sự thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên khoa công tác xã hội và phát triển cộng - Pdf 24

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong thời kỳ hiện nay, đất nước ta đang ngày càng phát triển trên tất cả
các lĩnh vực của đời sống: kinh tế, văn hoá – xã hội Vì vậy đòi hỏi mỗi cá
nhân phải có rất nhiều những năng lực mới để thích ứng với cuộc sống đang
từng ngày một đổi thay. Đặc biệt đối với sinh viên thì vấn đề này cũng đang đặt
ra một cách bức thiết. Bởi vì đây là nguồn nhân lực chủ yếu để đưa đất nước
phát triển. Mặt khác, tốc độ phát triển thông tin như hiện nay đòi hỏi sinh viên
phải có những kỹ năng và phương pháp học tốt để có thể tự học và tự trau dồi
kiến thức cho mình. Khác với cách học ở phổ thông, học tập ở Đại học đòi hỏi ở
sinh viên phải có kỹ năng, phương pháp học tập mới để có tiếp nhận một lượng
kiến thức lớn. Hoạt động học tập của sinh viên là đi sâu, tìm hiểu những môn
học, những chuyên ngành khoa học cụ thể, hoạt động này mang tính độc lập, tự
chủ và tính sáng tạo cao. Vì thế, vấn đề đặt ra ở đây là bản thân họ phải luôn
luôn tích cực và chủ động để có thể hoà nhập và tự hoàn thiện chính bản thân.
Khi bước chân vào trường Đại học họ luôn luôn phải tiếp nhận và làm
việc với lượng thông tin lớn và cường độ cao vì vậy nếu không kịp thời thích
ứng sẽ dẫn đến chỗ kết quả học tập không đáp ứng được yêu cầu về chất lượng
mà xã hội đặt ra. Thêm nữa, không phải sinh viên nào cũng có điều kiện thuận
lợi như nhau trong quá trình học tập và nghiên cứu. Đối với những sinh viên có
nền tảng tốt từ phổ thông (được tiếp cận với các phương tiện hiện đại, với
những đội ngũ giáo viên có chất lượng cao, ) thì việc thích ứng trở nên dễ
dàng hơn rất nhiều. Còn đối với sinh viên đến từ những vùng nông thôn, vùng
cao, vùng sâu thì đây thực sự là một điều hết sức khó khăn.
Sinh viên Khoa CTXH & PTCĐ của Trường Đại học Đà Lạt cũng nằm
trong thực trạng đó. Phần lớn họ là những người đến từ rất nhiều nơi, đặc biệt
là từ nông thôn và vùng sâu, vùng xa trên cả ba miền (Bắc – Trung – Nam). Họ
là những sinh viên học trong một ngành còn rất mới mẻ, điều này cũng là một
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368

PTCĐ và các khoa: Đông phương học, Lịch sử, Khoa sư phạm, Khoa Ngữ văn,
và một số cán bộ mời giảng dạy của Khoa CTXH & PTCĐ).
5.2.Phạm vi nghiên cứu:
+ Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu sự thích ứng với hoạt động học tập của sinh
viên (chứ không nghiên cứu sự thích ứng học đường trong môi trường đại học)
+ Chỉ nghiên cứu sinh viên của Khoa CTXH & PTCĐ tại Đại học Đà Lạt.
6. Giả thuyết nghiên cứu
Sinh viên khoa CTXH & PTCĐ thuộc Trường Đại học Đà Lạt thích ứng
học tập ở những mức độ khác nhau. Sự TƯHT có tương quan thuận với nội
dung học tập, phương pháp học tập, điều kiện học tập và quan hệ với thầy cô và
bạn bè.
Có sự khác biệt về TƯHT giữa sinh viên năm I, II, III, giữa các kết quả
học tập khác nhau và giữa các địa bàn sinh sống của sinh viên trước khi vào đại
học.
7.Phương pháp nghiên cứu
7.1.Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Tìm đọc, phân tích, tổng hợp các công trình nghiên cứu liên quan đến đề
tài nghiên cứu. Từ đó xác định nội dung của các khái niệm cơ bản, xây dựng cơ
sở lý luận của đề tài nghiên cứu.
7.2.Phương pháp quan sát:
Dự giờ tại một số lớp được nghiên cứu để quan sát việc học tập của sinh
viên ở trên lớp và phương pháp giảng dạy của giáo viên.
Quan sát một số hoạt động học tập ngoài giờ của sinh viên (tại thư viện
khoa, thư viện trường), các cuộc thảo luận nhóm.
Quan sát việc sinh viên gặp gỡ trao đổi với giảng viên trong giờ nghỉ giải lao
về những vấn đề có liên quan đến môn học, bài học hay việc học tập nói chung.
7.3.Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Đề tài sử dụng hai bảng hỏi: một bảng hỏi dành cho sinh viên và một

7.8.Phương pháp thống kê toán học
Phương pháp này được sử dụng để xử lý, phân tích, đánh giá các kết quả
thu thập được bằng các phương pháp nêu trên. Chúng tôi sử dụng chương trình
SPSS 12.0 để xử lí kết quả thu được từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
Cụ thể là để:
- Tính tần suất, phần trăm kết quả thu được
- Tính Giá trị trung bình, Độ lệch chuẩn và Hệ số tương quan Pearson (r)
(nhằm chỉ rõ mức độ có liên hệ hay không liên hệ của 2 hay nhóm đại lượng
nào đó theo kiểu tuyến tính).
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Năm 1968, một số tác giả Liên xô (cũ) N.D. Carsev, L.N.Khadecva,
K.D.Pavlov đã nêu ra các tiêu chuẩn sinh lý của sự thích ứng nghề nghiệp trong
đó họ đã nghiên cứu khá sâu sắc cơ sở sinh lý của sự thích ứng ở học sinh với
chế độ học tập và rèn luyện trong nhà trường. Những phản ứng sinh lý, những
biến đổi của các hệ số tương quan đặc biệt là hệ tuần hoàn và hệ thần kinh được
tác giả quan tâm và đã chỉ ra những biến đổi cụ thể.
Năm 1969, E.A.Ermolaeva, nghiên cứu “Đặc điểm thích ứng xã hội và
nghề nghiệp ở sinh viên đã tốt nghiệp trường sư phạm”. Tác giả đã đưa ra khái
niệm “thích ứng là quá trình thích nghi của người lao động với những đặc điểm
và điều kiện lao động trong tập thể nhất định” và đã đưa ra chỉ số cho sự thích
ứng nghề nghiệp của sinh viên đã tốt nghiệp trường sư phạm.
Năm 1971, X.A.Kughen và O.N. Nhicandov, đã nghiên cứu sự thích ứng
với hoạt động lao động của các kỹ sư trẻ. Các tác giả này đã đưa ra nhiều mức
độ thích ứng khác nhau
Năm 1972, D.A.Andreeva đã phân tích khá sâu sắc khái niệm thích ứng.
Tác giả đã nêu lên sự khác nhau cơ bản giữa thích ứng và thích nghi sinh học,

+ Sự phát triển tay nghề
+ Vị trí xã hội trong tập thể.
+ Sự hài lòng đối với công việc và vị thế của mình trong tập thể.
Năm 1925, Harvey Carr cho rằng học tập là một công cụ quan trọng được
con người sử dụng để thích nghi với môi trường. Ông đã tập trung nghiên cứu
hành vi thích nghi. Theo ông, hành vi thích nghi gồm 3 thành phần: 1/Một động
lực dùng như một kích thích cho hành vi (ví dụ: đói, khát); 2/Một khung cảnh
môi trường hay hoàn cảnh mà sinh vật ở trong đó; 3/Một phản ứng thoả mãn
động lực kia (ví dụ: ăn, uống)
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Do tầm quan trọng của nó, vấn đề thích ứng của sinh viên với hoạt động
học tập đã là đề tài nghiên cứu của nhiều công trình ở nước ngoài cũng như ở
trong nước. Chẳng hạn, năm 1971, V.I.Alaudie và A.L.Meseracov, trên cơ sở
nghiên cứu quá trình hình thành hoạt động học tập của các sinh viên thuộc
Khoa Tâm lý học - Đại học tổng hợp Maxcơva đã đi đến kết luận: Việc thích
ứng của sinh viên đại học với hoạt động học tập thực chất là khả năng tổ chức
quá trình phát triển của người học, tiếp cận được với hệ thống tri thức và kinh
nghiệm lịch sử xã hội. Như vậy, thích ứng ở đây được hiểu là khả năng tự tổ
chức học tập của người học.
Năm 1986, A.V.Petrovxki và các đồng nghiệp nghiên cứu về vấn đề thích
ứng học tập của sinh viên. Ông cho rằng thích ứng học tập của sinh viên là một
quá trình phức tạp, diễn ra ở nhiều mặt như: 1/Thích nghi với hệ thống học tập
mới; 2/Thích nghi với chế độ làm việc và nghỉ ngơi; 3/Thích nghi với các mối
quan hệ mới. Các nội dung này đã được chúng tôi sử dụng và cụ thể hoá trong
nghiên cứu.
Năm 1990, ở Mỹ, B.P. Allen đã tiếp cận vấn đề thích ứng học tập của
sinh viên thông qua hệ thống các tác động hình thành các kỹ năng học tập ở
trường đại học. Theo tác giả này, điều kiện cơ bản của sự thích ứng học tập của
sinh viên là hình thành ở họ các nhóm kỹ năng: 1/Sử dụng quỹ thời gian cá

Đỗ Mạnh Tôn với luận án PTS: “Sự thích ứng của sinh viên đối với học
tập và rèn luyện của học viên các trường Sỹ quan quân đội”
Năm 2000, Phan Quốc Lâm với Luận án Tiến sỹ “Sự thích ứng với hoạt
động học tập của học sinh lớp I”
Năm 2003, Trung tâm nghiên cứu về Phụ nữ đã tiến hành nghiên cứu đề
tài “Nghiên cứu sự thích ứng của sinh viên năm thứ nhất Đại học quốc gia Hà
Nội với môi trường Đại học” do PGS.TS. Trần Thị Minh Đức là Chủ nhiệm đề
tài v.v
Có thể nói rằng hiện nay cũng đã có nhiều đề tài quan tâm nghiên cứu
vấn đề thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên. Tuy nhiên, vấn đề này
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
chưa bao giờ được quan tâm nghiên cứu ở trường Đại học Đà Lạt. Vì vậy,
chúng tôi đã chọn để nghiên cứu với mong muốn góp phần nhỏ bé làm rõ thực
trạng thích ứng của sinh viên với hoạt động học tập trong trường, qua đó tìm ra
các biện pháp nhằm giúp họ thích ứng tốt nhất để nâng cao chất lượng học tập.
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1.Khái niệm thích ứng
1.2.1.1.Một số lý thuyết về sự thích ứng tâm lý
*Thuyết Tâm lý học hành vi và vấn đề thích ứng
Tâm lý học hành vi do J. Watson khởi xướng với luận điểm cơ bản: tâm
lý học đích thực phải lấy hành vi làm đối tượng nghiên cứu chứ không phải là ý
thức. Theo quan điểm của những người theo dòng phái này, về nguyên tắc, các
quy luật và cơ chế thích ứng ở người giống động vật, chỉ có khác là môi trường
sống của con người có thêm một số yếu tố mới như ngôn ngữ và các quy tắc xã
hội. Sự thích ứng người có cơ chế và quy luật phức tạp hơn nhưng không có sự
khác biệt về chất so với động vật. Do đó, khi nghiên cứu sự thích ứng của con
người vẫn phải giữ lại những khái niệm cơ bản của tiến hoá sinh học: thích
nghi với môi trường và sống còn, liên kết và phân hoá các chức năng của
chúng, kinh nghiệm loài và cá thể Sự thích ứng của con người chỉ phức tạp

hành vi, trường phái này lấy nhân cách là đối tượng nghiên cứu, xem nhân cách
là một hiện tượng chỉ có ở người, là một hệ thống mở nhưng trọn vẹn và tự thể
hiện. Đó là năng lực bộc lộ tiềm năng sáng tạo, tin vào bản thân và tương lai.
Động lực thực sự của hành vi thích ứng là nhu cầu hướng thiện, vị tha, vì xã
hội. Thích ứng là những ứng xử tích cực của cá nhân với tư cách là chủ thể với
thế giới xung quanh và với chính mình.
A.Maslow coi thích ứng là sự thể hiện được những cái vốn có của cá
nhân trong những điều kiện sống nhất định. Sự không thích ứng chính là sự
không được tự thể hiện, sẽ tạo ra xung đột và ảnh hưởng tới sự phát triển nhân
cách. Tiền đề để tạo ra sự thích ứng là một hệ thống nhu cầu của nhân cách,
được sắp xếp theo thứ bậc mà cao nhất là nhu cầu tự thể hiện - một nhu cầu
bẩm sinh nhưng có tính chất nhân văn, chỉ xuất hiện khi các nhu cầu bậc thấp
11
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
được thoả mãn [33]. Mặc dù không phủ nhận vai trò của cái vô thức, bản năng
(của phân tâm học) hay quá trình học tập (của chủ nghĩa hành vi), nhưng
Maslow có quan niệm khác về yếu tố quy định sự thích ứng. Theo ông, nhu cầu
“tự thể hiện” mong muốn phát triển hết mức khả năng vốn có của bản thân và
năng lực lựa chọn một cách có ý thức những mục tiêu hành động của nhân cách
là yếu tố quyết định sự thích ứng của con người.
Tâm lý học nhân văn đã coi trọng tính tích cực, trọn vẹn và phẩm chất tự
đánh giá của nhân cách trong quan hệ cá nhân – xã hội. Điều này có ý nghĩa
quan trọng trong việc xây dựng biện pháp tác động đến sự thích ứng tâm lý nói
chung và thích ứng với hoạt động học tập nói riêng. Đó là tư tưởng tiến bộ của
dòng phái này.
*Tâm lý học phát sinh và vấn đề thích ứng.
Đại diện trường phái này là J.Piaget. Trong cuộc sống con người, theo
J.Piaget có hai loại hoạt động gắn liền với nhau: hoạt động tâm lý và hoạt động
sinh học. Trong đó, hoạt động tâm lý có nguồn gốc sinh học. Cá thể chỉ tồn tại
và phát triển trong mối tương tác giữa cơ thể và môi trường từ đó tạo ra sự cân

và chức năng khác nhau đối với đời sống của con người. Theo S.Freud, hành vi
sống của con người có hình thức căn bản và được thúc đẩy bởi bản năng mà
quyết định là bản năng tính dục và bản năng xâm chiếm Tuy nhiên, cái bản
năng này luôn bị cấm đoán bởi cái xã hội (cái siêu tôi). Để tồn tại, con người
phải đạt được sự cân bằng, sự hài hoà giữa hai cái đối lập “cái nó” và cái “siêu
tôi” – đó chính là sự thích ứng. Sự thích ứng là sự thoả mãn hợp lý trong những
điều kiện xã hội nhất định của các bản năng tình dục. Sự phát triển “cái tôi”
nhân cách là kết quả của sự thích ứng qua các giai đoạn khác nhau của đời sống
cá thể. Lý thuyết phân tâm cổ điển của S.Freud xuất phát từ quan điểm sinh vật
luận nên không phát hiện được bản chất xã hội - lịch sử của sự thích ứng ở con
người.
Sau này, một số những người kế tục S.Freud đã xây dựng nên trường phái
phân tâm hiện đại như: C. Jung, E. Fromm và E. Erikson. Các ông cho rằng lý
thuyết S.Freud quá đề cao “cái nó”, cái bản năng trong hành vi con người. Theo
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
họ, “cái tôi” có vai trò quan trọng trong sự thích ứng cá nhân, là chủ thể của
hành vi chứ không chỉ là phương thức thoả mãn “cái nó”. Khác với Freud, các
nhà phân tâm học hiện đại đã coi trọng vai trò của quan hệ xã hội đối với các
hành vi thích ứng của cá nhân. E. Fromm cho rằng: “cần phải xem xét hành vi
thích ứng của cá nhân từ tính chất xã hội của môi trường” và E. Erikson thì
nhấn mạnh thêm “sự thích ứng tâm lý là sự thiết lập các quan hệ xã hội của cá
nhân với những người xung quanh”. [35].
Ứng dụng lý thuyết phân tâm cũ và mới, các nhà tâm thần học theo Freud
chú ý tới giải thích bản chất và cơ chế của sự thích ứng tâm lý. Con người
không phải là một ngoại lệ sinh học. Ngay từ khi mới lọt lòng, đứa bé tự nhận
ra là nó đối lập với các đòi hỏi do xã hội đặt ra, đồng thời cũng là sản phẩm của
những đòi hỏi đó. Sự lớn lên của đứa trẻ một mặt vừa là quá trình thích nghi về
mặt sinh học và thích ứng về mặt tâm lý. Ví dụ điển hình được đưa ra là một
đứa trẻ đói thoả mãn cơn đói bằng phương thức bú sữa mẹ. Sau đó người lớn

phân tâm học chứa đựng những điểm hợp lý cần được chú ý về mặt lý luận và
thực tiễn của vấn đề. Đó là vai trò của vô thức, bản năng xung đột tâm lý trong
quá trình thích ứng, hậu quả của việc thích ứng và cách thức giải toả hậu quả
này.
*Tâm lý học Mác xít và vấn đề thích ứng.
Cùng với việc phê phán cách tiếp cận sai lầm trên, tâm lý học Macxít giải
quyết vấn đề theo một hướng hoàn toàn khác. Một mặt, thừa nhận con người
phải thích nghi với môi trường sống như là một sinh vật “vì con người là một
tồn tại tự nhiên, nên đương nhiên nó không thể đứng ngoài sự tác động của
môi trường”. Mặt khác, khẳng định con người là một thực thể xã hội nên “phải
đặt vấn đề” một cách khác: khi nói về con người, tức là vấn đề quan hệ “người
xã hội” trở thành vấn đề chủ yếu, thì cái gì là nội dung mới của vấn đề “cơ thể
- môi trường”
L.X. Vygotxki đã chỉ rõ “Quá trình một đứa trẻ bình thường ăn nhập nền
văn minh thường quyện thống nhất với các quá trình cơ thể chín muồi. Hai bình
15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
diện phát triển - tự nhiên và văn hoá - nhập vào nhau, tạo nên một sự hình
thành thống nhất xã hội – sinh vật của nhân cách trẻ” [6; tr.131]. Từ quan niệm
về sự thống nhất biện chứng của hai mặt tự nhiên và văn hoá trong sự phát triển
của trẻ em, L.X.Vygotxki đã đưa ra một tư tưởng mới về bản chất của sự thích
nghi của con người. Ông khẳng định: “Con người có một hình thức thích nghi
mới và đây là cơ chế cân bằng chủ yếu của cơ thể với môi trường, dạng thức
hành vi này nảy sinh trên cơ sở các tiền đề sinh vật nhất định, nhưng đã vượt ra
ngoài phạm trù sinh vật, tạo nên một hệ thống hành vi có chất lượng khác và
theo một tổ chức mới”. L.X.Vygotxki gọi dạng thức hành vi chuyên biệt người
này là “hành vi cấp cao” [6; tr.130]. Hệ thống hành vi cấp cao này khác biệt về
chất lượng so với hành vi sinh vật. Trước hết là ở các kích thích tạo ra chúng.
Con người, khác với các động vật khác, tự tạo ra các kích thích tác động vào
bản thân mình. Hơn thế nữa, con người còn dùng các kích thích tự tạo này để

động vật. Theo đó, sự thích ứng của trẻ em trong môi trường xã hội một quá
trình kép. Một mặt trẻ hình thành các dạng thức cấp cao của hành vi, mặt khác,
hình thành các chức năng tâm lý cấp cao để trở thành chủ thể của các hành vi
đó. Cả hai mặt của quá trình này đều được thực hiện bằng cơ chế lĩnh hội nền
văn hoá – xã hội. Những tư tưởng đúng đắn, biện chứng của Vygôtxki đã được
các nhà tâm lý học Xôviết kế thừa, phát triển và cụ thể hoá. Quan điểm của ông
cũng là kim chỉ nam cho việc giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn của
luận văn này.
Xuất phát từ những luận điểm cơ bản của tâm lý học Macxit được khởi
xưởng bởi Vygôtxki, A. N.Leonchiep đã phân tích sự khác biệt cơ bản giữa
phát triển của con người với sự thích nghi của cá thể sinh học về nội dung và
cơ chế. Ông viết “Phải nhấn mạnh riêng về sự khác biệt giữa quá trình ấy (tiếp
thu, lĩnh hội ) với quá trình cá thể thích nghi với môi trường tự nhiên, vì gần
như mọi người chấp nhận rằng, có thể đem khái niệm thích nghi, cân bằng với
môi trường dùng nguyên vẹn vào cho sự phát triển cá thể người. Nhưng dùng
khái niệm ấy vào cho người mà không có sự phân tích cần thiết, thì chỉ làm lu
mờ sự phát triển thực sự của người” [8; tr.94]. A.N. Leonchiev chỉ rõ “Sự khác
17
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
biệt cơ bản giữa các quá trình thích nghi theo đúng nghĩa của nó và các quá
trình lĩnh hội, tiếp thu là ở chỗ quá trình thích nghi sinh vật là quá trình thay
đổi các thuộc tính của loài và năng lực của cơ thể và hành vi của cơ thể. Quá
trình lĩnh hội hay tiếp thu thì khác. Đó là quá trình mang lại kết quả: cá thể tái
tạo lại được những năng lực và chức năng người đã hình thành trong quá trình
lịch sử” [8; tr.95]. Và, “những năng lực và chức năng hình thành ở con người
trong quá trình ấy là các cấu tạo tâm lý mới. Đối với những cấu tạo này, các cơ
chế và quá trình bẩm sinh, di truyền chỉ là điều kiện cần thiết bên trong (tiền
đề) giúp cho các cấu tạo tâm lý mới có thể xuất hiện” [8; tr.96]. Ông thừa nhận:
“sự phát triển của con người cũng mang tính chất môi trường (tức là phụ thuộc
vào những điều kiện bên ngoài), nhưng khác với tiến hoá động vật, sự phát

bản chất khác.
Sau này một số các nhà Tâm lý học mác xít cũng tiếp tục nghiên cứu vấn
đề này, tiêu biểu như: E.A. Ermolaeva, A.I.Serbacov, A.V.Mudric,
D.A.Andreeva, E.A.Golomstooc,
E.A. Ermolaeva đã định nghĩa và đưa ra những chỉ số đặc trưng cho sự
thích ứng nghề nghiệp gồm: 1/Những chỉ số khách quan: chất lượng lao động,
trình độ nghề nghiệp, mức độ kỷ luật, địa vị xã hội; 2/Những chỉ số chủ quan:
mức độ hài lòng về công việc, điều kiện trong công việc. Bà còn chỉ ra được
thời điểm mà sự thích ứng xuất hiện, đó là: “Khi làm quen với điều kiện mới đó
kéo theo những sự tiêu tốn sức lực nhất định”. Mặc dù chỉ nghiên cứu lĩnh vực
thích ứng lao động, nhưng ý kiến của E.A. Ermolaeva góp phần làm sáng tỏ
thêm lý luận về sự thích ứng, nhất là vấn đề chỉ số của sự thích ứng. [12; tr.47]
D.A.Andreeva phân biệt rõ các khái niệm thích ứng và thích nghi sinh
học. Bà nhấn mạnh hai khái niệm này gần nghĩa nhưng cần chú ý phân biệt
chúng. Nếu đem khái niệm thích ứng với ý nghĩa thích nghi sinh học vào giải
thích các hiện tượng xã hội thì dĩ nhiên sẽ sai lầm vì thích nghi sinh học chỉ sự
đồng hoá của cơ thể đối với những tác động từ bên ngoài và là sự xây dựng lại
trạng thái của cơ thể do những tác động đó để tồn tại trong điều kiện môi
trường thay đổi, còn thích ứng tâm lý ở người có ý nghĩa khác biệt về chất. Cần
19
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
hiểu “thích ứng” là sự thích nghi đặc biệt của cá nhân với điều kiện sống mới,
là sự thâm nhập của nó vào điều kiện đó một cách không gượng ép. Bà chỉ rõ:
“Sự thích ứng của con người phải làm sao góp phần cho con người thoát khỏi
sự phụ thuộc có tính chất nô lệ, trực tiếp vào trạng thái cơ thể mình và khỏi
vòng tù hãm trực tiếp của cơ thể” [13; tr.47]. D.A.Andreeva cho rằng: “Có thể
xem thích ứng là một quá trình xây dựng chế độ hoạt động tối ưu và có mục
đích của nhân cách” [12; tr.47]. Như vậy ta thấy, bà đã phân biệt rõ thích ứng
tâm lý người với thích nghi sinh học, đưa khái niệm thích ứng thoát khỏi lập
trường thích nghi sinh học, xem xét nó dưới góc độ hoạt động và đặt nó hoàn

với môi trường có liên hệ với yếu tố di truyền, kiểu khí chất bẩm sinh của
người đó.
Sự phát triển của cá nhân: Theo Tremblay, sự phát triển của một cá nhân
được định nghĩa là “Tập hợp những quyết định được đưa ra bởi một người”.
Các quyết định hạnh phúc hay bất hạnh được nhóm lại và hướng một người về
sự thích ứng hay không thích ứng”.
Sự tự do cá nhân: Theo Tremblay, sự tự do – đó là “làm chủ một số
những ứng xử của mình, bất chấp những quyết định luận và những nguồn lực
bẩm sinh, di truyền, bất chấp những yếu tố gây ra cản trở và những bó buộc của
môi trường”. Tự do được giả thiết là một khả năng lựa chọn, nó được thực hiện
trong một “bối cảnh thực tế của hành động, của quyết định”. Phần tự do của
một cá nhân trong một hoàn cảnh cụ thể phản ánh “những khả năng của hành
động một giới hạn thực tiễn và một giới hạn lý tưởng, tuyệt đối”.
Các yếu tố cấu thành gắn với môi trường
Các điều kiện tự nhiên: Là môi trường mà trong đó cá nhân phát triển.
Đó là thế giới của những quy luật tự nhiên của sinh học, hoá học và những tiến
bộ công nghệ riêng của loài người. Những khác biệt không chỉ giữa các vùng
21
Sự phát
triển của cá
nhân
Sự tự do
của cá
nhân
Những
điều kiện
xã hội
Những điều kiện
xã hội vĩ mô
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
với hoàn cảnh mới, môi trường mới”, còn “thích ứng” là “những thay đổi cho
phù hợp với các điều kiện mới, yêu cầu mới. Hoặc trong Đại từ điển Tiếng Việt
(Nguyễn Như Ý chủ biên) thì khái niệm “thích nghi là quen dần, phù hợp với
điều kiện mới nhờ sự biến đổi, điều chỉnh nhất định”, “còn thích ứng là phù
hợp với điều kiện mới nhờ những thay đổi, điều chỉnh nhất định” [31]
Trong từ điển Tâm lý học của Viện Tâm lý học do Vũ Dũng chủ biên,
thích nghi xã hội là: 1/quá trình thích nghi tích cực của cá nhân với những điều
kiện của môi trường xã hội mới; 2/kết quả của quá trình trên [2]. Như vậy, theo
chúng tôi khái niệm thích nghi xã hội và khái niệm thích ứng có thể được hiểu
như nhau.
Trong Từ điển tâm lý (do Nguyễn Khắc Viện chủ biên), thích ứng và
thích nghi được dùng chung một mục, đó là: “bước đầu là điều chỉnh những
phản ứng sinh lý (thích nghi với nhiệt độ cao hay thấp, môi trường khô hay
ẩm), sau là thay đổi cách ứng xử, đây là thích nghi tâm lý” [29]
“Thích nghi xã hội là khả năng một cá nhân tiếp nhận các giá trị của một
xã hội, hoà nhập được vào xã hội ấy. Không thích nghi biểu hiện qua những
hành vì “gàn dở”, trái với tập tục, sống ngoài “rìa”, có thể dẫn đến hành động
phạm pháp” [29]
Theo PGS.TS. Trần Thị Minh Đức, “Thích ứng là một quá trình hoà nhập
tích cực với hoàn cảnh có vấn đề, qua đó cá nhân đạt được sự trưởng thành về
mặt tâm lý” [4]
Hoà nhập tích cực: là sự chủ động thay đổi bản thân và cải tạo hoàn cảnh
trong sự hài hoà nhất định. Cá nhân phát hiện vấn đề, phân tích vấn đề, liên hệ
kinh nghiệm bản thân và tìm cách thay đổi bản thân, cải tạo hoàn cảnh cho phù
hợp với bản thân.
Hoàn cảnh có vấn đề: Tình huống, sự kiện xuất hiện không nằm trong
kinh nghiệm của cá nhân có ảnh hưởng đến cuộc sống của cá nhân, buộc cá
nhân phải huy động tiềm năng của bản thân để giải quyết chúng.
23

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Trong điều kiện môi trường thay đổi nhanh chóng, tính biến động cao do
di chuyển, thay đổi thời tiết, khí hậu, thức ăn, ở động vật bậc cao kể cả con
người đã hình thành một trình độ thích nghi mới cả về nội dung và hình thức,
mà biểu hiện là tính cảm ứng. Ở trình độ này, cơ thể động vật không chỉ thụ
động đáp ứng kích thích của môi trường mà còn có những phản ứng đáp lại
những kích thích đó. Trong cơ thể động vật bậc cao, hình thành một tổ chức
mới cho phép nó đáp ứng được những biến đổi loại này – đó là hệ thần kinh.
Hệ thần kinh phát triển cho phép cơ thể sinh vật có khả năng đáp ứng với
những kích thích gián tiếp, hoặc đón trước, hoặc tái tạo gần kề. Một hình thức
thích ứng cao hơn xuất hiện – thích ứng tâm lý.
Đặc trưng thích ứng tâm lý là cơ thể động vật thích ứng không chỉ với
những tác động trực tiếp mà còn với những kích thích gián tiếp có tính tín hiệu
của môi trường. Thích ứng có chung ở người, động vật và nó phát triển cùng với
sự phát triển của hệ thần kinh. Lúc đầu, nó chỉ là sự phụ thêm, động vật càng
phát triển nó càng có vai trò cơ bản, quyết định sự cân bằng giữa cơ thể và môi
trường. “Ở những động vật khác, hệ thần kinh chỉ là phụ thêm, còn ở đây nó là
nền tảng của toàn bộ tổ chức cơ thể có thể quản lý được toàn bộ cơ thể” [12].
Khi nghiên cứu hiện tượng Thích ứng tâm lý con người, người ta đã phát
hiện được một trình độ cao nhất của nó: sự thích ứng tâm lý ở người. Hình thức
mới này có sự phát triển cả về chất trong sự phát triển tâm lý nói chung - cả về
cơ chế tâm – sinh lý (hệ thống tín hiệu thứ 2) cả về mặt cơ chế xã hội. Xuất
phát từ quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử chúng ta phân tích một
cách khoa học nội dung và cơ chế của sự thích ứng của con người.
Với lao động, con người đã tạo ra một loại môi trường mới – môi trường
xã hội với hai đặc trưng hoạt động và giao tiếp. Để tồn tại và phát triển, con
người phải thích ứng với những yêu cầu của môi trường này - phải tham gia
được các hoạt động và quan hệ. Chủ nghĩa Mác cũng chỉ ra nội dung của sự
thích ứng mới này là bằng hoạt động tích cực, con người lĩnh hội nền văn hoá
(nội dung phương thức hoạt động và quan hệ) để hình thành những ứng xử mới,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status