn và khó hơn
năm thứ nhất. Vì vậy, sinh viên DTTS năm thứ hai chưa thích ứng cao với hoạt
động học tập, tuy nhiên nếu so sánh với sinh viên DTTS năm thứ nhất thì
MĐTƯ của sinh viên năm thứ hai vẫn cao hơn.
2.2. Xét theo kết quả học tập
Bảng 3: Mức độ thích ứng với HĐHT của sinh viên DTTS xét theo
kết quả học tập
TBC
(1≤≤3)
Giỏi
2.59
2.57
2.72
Nhận thức
Thái độ
Kỹ năng
kết quả học tập yếu có MĐTƯ với hoạt động học tập thấp nhất (ĐTB về mức độ
thích ứng là 1.79), sau đó đến sinh viên có kết quả học tập trung bình và kết quả
học tập khá (ĐTB về mức độ thích ứng lần lượt là 2.12 và 2.42). Sinh viên
DTTS có kết quả học tập giỏi có MĐTƯ cao nhất đối với hoạt động học tập
(ĐTB về mức độ thích ứng là 2.63). Kết quả này nói lên: sinh viên DTTS trường
Đại học Hồng Đức có kết quả học tập giỏi, khá, trung bình và yếu có MĐTƯ
khác nhau với hoạt động học tập; MĐTƯ của sinh viên DTTS có kết quả học tập
khác nhau có sự chênh lệch đáng kể.
Sinh viên DTTS trường Đại học Hồng Đức có kết quả học tập giỏi, khá,
trung bình và yếu có MĐTƯ khác nhau về cả ba mặt nhận thức – thái độ - kỹ
năng. Cụ thể là:
7
- Về mặt nhận thức: ĐTB mức độ thích ứng về nhận thức của sinh viên
DTTS có kết quả học tập yếu là 1.87; của sinh viên DTTS có kết quả học tập
trung bình là 2.12; của sinh viên DTTS có kết quả học tập khá là 2.51 và của
sinh viên DTTS có kết quả học tập giỏi là 2.59.
- Về mặt thái độ: ĐTB mức độ thích ứng của sinh viên DTTS có kết quả
học tập yếu là 1.86; của sinh viên DTTS có kết quả học tập trung bình là 2.08;
của sinh viên DTTS có kết quả học tập khá là 2.47 và của sinh viên DTTS có kết
quả học tập giỏi là 2.57.
- Về mặt kỹ năng: ĐTB mức độ thích ứng của sinh viên DTTS có kết quả
4.
Phạm Minh Hạc (2002), Tuyển tập tâm lý học, Nxb Giáo dục, Hà Nội
Dương Diệu Hoa (2008), Giáo trình Tâm lý học phát triển, Nxb Đại học sư
5.
phạm, Hà Nội
Đặng Thị Lan (2009), Mức độ thích ứng với hoạt động học một số môn học
chung và môn đọc hiểu tiếng nước ngoài của sinh viên trường Đại học Ngoại
6.
Ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội, Luận án Tiến sĩ, Đại học sư phạm Hà Nội
Brem P.A (1990), Personal adjustment, Califolia University, USA
9