ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------
NGUYỄN VĂN TRÌNH
SỰ THÍCH ỨNG VỚI HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ CỦA SINH VIÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC HÀ HOA TIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH TÂM LÝ HỌC
NĂM 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_____________
______________
NGUYỄN VĂN TRÌNH
SỰ THÍCH ỨNG VỚI HOẠT ĐỘNG HỌC
TẬP ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ CỦA SINH
VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC HÀ HOA TIÊN
CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC
Mã số: 60 31 04 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH TÂM LÝ HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Phạm Mạnh Hà
1.1.
Sơ lược lịch sử nghiên cứu về thích ứng
12
12
1.1.1. Một số nghiên cứu về thích ứng ở nước ngoài
12
1.1.2. Một số nghiên cứu về thích ứng ở trong nước
15
1.2.
Một số khái niệm cơ bản
19
1.2.1. Khái niệm thích ứng
19
1.2.2. Khái niệm hoạt động học tập
23
1.2.3. Khái niệm đào tạo
49
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thích ứng với hoạt động học tập đào tạo
theo tín chỉ của sinh viên Đại học Hà Hoa Tiên
50
1.4.1. Yếu tố chủ quan
50
1.4.2. Yếu tố khách quan
52
Chƣơng 2: TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1
56
2.1. Đôi nét về khách thể nghiên cứu
56
2.1.1. Đôi nét về trường Đại học Hà Hoa Tiên
56
64
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
66
3.1. Thích ứng của sinh viên Đại học Hà Hoa Tiên với hoạt động học tập
đào tạo theo tín chỉ.
66
3.1.1. Thích ứng biểu hiện ở mặt nhận thức của sinh viên trường Đại học Hà
Hoa Tiên với hoạt động học tập đào tạo theo tín chỉ
66
3.1.2. Thích ứng biểu hiện về mặt thái độ của sinh viên trường Đại học Hà
Hoa Tiên với hoạt động học tập đào tạo theo tín chỉ
78
3.1.3. Thích ứng biểu hiện về mặt hành vi của sinh viên trường Đại học Hà
Hoa Tiên với hoạt động học tập đào tạo theo tín chỉ
85
3.1.4. Tổng hợp mức độ thích ứng trong hoạt động học tập đào tạo theo tín
chỉ của sinh viên trường Đại học Hà Hoa Tiên.
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của cá nhân
tôi dưới sự hướng dẫn của TS. Phạm Mạnh Hà. Các số liệu và kết quả
nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp
với các đề tài khác.
Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 2015
Tác giả
NGUYỄN VĂN TRÌNH
3
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQGHN, Ban Chủ nhiệm Khoa Tâm
lý học cùng toàn thể các thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy và tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành
luận văn.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Phạm Mạnh Hà,
người đã tận tình hướng dẫn, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu và hoàn thiện đề tài.
Bên cạnh đó, tôi cũng xin gửi lời biết ơn đến Ban Giám hiệu,
Phòng Quản lý Đào tạo, Phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng giáo
dục, các khoa/bộ môn, các giảng viên và sinh viên trường Đại học Hà
Hoa Tiên đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người
thân, bạn bè và đồng nghiệp, những người luôn động viên, khuyến
khích và giúp đỡ tôi về mọi mặt, để tôi có thể hoàn thành luận văn của
Học sinh phổ thông/Trung học phổ thông
ĐBCL&KT
Đảm bảo chất lượng và khảo thí
CĐ
Cao đẳng
TC
Tín chỉ
ĐTB
Điểm trung bình
TBC
Trung bình cộng
5
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của việc lên kế
hoạch học tập đào tạo theo tín chỉ
Biểu đồ 3.2: Mức độ thích ứng biểu hiện ở mặt nhận thức
79
Bảng 3.6: Thái độ của sinh viên đối với việc lập kế hoạch học tập
81
Bảng 3.7: Thái độ của sinh viên trong việc chủ động tham gia vào các buổi
thảo luận nhóm/Seminar
83
Bảng 3.8: Hành vi của sinh viên đối với các hoạt động học tập đào tạo theo
tín chỉ
86
Bảng 3.9: Hành vi thực hiện hoạt động học tập ngoài giờ lên lớp
89
Bảng 3.10: Hành vi của sinh viên tham gia vào việc học tập thảo luận
nhóm/Seminar
91
Bảng 3.11: Hành vi của sinh viên về các việc làm khi lên lớp học
93
tập
110
7
MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài
Giáo dục đào tạo theo tín chỉ đã được áp dụng vào việc đào tạo ở bậc đại học
từ lâu trên thế giới, ở các đại học danh tiếng của các nước phương Tây. Năm 2007 ở
Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành “Quy chế Đào tạo đại học và cao
đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ”, và năm 2011 là hạn cuối cùng để các
trường trên cả nước phải chuyển đổi sang hệ thống đào tạo mới này, cho đến nay
hầu như các trường đại học và cao đẳng đã áp dụng đào tạo theo hệ thống tín chỉ
trong quy mô đào tạo hệ chính quy của mỗi trường và Đại học Hà Hoa Tiên đã áp
dụng đào tạo tín chỉ cho sinh viên của mình.
Đào tạo theo học chế tín chỉ là mô hình đào tạo mới đối với giáo dục đại học
Việt Nam, đòi hỏi cả người dạy và người học, đặc biệt là sinh viên phải nâng cao
tính tích cực, có thái độ ý thức trách nhiệm của bản thân, chủ động, sáng tạo nắm
lấy những phương pháp, kỹ năng, công cụ cần thiết để tự chiếm lĩnh tri thức dưới sự
tổ chức, định hướng của người thầy. Điều này khác xa so với cách học theo ở
trường phổ thông hay theo chương trình đào tạo niên chế. Song, trong quá trình
thực hiện, nhiều sinh viên gặp không ít khó khăn trong việc tìm ra cách thức phù
hợp để đáp ứng với yêu cầu học tập cao của chương trình đào tạo theo mô hình tín
chỉ với nhiều đổi mới trong phương pháp giảng dạy và học tập. Đây cũng là một
trong những lý do khiến kết quả học tập của nhiều sinh viên còn thấp.
Đối tƣợng nghiên cứu
Mức độ thích ứng với hoạt động đào tạo theo tín chỉ của sinh viên Trường
Đại học Hà Hoa Tiên.
4.
Giả thuyết nghiên cứu
Mức độ thích ứng với hoạt động đào tạo theo tín của sinh viên trường Đại
học Hà Hoa Tiên ở mức trung bình và có mức độ thích ứng khác nhau giữa các năm
học. Sinh viên năm thứ nhất thích ứng chậm hơn so với sinh viên năm thứ hai và
các năm về sau. Có cả yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến vấn đề thích
ứng với hoạt động học tập học tập đào tạo theo tín chỉ của sinh viên, tuy nhiên yếu
tố chủ quan là yếu tố tác động mạnh mẽ hơn.
5.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu. Cụ thể xây dựng các khái niệm
công cụ của đề tài: Thích ứng, hoạt động học tập, sinh viên, quy chế đào tạo theo tín
chỉ, niên chế, sự thích ứng với hoạt động học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên.
9
Nghiên cứu chỉ ra thực trạng mức độ sự thích ứng với hoạt động học tập đào
tạo theo tín chỉ của sinh viên trường Đại học Hà Hoa Tiên.
Phân tích một số tác động chủ yếu và những nguyên nhân ảnh hưởng đến sự
thích ứng với hoạt động học tập khi đào tạo theo tín chỉ.
10
thập những thông tin phong phú thêm nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu. Chúng
tôi mô tả cụ thể trong chương 2.
7.4. Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn khoảng 10 sinh viên học tập tại các lớp mà đề tài nghiên cứu để
thu thập những thông tin cần thiết nhằm làm rõ hơn các nội dung nghiên cứu trong
đề tài.
7.5. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng kết quả học tập của sinh viên từng
lớp như là sản phẩm của hoạt động học tập và so sánh kết quả này với mức độ thích
ứng trong hoạt động học tập theo mô hình đào tạo tín chỉ của sinh viên.
7.6. Phương pháp thống kê toán học:
Xử lý các kết quả nghiên cứu bằng phần mềm SPSS
11
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1.
Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu về thích ứng
1.1.1. Một số nghiên cứu về thích ứng ở nước ngoài
Các tác giả nước ngoài có rất nhiều nghiên cứu về thích ứng cụ thể như sau:
Năm 1925, Harvey Carr cho rằng học tập là một công cụ quan trọng được
con người sử dụng để thích nghi với môi trường. Ông đã tập trung nghiên cứu hành
hiểu là khả năng tự tổ chức học tập của người học.
Năm 1972, D.A.Andreeva đã phân tích khá sâu sắc khái niệm thích ứng. Tác
giả đã nêu lên sự khác nhau cơ bản giữa thích ứng và thích nghi sinh học, đặc biệt
bà đã sử dụng nguyên tắc hoạt động theo quan điểm tâm lý học hiện đại để nghiên
cứu vấn đề thích ứng. Theo bà, thích ứng là sự thích nghi đặc biệt của cá nhân với
điều kiện, hoàn cảnh mới, là sự thâm nhập vào những điều kiện mới một cách
không gượng ép. Từ đó tác giả đưa ra định nghĩa về thích ứng: “là một quá trình tạo
ra một chế độ hoạt động tối ưu có mục đích của nhân cách, tức là con người vừa
thích nghi với điều kiện mới, vừa phải chủ động thâm nhập vào những điều kiện đó
để xây dựng một chế độ hoạt động mới, phù hợp và đáp ứng những yêu cầu của
điều kiện mới”.
Ngoài ra, trong cuốn “Con người và xã hội”, Andreeva đã so sánh khái niệm
“thích ứng và xã hội hóa”. Bà cho rằng, hai khái niệm này có sự khác biệt nhau về
nội dung: thích ứng phản ánh quá trình thích nghi đặc biệt của con người. Thích ứng
nhấn mạnh vai trò tích cực của chủ thể với môi trường mới. Còn “xã hội hóa”, về cơ
bản phản ánh sự tác động của xã hội tới cá nhân.
Từ đây, vấn đề thích ứng luôn được gắn liền với hoạt động có đối tượng cụ
thể. Hai quá trình này diễn ra đồng thời trong đó thích ứng là tiền đề để cho hoạt
động có hiệu quả của nhân cách với vai trò xã hội này hay khác.
A.I.Serbacov và A.B.Mudric đã nghiên cứu “sự thích ứng nghề nghiệp của
người thầy giáo” và đã nêu lên quan niệm chung về sự thích ứng của người thầy
giáo. Những yếu tố chủ quan và khách quan có ảnh hưởng đến hiệu quả của sự thích
ứng đó.
13
Năm 1980, trong tạp chí “Những vấn đề tâm lý học” số 4, A.A.Krintreva đã
trình bày những nghiên cứu của mình về những đặc điểm tâm lý của sự thích ứng đối
với sản xuất ở những học sinh mới ra trường, ở các trường trung cấp, kỹ thuật chuyên
những đòi hỏi, mong đợi từ môi trường bên ngoài. Theo ông, khi xem xét sự thích
nghi ở con người cần xem xét sự thích nghi bên ngoài và thích nghi bên trong của
bản thân. Ông cũng đã chỉ ra hai nhóm yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thích nghi ở
mỗi cá nhân: 1. Nhóm thứ nhất bao gồm các yếu tố thuộc về cá nhân như đặc điểm
di truyền, lịch sử phát triển của cá nhân, việc cá nhân được tự do lựa chọn hay
không khi thực hiện hành vi, cách ứng xử của mình; 2. Nhóm thứ hai là những yếu
tố của môi trường sống của cá nhân như điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội.
Và còn rất nhiều công trình nghiên cứu về thích ứng khác nữa, nhưng nhìn
chung, các tác giả nước ngoài đã có những công trình nghiên cứu về thích ứng để
xây dựng và khái quát những nét cơ bản nhất về sự thích ứng ở con người. Mỗi nhà
khoa học có những cách nhìn riêng về thích ứng, đó là những đóng góp khoa học rất
cần thiết cho các nhà khoa học sau này.
1.1.2.
Một số nghiên cứu về thích ứng ở trong nước
Ở nước ta bước đầu đã có một số nghiên cứu về những vấn đề thích ứng học
tập của sinh viên đại học của Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc, Hà Nhật Thăng;
Nguyễn Ngọc Phú… Cụ thể, chúng tôi xin liệt kê một số đề tài nghiên cứu về sự
thích ứng của các tác giả trong nước như sau:
Năm 1981, tác giả Bùi Ngọc Dung trong đề tài luận văn thạc sỹ mang tên
“Bước đầu tìm hiểu sự thích ứng nghề nghiệp của giáo viên tâm lý giáo dục”. Tác
giả đã đưa ra một số tiêu chí để đánh giá khả năng thích ứng nghề nghiệp của giáo
viên tâm lý – giáo dục.
Năm 1982, Nguyễn Thị Trang, trường Đại học Sư phạm Hà Nội với đề tài
“Bước đầu tìm hiểu sự thích ứng học tập của sinh viên khoa Tâm lý học giáo dục”
Năm 1983, Hoàng Trần Doãn với luận văn Thạc sỹ: “Sự thích ứng với hoạt
động học tập của sinh viên khoa văn và toán trường Đại học Sư phạm Hà Nội I”. Tác
giả đã đưa ra kết luận rằng: Thích ứng học tập là một quá trình thích nghi đặc biệt
của cá nhân đối với điều kiện mới, là sự thâm nhập của cá nhân vào điều kiện mới
dạy của giáo viên và sự thích ứng còn bị tác động bởi sự tìm hiểu thông tin về
ngành học mà mình đang học. Vì thế các em chưa có một tâm thế sẵn sàng để đón
nhận nó.
Năm 2009, Đỗ Thị Thanh Mai với luận án tiến sĩ về “Mức độ thích ứng với
HĐHT của sinh viên hệ Cao đẳng Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội”. Tác giả
16
đã cho rằng: Sinh viên hệ cao đẳng thích ứng không giống nhau với hoạt động thực
hành các môn học tại trường. Đa số sinh viên năm thứ ba hệ cao đẳng thực hành
môn học tại trường. Trước khi tốt nghiệp, số sinh viên thích ứng với hoạt động thực
hành của sinh viên chịu sự chi phối bởi các yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan.
Đồng thời nâng cao nhận thức và thái độ đối với hoạt động thực hành môn học của
sinh viên sẽ nâng cao được kỹ năng thực hành môn học của sinh viên, đồng thời
nâng cao được mức độ thích ứng với hoạt động thực hành môn học của sinh viên,
kết quả học tập được nâng cao.
Năm 2009, Luận án tiến sĩ của tác giả Đặng Thị Lan về “Mức độ thích ứng
với hoạt động học tập một số môn học chung và môn đọc hiểu tiếng nước ngoài của
SV Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN”. Tác giả đã đưa ra một số kết luận như
sau: Mức độ thích ứng với hoạt động học tập một số môn học chung và môn đọc
hiểu tiếng nước ngoài của sinh viên trong trường còn thấp, so với mức độ thích ứng
với hoạt động học tập một số môn học chung thì mức độ thích ứng hoạt động học
tập môn học hiểu tiếng nước ngoài còn thấp hơn. Có nhiều yếu tố chủ quan và
khách quan ảnh hưởng đến mức độ thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên
trong trường, trong đó yếu tố chủ quan có ảnh hưởng nhiều hơn. Nếu tổ chức và
hướng dẫn sinh viên thực hành một số hành động học cơ bản sẽ nâng cao khả năng
thích ứng với hoạt động học tập theo tín chỉ của sinh viên.
Năm 2012, Vũ Dũng chủ biên đề tài “Thích ứng xã hội của các nhóm xã hội
yếu thế ở nước ta hiện nay”, do nhà xuất bản từ điển Bách Khoa ban hành. Các tác
mình chúng tôi không thể thống kế hết được các tác giả trong nước đã nghiên cứu
về vấn đề thích ứng.
Như vậy, các tác giả trong nước đã có nhiều nghiên cứu về thích ứng ở nhiều
phương diện và nhiều góc nhìn khác nhau. Nhìn chung, các nghiên cứu trong và
ngoài nước tập trung vào nghiên cứu thích ứng vào đối tượng học sinh, hoặc các đối
tượng yếu thế trong xã hội…các công trình này đã góp phần khái quát và xây dựng
những nét cơ bản nhất về vấn đề thích ứng ở con người. Mỗi nghiên cứu đều tập trung
nêu một đến hai yếu tố ảnh hưởng cùng với sự phân tích sâu sắc những ảnh hưởng của
các yếu tố ảnh hưởng đó trong những trường hợp cụ thể. Đây chính là những đóng góp
rất lớn để các nhà giáo dục và bản thân người học tự rút ra những bài học nhằm nâng cao
chất lượng dạy và học trong các nhà trường.
18
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Khái niệm thích ứng
1.2.1.1. Định nghĩa
Thích ứng là phản ứng của cơ thể với những thay đổi của môi trường. Về
nguyên tắc có hai phương thức thích ứng khác nhau của cơ thể: Đối với những điều
kiện môi trường
-
Thích ứng bằng cách thay đổi cấu tạo và hoạt động của các cơ quan, đây là
phương thức phổ biến đối với động vật và thực vật.
-
Thích ứng bằng cách thay đổi hành vi mà không thay đổi tổ chức, phương
triển hết mức khả năng vốn có của bản thân và năng lực lựa chọn một cách có ý
thức những mục tiêu hành động của nhân cách là yếu tố quyết định sự thích ứng của
con người. [20]
- Thích ứng là quá trình tích cực của chủ thể trong quá trình tác động qua lại
giữa chủ thể với môi trường mới, với những hoạt động có những yêu cầu mới.
- Kích thích chỉ xảy ra khi xuất hiện kích thích mới từ môi trường sống mới.
Khi điều kiện kích thích thay đổi, những đặc điểm về cơ thể, đặc điểm tâm lý trong
cấu trúc tâm lý không còn thích hợp để phản ứng thích hợp với môi trường sống
mới buộc chủ thể phải thay đổi cấu trúc tâm lý bên trong, trên cơ sở đó điều chỉnh,
hình thành hành vi mới cho phù hợp với điều kiện kích thích mới.
Kích thích tác động đến chủ thể có thể là một kích thích đơn, có thể là hệ
thống kích thích. Tùy theo dạng kích thích này, thì phản ứng thích ứng của chủ thể
có tính chất khác nhau.
-
Từ góc độ triết học, thích ứng được hiểu là sự thay đổi của bản thân con
người cho phù hợp với hoàn cảnh sống, để con người tồn tại và phát triển. Thích
ứng là quá trình con người nỗ lực làm chủ tự nhiên, cải tạo tự nhiên, giải quyết mối
quan hệ giữa con người với thế giới.
-
Từ góc độ sinh học, thích ứng là sự biến đổi cấu tạo, chức năng của cơ thể,
biến đổi hành vi để con người tồn tại và phát triển. Sự thích ứng của con người biến
đổi từ thấp đến cao.
-
Từ góc độ tâm lý học, thích ứng là sự biến đổi tâm lý của chủ thể nhằm vượt
ứng có hai nghĩa: (1) Như thích nghi; (2) là do những thay đổi cho phù hợp với yêu
cầu, điều kiện mới.
Trong từ điển Tâm lý học của Viện Tâm lý học do Vũ Dũng chủ biên, thích
nghi xã hội là: 1/quá trình thích nghi tích cực của cá nhân với những điều kiện của
môi trường xã hội mới; 2/kết quả của quá trình trên. Thích nghi là sự thích ứng của
21
cấu trúc và các chức năng, các cơ quan và tế bào của cơ thể đối với những điều kiện
của môi trường, hướng tới sự duy trì cân bằng nội tại. Thích nghi tâm lý là sự thích
ứng của con người đối với những yêu cầu và tiêu chuẩn đánh giá hiện có trong xã
hội nhờ chiếm lĩnh được những chuẩn mực và giá trị của xã hội đó [3].
Theo từ điển Xã hội học của Nguyễn Khắc Viện (1994), khái niệm thích nghi
được giải thích là “có những biến đổi nhất định phù hợp với hoàn cảnh mới, môi
trường mới”.
“Thích nghi” được dùng trước hết và phổ biến trong sinh vật học. Theo A.N
Leonchiev, “Sự phát triển của con người không phải là quá trình thích nghi hiểu theo
nghĩa của từ này”. Charles Darwin là người đầu tiên đưa phạm trù “thích nghi” vào
ngành sinh vật học để chỉ ra các quá trình biến đổi về cấu trúc và chức năng của cơ thể
trước sự thay đổi của môi trường. Sự “thích nghi cảm giác” xảy ra khi cơ thể sinh vật
chịu kích thích trong thời gian nhất định đến mức nó quen và không còn phản ứng với
kích thích ấy nữa. Thích nghi là quá trình xảy ra ở mọi sinh vật sống.
Còn “thích ứng” thể hiện tính tích cực, chủ động của cá thể trước những biến
đổi của môi trường xung quanh (cả môi trường tự nhiên và xã hội). Với ý nghĩa đó,
tâm lý học thường dùng thuật ngữ “thích ứng” để tránh trùng lặp với thuật ngữ
“thích nghi” của sinh học.
Thông thường các nhà nghiên cứu phân biệt hai loại thích ứng tâm lý cơ bản
sau: “thích ứng tâm lý” và “thích ứng tâm lý xã hội”.
D.A.Andreeva cho rằng: “Có thể xem thích ứng là một quá trình xây dựng
đích đặt ra từ trước. Sự học này diễn ra một cách ngẫu nhiên thông qua việc thực
hiện một hoạt động có mục đích không phải là mục đích học tập.
- Học có chủ định hay là hoạt động học là sự tiếp thu tri thức, biến đổi hành
vi có mục đích đặt ra từ trước. Sự học này diễn ra trong hoạt động mà mục đích
trực tiếp của nó là học một cái gì đó. Người ta gọi hoạt động này là hoạt động học,
một hoạt động đặc thù của con người, chỉ có ở con người. Hoạt động học được
thực hiện theo phương thức nhà trường, do người học thực hiện dưới sự hướng
dẫn của người thầy/cô giáo nhằm lĩnh hội những tri thức, khái niệm khoa học và
hình thành những kĩ năng, kĩ xảo tương ứng, làm phát triển trí tuệ và năng lực con
người để giải quyết các nhiệm vụ do cuộc sống đặt ra. Hoạt động học có 5 đặc
điểm sau:
23