Tổ chức & hoạt động kho mở phục vụ đào tạo theo tín chỉ tại Thư viện trường Đại học Xây dựng Hà Nội - Pdf 25



1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN THỊ HẢI
TỔ CHỨC & HOẠT ĐỘNG KHO MỞ PHỤC VỤ
ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ TẠI THƯ VIỆN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN Hà Nội - 2011
Hà Nội - 2011 3
MỤC LỤC
TRANG
MỞ ĐẦU 8
CHƯƠNG 1: KHO MỞ VỚI CÔNG TÁC PHỤC VỤ ĐÀO TẠO THEO
TÍN CHỈ TẠI THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI 13
1.1. Những vấn đề chung của kho mở trong hoạt động thông tin
thư viện 13
1.1.1. Khái niệm “kho mở” 13
1.1.2. Đặc điểm của kho mở 14
1.1.3. Ý nghĩa của kho mở trong hoạt động thông tin –thư viện 16
1.2. Trường Đại học Xây dựng Hà Nội trước yêu cầu đào tạo theo
tín chỉ 17
1.2.1. Những vấn đề chung về tín chỉ và đào tạo theo tín chỉ 17
1.2.2. Khái quát quá trình hình thành và phát triển của Trường 19
1.2.3. Chức năng và nhiệm vụ của Trường Đại học Xây dựng Hà Nội 20
1.2.4. Yêu cầu của Nhà trường trong việc đào tạo theo tín chỉ 21
1.2.5. Đội ngũ cán bộ và cơ cấu tổ chức của Nhà trường 23
1.3. Thư viện trước yêu cầu đào tạo theo tín chỉ tại Trường 22
1.3.1. Quá trình hình thành và phát triển của Thư viện 24
1.3.2. Chức năng, nhiệm vụ của Thư viện 25
1.3.3. Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ của Thư viện 26
1.3.4. Cơ sở vật chất tại Thư viện 29
1.3.5. Đặc điểm vốn tài liệu của Thư viện 30

3.1.1. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất 76 5
3.1.2. Thống nhất phương pháp xếp giá 77
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của kho mở 79
3.2.1. Ưu tiên đầu tư kinh phí thích hợp cho tổ chức và hoạt động
kho mở 79
3.2.2. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của
kho mở 82
3.2.3. Tăng cường hướng dẫn và đào tạo người dùng tin 83
3.2.4. Đổi mới công tác phục vụ và tổ chức đào tạo người dùng tin 85
3.3. Nâng cao trình độ cán bộ 86
3.3.1. Nâng cao trình độ cán bộ Thư viện nói chung 86
3.3.2. Nâng cao trình độ cán bộ tại "kho mở" 88
3.4. Nhóm các giải pháp khác 90
3.4.1. Tăng cường hoạt động tuyên truyền và phổ biến thông tin 90
3.4.2. Tăng cường marketing nguồn lực thông tin trong kho mở 91
KẾT LUẬN 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

6

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
1.
CÁC CHỮ CÁI VIẾT
TẮT TIẾNG VIỆT


Nghiên cứu khoa học

TC

Tín chỉ

TT-TV

Thông tin- Thư viện

VTL

Vốn tài liệu

2.
CÁC CHỮ CÁI VIẾT
TẮT TIẾNG ANH

AACR2

Anglo-American Cataloguing Rules 2
nd

(Quy tắc biên mục Anh - Mỹ ấn phẩm lần thứ 2)
BBK

Bibliotechno Bibliograficheskaja Klassifikacija
( Bảng phân loại của Nga)
DDC

4 Cơ cấu tài liệu phòng đọc mở Ngoại văn
47
BẢNG
BIỂU

1 Cơ cấu nhân sự theo độ tuổi tại TV Trường ĐHXD HN 28
2 Số lượng tài liệu truyền thống 30
3 Số lượng tài liệu hiện đại 31
4
Thời gian thu thập thông tin của các nhóm NDT 36
5
Lĩnh vực chuyên môn mà NDT quan tâm 38
6
Mức độ thoả mãn NCT của NDT đối với từng loại hình
tài liệu
39
7 Số lượng tài liệu có trong kho mở của Thư viện
44
8 Số lượng tài liệu tại phòng đọc mở Ngoại văn
46
9 Số liệu bố trí diện tích các khu vực trong kho mở TV 50
10 Các trang thiết bị nội thất khác 52 8

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trường Đại học Xây dựng Hà Nội (ĐHXD HN) là nơi đào tạo nguồn nhân

người dùng tin ngày càng nhanh chóng, chính xác và kịp thời hơn Tuy vậy để có
một kho mở thật tốt và hoạt động có hiệu quả, các TV Việt Nam nói chung cũng
như TV trường ĐHXD HN nói riêng đã gặp phải không ít khó khăn về: kỹ thuật
nghiệp vụ, điều kiện hay trang thiết bị, kỹ thuật tổ chức không thống nhất, vốn tài
liệu chưa đầy đủ, nguồn nhân lực chưa được đào tạo chuyên sâu về hình thức phục
vụ kho mở. Tuy cùng ở trên cùng một địa bàn với các thư viện hiện đại, nhưng ngay
từ những ngày đầu TV trường ĐHXD HN đã xác định cho mình hướng đi riêng,
mang đậm nét đặc thù của một TV chuyên ngành cũng như luôn tìm tòi, đổi mới
mình bằng những hình thức phục phụ mới, phù hợp với điều kiện của mình.
Nhờ hình thức phục vụ mới bằng kho mở, TV trường ĐHXD HN đã thu hút
được lượng bạn đọc tìm đến với TV ngày càng đông và đóng vai trò quan trọng
trong việc nâng cao hiệu quả phục vụ…Tuy nhiên, trước yêu cầu đòi hỏi mới, hình
thức phục vụ bằng kho mở tại TV trường ĐHXD HN đang còn bộc lộ những mặt
hạn chế về tổ chức hoạt động, đã làm ảnh hưởng không nhỏ tới việc đáp ứng nhu
cầu thông tin và quá trình tìm tin của NDT. Mặt khác những hạn chế đó sẽ làm ảnh
hưởng không nhỏ tới quá trình phục vụ NCT cho NDT đặc biệt với hình thức đào
tạo theo tín chỉ của Trường hiện nay. Là một cán bộ đã từng làm việc tại phòng
phục vụ của TV, xuất phát từ tâm huyết nghề nghiệp và nhận thức được tầm quan
trọng, tính cấp thiết của việc hoàn thiện tổ chức hoạt động kho mở là một trong
những mục tiêu đổi mới và hiện đại hoá công tác phục vụ, đem lại diện mạo, phong
thái mới cho TV cũng như phù hợp với hình thức đào tạo theo tín chỉ của trường
ĐHXD HN, chính vì những lý do trên, tôi đã quyết định lựa chọn đề tài: “Tổ chức
& hoạt động kho mở phục vụ theo tín chỉ tại Thư viện Trường Đại học Xây dựng
Hà Nội” làm đề tài luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Khoa học Thư viện của mình. 10
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Những năm gần đây, có nhiều cơ quan TT-TV đã tổ chức các buổi hội nghị,
hội thảo bàn về vấn đề tổ chức và phục vụ kho mở. Đã có một số chuyên gia cũng

Trường ĐHXD HN, đánh giá thành công cũng như những vấn đề đang tồn tại, đề
xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả phục vụ NDT của TV Trường ĐHXD HN.
3.2. Nhiệm vụ
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về kho mở; nghiên cứu chức năng, nhiệm vụ của tổ
chức, đội ngũ cán bộ, cơ sở vật chất, đặc điểm của người dùng tin, nhu cầu tin và
vốn tài liệu của Thư viện Trường ĐHXD HN.
- Khảo sát và phân tích thực trạng tổ chức & hoạt động của kho mở trong Thư viện
Trường ĐHXD HN.
- Đề xuất những phương hướng và các giải pháp hoàn thiện công tác tổ chức và
nâng cao hiệu quả hoạt động của kho mở tại Thư viện Trường ĐHXD HN.
4. Giả thuyết nghiên cứu
Công tác tổ chức kho mở hiện nay đang có nhiều bất cập như: công tác lựa
chọn tài liệu, định ký hiệu xếp giá và vấn đề tổ chức kho…Nếu được chú trọng
hoàn thiện về tổ chức sẽ góp phần nâng cao hiệu quả phục vụ NDT.
Nếu TV Trường ĐHXD HN chú trọng hơn nữa đến đổi mới công tác phục
vụ, đồng thời tăng cường đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin đồng bộ, có tiêu
chuẩn trong hoạt động chia sẻ, phát triển nguồn lực thông tin vào hoạt động kho mở
thì sẽ nâng cao vai trò - vị thế của TV mình hơn.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
5.1. Đối tượng nghiên cứu:
Tổ chức và hoạt động của kho mở tại Thư Viện Trường ĐHXD HN
5.2. Phạm vi nghiên cứu:
Không gian: kho mở của Thư viện Trường Đại học Xây dựng Hà Nội
Thời gian: từ năm 2005 đến nay
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Cơ sở lý luận phương pháp nghiên cứu 12
Trong quá trình nghiên cứu, giải quyết các vấn đề của luận văn, tác giả đã

KHO MỞ VỚI CÔNG TÁC PHỤC VỤ ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ TẠI
THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI
1.1 . Những vấn đề chung của kho mở trong hoạt động thông tin thư viện
1.1.1. Khái niệm “kho mở”
Hiện nay, ở bất kỳ cơ quan thông tin thư viện nào cũng vậy, phục vụ độc giả
là nhiệm vụ hàng đầu và lấy hiệu quả phục vụ là thước đo để đánh giá khả năng
hoạt động và sự phát triển của một thư viện. Việc xác định nâng cao công tác phục
vụ bạn đọc là mục tiêu trọng tâm của các cơ quan thông tin thư viện, vì thế các thư
viện đã không ngừng tìm tòi, đổi mới trong công tác phục vụ của bạn đọc.
Ngay từ những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX phương thức tổ chức
kho mở đã được áp dụng đầu tiên ở Mỹ và sau đó lan truyền sang các nước như:
Anh, Thuỵ Điển, Đan Mạch…và một số nước khác. Đầu tiên, kho mở chủ yếu chỉ
được áp dụng chủ yếu ở các thư viện khoa học chuyên ngành, sau đó áp dụng phổ
biến ở các thư viện công cộng
Theo “Từ điển giải nghĩa thư viện học và tin học Anh - Việt” do dịch giả
Phạm Thị Lệ Hương, Lâm Vĩnh Thế và Nguyễn Thị Nga biên dịch từ cuốn “The
ALA Glossary of Library and Information Science” năm 1996 đã được giải nghĩa
từ: Kho sách mở (Open stack) là chỉ bất cứ kệ sách nào của thư viện mà độc giả
không bị giới hạn khi sử dụng tài liệu để trên kệ sách.[15]
“Kho mở là kho tài liệu, nơi độc giả tự do chọn lựa và sử dụng những cuốn
sách, những tài liệu mà họ cần. Họ tự phục vụ bản thân ở mọi khâu: chọn sách,
báo…tha hồ đọc lướt các tên sách có cùng chủ đề được sắp xếp gần nhau, tự do lấy
tài liệu xuống, rồi lại xếp lên giá, nếu thấy nội dung đó không phù hợp với nhu cầu,
công bằng mà nói, độc giả có cảm giác thư viện là nhà, sách được sẵn sàng trên giá
để phục vụ họ” [18]
“Kho mở thực tế có thể coi như một mục lục phân loại khổng lồ trong đó mỗi
cuốn sách là một “tờ phiếu mục lục” sinh động mà qua đó người đọc có thể xem
lướt nội dung của một số tài liệu có cùng nội dung, xếp cạnh nhau, để lựa chọn 15
 Kho mở dùng cho báo, tạp chí
 Kho mở dùng cho các tài liệu điện tử (CD ROM, VCD, DVD…)
Theo loại hình thư viện ta có:
 Kho mở của thư viện các trường đại học
 Kho mở của thư viện công cộng
 Kho mở của thư viện khoa học (đa ngành, chuyên ngành)
Các đặc điểm chủ yếu của kho mở:
- Về tổ chức tài liệu: Toàn bộ tài liệu trong kho mở phải được sắp xếp theo
một bảng phân loại nhất định, không phân biệt khổ, cỡ để thể hiện mối quan hệ chặt
chẽ về mặt nội dung, chủ yếu vốn tài liệu.
- Về vốn tài liệu: Phải có những tiêu chí, phương thức lựa chọn, tài liệu đưa
ra kho mở: Có thể theo thời gian, theo hình thức tài liệu, tài liệu trong kho mở phải
phù hợp với đối tượng cũng nhu cầu nghiên cứu của độc giả thư viện.
- Về cơ sở vật chất: Kho mở đòi hỏi một không gian rộng vừa để tổ chức kho
vừa để tổ chức phục vụ, bên cạnh đó là các trang thiết bị an ninh như: camera, cổng
từ, chỉ từ, chip điện tử…cũng cực kỳ cần thiết để giảm thiểu những mất mát, hỏng
rách để có thể sảy ra, đảm bảo an toàn cho kho tư liệu.
- Bảo quản tài liệu: Do quá trình bạn đọc trực tiếp tiếp xúc liên tục với tài
liệu trong kho mở, vì thế tài liệu trong kho mở rất dễ rách nát, hư hại và mất mát
nên vấn đề bảo quản cần phải được quan tâm đặc biệt.
- Bổ sung tài liệu và thanh lọc: Tài liệu trong kho mở phải thường xuyên bổ
sung, đáp ứng phù hợp với nhu cầu của bạn đọc vì vậy đòi hỏi kinh phí bổ sung
hàng năm lớn và ổn định. Tài liệu trong kho mở cũng cần thiết phải định kỳ thanh
lọc theo năm hay theo quý.
- Hệ thống tra cứu: Phải linh hoạt và phản ánh đúng vị trí, tình trạng của tài
liệu, thường xuyên được cập nhập.
- Cán bộ thư viện: Ngoài nghiệp vụ chuyên sâu, nhanh nhẹn cần có tinh thần

điều tất yếu có thể sảy ra với bất kỳ người dùng tin nào.
Với cán bộ, kho mở còn giúp cho cán bộ thư viện không phải tiếp nhận các
phiếu yêu cầu, không phải mất thời gian vào kho lấy sách mà vẫn đảm bảo việc
phục vụ tốt cho NDT một cách nhanh chóng và chính xác. Điều này đồng nghĩa với 17
việc tổ chức kho mở sẽ giảm đi được một nguồn nhân lực đáng kể cho thư viện bởi
công việc chính của cán bộ thư viện ở kho mở chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn,
trợ giúp và xác định nguồn tin khi độc giả cần.
Chúng ta đều biết kho mở được hình thành và phát triển là do nhu cầu khách
quan của sự phát triển xã hội. Nhu cầu thông tin, nhu cầu tài liệu là nhu cầu cấp
thiết của con người trong hoạt động nghiên cứu khoa học, học tập và sản xuất.
Trong quá tình nghiên cứu, học tập họ luôn có nhu cầu tìm kiếm thông tin và rất cần
những tài liệu có liên quan đến hoạt động của họ. Kho mở là điều kiện khắc phục
hàng rào thông tin ấy, tạo sự thuận lợi, phù hợp giữa tài liệu và NDT, rút ngắn thời
gian tìm tài liệu, luôn cập nhập thông tin mới, thúc đẩy quá trình phát triển khoa học
và công nghệ, văn minh và tiến bộ loài người.
Tổ chức kho tài liệu nghiên cứu việc phân bổ, sắp xếp tài liệu để có thể bảo
quản, gìn giữ lâu dài và thuận tiện cho việc sử dụng. Công việc này có ý nghĩa đối
với tất cả các hoạt động của cơ quan TT-TV. Việc phân bố tài liệu, quy định trật tự
sắp xếp trong kho tài liệu được tiến hành với mục đích là để tận dụng, sử dụng đến
mức tối đa vốn tài liệu có trong thư viện, mặt khác, tổ chức kho tài liệu chính là để
phục vụ nhiệm vụ nâng cao trình độ mọi mặt của NDT, từ đó góp phần thúc đẩy sự
phát triển chung của xã hội. TV trường ĐHXD HN từ những năm trước vẫn phục
vụ bạn đọc theo mô hình kho đóng, nghĩa là bạn đọc muốn tìm kiếm tài liệu phải
thông qua thủ thư và làm thủ tục mượn. Nhưng cho đến những năm gần đây, với sự
thay đổi và phát triển mạnh mẽ của xã hội, nhất là khi vai trò của TV đã thay đổi thì
bạn đọc đã và đang sở hữu cho mình cả kho tàng tri thức của nhân loại khi bước
chân và kho mở, điều này cũng có nghĩa rằng việc phục vụ theo hình thức kho đóng

Các đơn vị đào tạo có nhiệm vụ cụ thể hóa điều kiện về học liệu trong các hướng
dẫn về đào tạo theo tín chỉ của đơn vị mình.
Để thực hiện tốt cho việc đào tạo theo tín chỉ cần kết hợp giữa nhà trường,
giảng viên và người học. Sự kết hợp này được cụ thể hóa như sau:
* Đối với giảng viên:
+ Xác định các nội dung tự học và cách học cho sinh viên, các vấn đề, các câu
hỏi, bài tập, các tài liệu phải đọc, phải tìm kiếm bổ sung để sinh viên chuẩn bị lên
lớp. 19
+ Xây dưng, thu thập, phân loại, hướng dẫn sử dụng các học liệu/ tài liệu phục
vụ cho việc tự học, tự nghiên cứu của sinh viên.
+ Lựa chọn và giao nội dung các vấn đề, các yêu cầu, tài liệu tham khảo để
từng nhóm hoặc từng sinh viên chuẩn bị và trình bày. Chỉ rõ các địa chỉ mà sinh
viên có thể tìm được và hoàn thành nhiệm vụ được giao.
+ Lựa chọn và giao nội dung, các vấn đề, công việc và các yêu cầu liên quan
cho các nhóm sinh viên thực hiện, nguồn tài liệu tối thiểu…
+ Chỉ đạo và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để sinh viên thực hành.
* Đối với sinh viên:
+ Lập kế hoạch chi tiết để thực hiện các nhiệm vụ đối với từng giờ học mà
giảng viên giao: tìm, đọc, ghi chép những tài liệu liên quan…
+ Nhận nội dung, vấn đề nghiên cứu, mở rộng, đi sâu vào bản chất, vận dụng lý
thuyết vào thực tiễn, chuẩn bị bài trình bày theo sự phân công…
+ Nhóm trưởng lên kế hoạch phân công đến từng thành viên với nhiệm vụ, thời
gian hoàn thành, nguồn tham khảo…
+ Làm bài thực hành, thực tập; viết báo cáo thực hành, thực tập…
+ Nhận và xây dựng kế hoạch chi tiết thực hiện nhiệm vụ tự học, tự nghiên cứu
mà giảng viên giao.[29] Như vậy, nguồn tài liệu học hay học liệu học là rất cần thiết
cho phương pháp đào tạo theo tín chỉ. Vấn đề là ở chỗ, các TV đại học cần phải làm

+ Huân chương Hồ Chí Minh, ba Huân chương Độc lâp (hạng Nhất, Nhì,
Ba), ba Huân chương Lao động, hai Huân chương Chiến công.
+ 50 Huân chương Lao động (hạng Nhất, Nhì, Ba) và hàng trăm bằng khen
của các Bộ, Tỉnh và Thành phố cho tập thể Khoa, Bộ môn và các cá nhân.
+ Gần 500 Huân, Huy chương kháng chiến chống Mỹ, trên 400 Huy chương
“Vì sự nghiệp giáo dục” cho các cán bộ trong trường.
+ Bộ môn Đường ô tô và đường thành phố được Nhà nước phong tặng danh
hiệu “Đơn vị Anh hùng” cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.
1.2.3. Chức năng và nhiệm vụ của Trường Đại học Xây dựng Hà Nội
Chức năng và nhiệm vụ cơ bản của Trường ĐHXD HN trong giai đoạn đổi
mới giáo dục của Nhà trường là: Làm nòng cốt trong việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng
cao trình độ cán bộ, xây dựng chương trình đào tạo, biên soạn giáo trình, mở rộng 21
hợp tác, liên kết đào tạo với các trường đào tạo trong và ngoài nước. Tổ chức triển
khai nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật vào triển khai các đề án, các quy trình công nghệ và sản xuất kinh doanh.
1.2.4. Yêu cầu của Nhà trường trong việc đào tạo theo tín chỉ
Trong những năm gần đây nền kinh tế xã hội của chúng ta đã có nhiều
chuyển biến sâu sắc. Nhu cầu cán bộ khoa học kỹ thuật trong những năm tới sẽ rất
lớn và đa dạng. Trong bối cảnh đó, để đáp ứng những nhu cầu mới của sự phát triển
đất nước, để thực hiện nghị quyết Trung ương II khóa VIII về giáo dục và đào tạo
và Nghị quyết 14/2005/NQ-CP của chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo
dục Đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020, trong đó có đoạn ghi: “ Xây dựng và
thực hiện lộ trình chuyển sang chế độ đào tạo theo hệ thống tín chỉ, tạo điều kiện
thuận lợi để người học tích luỹ kiến thức, chuyển đổi ngành nghề, liên thông,
chuyển tiếp tới các cấp học tiếp theo trong nước và ở nước ngoài”.
Năm 1993, khi Vụ Đại học Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất đưa học chế tín
chỉ vào các trường đại học nước ta, nhiều người còn ngỡ ngàng và không mấy

một văn bằng. Do đó, khái niệm năm học sẽ không hoàn toàn mang ý nghĩa như
trước đây. Việc học tập giảng dạy sẽ được tiến hành liên tục trong năm.
Việc đánh giá kết quả học tập ở trường ĐHXD HN sẽ được thực hiện theo
cùng một nguyên tắc như ở các trường đại học khác trong khu vực và trên thế giới.
Sinh viên sẽ được đánh giá thường xuyên: trong quá trình học tập và thi cuối học
kỳ. Theo nguyên tắc chung các điểm thành phần của phần học được cho theo thang
điểm 10. Điểm học phần được tổ chức từ các điểm thành phần. Với mục tiêu trên,
chương trình đào tạo cấp kỹ sư ở trường ĐHXD HN đã được cấu tạo lại bao gồm
hai khối kiến thức: Kiến thức giáo dục đại cương, kiến thức giáo dục chuyên
nghiệp.
Kiến thức giáo dục chuyên nghiệp (chiếm 67% chương trình đào tạo), bao
gồm các kiến thức cơ sở ngành (35% chương trình đào tạo) và chuyên ngành (32%
chương trình đào tạo). Trong khối kiến thức cơ sở ngành có khoảng 70% là kiến
thức liên ngành. Trong khối kiến thức chuyên ngành, các môn học được xắp xếp
theo các nhóm (chuyên ngành) khác nhau. Sinh viên có thể lựa chọn theo học một 23
chuyên môn sâu thuộc ngành học của mình (theo hướng dẫn của trường) trước khi
ra trường. [9]
Chuyên ngành
32%
Kiến thức cơ sở
ngành
35%
Kiến thức giáo
dục đại cương
33%
Hình 1.1: Tỷ trọng các khối kiến thức trong chương trình đào tạo
Từ nhận thức sâu sắc về đổi mới phương pháp đào tạo trên, đây cũng là một

HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
ĐÀO TẠO TRƯỜNG
Phòng tổ chức cán bộ
Công ty tư vấn Đại học
Xây dựng
Phòng Hợp tác Quốc tế

Phòng đào tạo
Phòng công tác sinh viên
Phòng khảo thí & KĐCL
Phòng khoa học công nghệ
Phòng đào tạo sau đại học
Ban Đào tạo KSCLC
TT đào tạo thường xuyên
MÔ HÌNH QUẢN LÝ CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG
Hội đồng Khoa học
Khoa, Viện

Các
Khoa
(Viện)
Bộ
môn
trực

Phòng công tác sinh viên

Phòng khảo thí & KĐCL

Phòng khoa học công nghệ

Phòng đào tạo sau đại học

Ban Đào tạo KSCLC

TT đào tạo thường xuyên

Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức của trường Đại học Xây Dựng Hà Nội 22
Nhà trường đã kết hợp vốn nhà nước với vốn tự có do hoạt động nghiên cứu
khoa học và giảng dạy để xây dựng một số công trình vĩnh cửu phục vụ cho công
tác đào tạo và NCKH như: Nhà làm việc A1 (5 tầng, 540m
2
), nhà học H1 (5 tầng,
787m
2
), Nhà học H2 (5 tầng, 6000m
2
), nhà luyện tập và thi đấu thể thao (1300m
2
),
Trung tâm Môi trường (824m
2

Trích đoạn Đặc điểm nhu cầu tin của người dùng tin ở Thư viện Phương pháp định ký hiệu xếp giá Phương pháp sắp xếp tài liệu Công tác bảo quản tài liệu Hoạt động hướng dẫn người dùng tin
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status