VIỆN HÀN LẦM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THÙY DƯƠNG
CHỨNG CỨ TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN VỀ
TỘI CƯỚP TÀI SẢN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH HẢI DƯƠNG
Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
“•••“•
Mã số : 8 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS PHÙNG THẾ VẮC
HÀ NỘI, 2018
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số
liệu và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực.
Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công
trình khoa học nào khác
Tác giả luận văn
PHẠM THÙY DƯƠNG
Chương 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG THU THẬP, KIỂM TRA VÀ ĐÁNH GIÁ
CHỨNG CỨ TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN CƯỚP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI 56 DƯƠNG
giải quyết vụ án hay nói cách khác là một biện pháp đưa các quy phạm pháp luật vào
cuộc sống.
Nằm ở trung tâm các tỉnh đồng bằng sông Hồng, Hải Dương có một vị trí rất
quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Là một đô thị
phát triển sớm ở đồng bằng Bắc bộ, Hải Dương là nơi có mật độ dân cư cao. Trên
địa bàn Tỉnh có nhiều trụ sở cơ quan Đảng, Nhà nước, các trường học của địa
phương và Trung ương. Hải Dương là một tỉnh khá năng động và có nhiều tiềm năng
nên có nhiều doanh nghiệp thuộc đủ mọi thành phần kinh tế đang hoạt động, đáng
chú ý là một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động trên địa bàn
tỉnh. Tình hình đó có quan hệ chặt chẽ tới diễn biến phức tạp về an ninh trật tự trên
địa bàn tỉnh. Đặc biệt, Hải Dương lại nằm trên trục giao thông quan trọng liên kết ba
trung tâm kinh tế - chính trị lớn là Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh. Điều này
càng cho thấy Hải Dương là một địa bàn phức tạp về an ninh trật tự, là một địa bàn
nhạy cảm đối với các băng nhóm tội phạm từ các tỉnh khác thâm nhập hoặc “lánh
nạn” mỗi khi có các chiến dịch truy quét tội phạm ở các địa phương lân cận. Hàng
năm trên địa bàn tỉnh Hải Dương xảy ra hàng trăm vụ phạm pháp hình sự [Bảng 2.1
- Phụ lục ] ; Trong số các vụ án hình sự được thống kê, tỉnh Hải Dương luôn có
thống kê riêng về các vụ án Cướp tài sản, điều đó thể hiện sự quan tâm đặc biệt của
Công an tỉnh Hải Dương với loại tội phạm này. Qua thống kê hàng năm, các tội
phạm Cướp tài sản chỉ chiếm tỉ lệ không lớn, trung bình chỉ khoảng 20 đến 30 vụ án
1 năm nhưng các vụ án Cướp tài sản luôn gây ra những hậu quả lớn cho địa phương,
các hành vi cướp thường làm cho người dân lo lắng, ảnh hưởng tới đời sống sinh
hoạt, học tập và làm việc của dân cứ trên địa bàn.
Theo báo cáo kết quả điều tra khám phá các vụ án hình sự của CQĐT Công
anh tỉnh Hải Dương, trong 5 năm từ năm 2013 đến năm 2017 đã phát hiện 3888 vụ
phạm pháp hình sự, đã điều tra làm rõ 3094 vụ đạt 80%. Đối với vụ án cướp tài sản,
có 143 được phát hiện, điều tra làm rõ 130 vụ với 255 bị can đạt tỉ lệ 91%. Trong
quá trình giải quyết các vụ án cướp tài sản, VKS đã trả lại 05 trường hợp để điều tra
về tội cướp tài sản trên địa bàn tỉnh Hải Dương
+ Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thu thập, kiểm tra,
đánh giá chứng cứ trong điều tra vụ án về tội cướp tài sản trên địa bản tỉnh Hải
Dương.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng hoạt động thu thập, kiểm tra,
đánh giá chứng cứ trong điều tra vụ án về tội cướp tài sản của Cơ quan Cảnh sát điều
tra Công an tỉnh Hải Dương trên cơ sở BLTTHS năm 2003, năm 2015 và những văn
bản pháp luật có liên quan.
- Phạm vi nghiên cứu: Về không gian là địa bàn tỉnh Hải Dương, về thời gian
từ năm 2013 đến 2017.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về chính sách hình sự quan
điểm, đường lối xử lý các tội xâm phạm sở hữu nói chung và tội Cướp tài sản nói
riêng.
hương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể như:
hương pháp thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp, nghiên cứu thực tiễn, ví dụ
điển hình thông qua những hồ sơ vụ án, bản kết luận điều tra, bản án, quyết định,
báo cáo tổng kết của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hải Dương.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của Luận văn có ý nghĩa về khoa học cũng như thực
tiễn.
- Về khoa học: Luận văn góp tiếng nói khiêm tốn vào lý luận về thu thập,
kiểm tra, đánh giá chứng cứ trong điều tra vụ án về tội cướp tài.
- Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu có thể được tham khảo trong hoạt động
lập pháp cũng như thực tiễn hoạt động điều tra các vụ án về tội cướp tài sản.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy và học
tập về tố tụng hình sự, điều tra tội phạm.
vết trong thế giới khách quan, trong đó có hành động phạm tội. Những dấu vết của
hành vi phạm tội có thể được thể hiện dưới dạng vật chất như: dấu vết phạm tội, tồn
tại trên công cụ, phương tiện phạm tội, dấu vân tay của người phạm tội để lại trên
hiện trường, vết dao đâm của người phạm tội để lại trên nạn nhân... Hoặc được phản
ánh, ghi nhận trong trí nhớ của con người có thể là nạn nhân hay người khác. Thu
thập những dấu vết này một cách có hệ thống qua quá trình tiến hành tố tụng sẽ đưa
đến sự nhận thức đúng đắn bản chất của vụ án, dựng lại được toàn bộ diễn biến của
sự việc phạm tội.
Như vậy, chứng cứ là phương tiện duy nhất để chứng minh tội phạm, làm
rõ những tình tiết của vụ án. Chứng cứ được quy định trong Luật tố tụng
hình
sự, tùy vào bản chất giai cấp của mỗi nhà nước và trên cơ sở phương pháp luận nhận
thức khác nhau mà có những quy định khác nhau về chứng cứ.
Trên nền tảng của học thuyết duy vật biện chứng và thực tiễn cuộc đấu tranh
chống tội phạm ở Việt Nam, Điều 86 BLTTHS năm 2015 đã quy định về chứng cứ
như sau:
“Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ Luật
này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội,
người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải
quyết vụ án” [12. Tr.88, 89].
Khái niệm chứng cứ trong Luật TTHS Việt Nam phản ánh nội dung và hình
thức của chứng cứ. Về nội dung, chứng cứ là những gì có thật được dùng làm căn cứ
xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng
như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án. Về hình thức,
chứng cứ phải được thu thập theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định. Chứng cứ
được phát hiện, thu thập nhằm mục đích chứng minh tội phạm và người thực hiện
hành vi phạm tội và làm rõ những tình tiết khác liên quan đến vụ án để giải quyết
đúng đắn vụ án hình sự.
vụ án cụ thể.
- Tính hợp pháp của chứng cứ
Tính hợp pháp của chứng cứ được hiểu là những gì có thật, liên quan đến
những vấn đề cần chứng minh trong vụ án phải được ghi lại, phản ánh lại từ những
nguồn của chứng cứ và được thu thập bằng những biện pháp do BLTTHS quy định.
Nguồn chứng cứ là hình thức pháp lý mà trong đó chứa đựng những gì có thật,
có liên quan đến vụ án hình sự được dùng làm căn cứ để chứng minh tội phạm. Luật
tố tụng hình sự đã quy định những loại nguồn chứng cứ sau đây:
+ Vật chứng;
+ Lời khai, lời trình bày;
+ Dữ liệu điện tử;
+ Kết luận giám định, định giá tài sản;
+ Biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án;
+ Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác;
+ Các tài liệu, đồ vật khác.
Khoản 1, 2, 3 Điều 88 BLTTHS quy định:
“1. Để thu thập chứng cứ, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có quyền
tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật này; yêu cầu cơ
quan, tổ chức, cá nhân cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử, trình bày
những tình tiết làm sáng tỏ vụ án.
2. Để thu thập chứng cứ, người bào chữa có quyền gặp người mà mình bào
chữa, bị hại, người làm chứng và những người khác biết về vụ án để hỏi, nghe họ
trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân
cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa.
3. Những người tham gia tố tụng khác, cơ quan, tổ chức hoặc bất cứ cá nhân
nào đều có thể đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử và trình bày những
vấn đề có liên quan đến vụ án.” [12. Tr. 89,90].
Từ nội dung trên, thấy rằng chứng cứ ngoài việc phải được rút ra từ những loại
Điều 108 BLTTHS quy định về kiểm tra, đánh giá chứng cứ:
“1. Môi chứng cứ phải được kiểm tra, đánh giá để xác định tính hợp pháp, xác
thực và liên quan đến vụ án. Việc xác định những chứng cứ thu thập được phải bảo
đảm đủ để giải quyết vụ án hình sự.
2. Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn
của mình phải kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện mọi chứng cứ đã
thu thập được về vụ án.” [12. Tr. 100].
Đã là chứng cứ thì bao giờ cũng tồn tại trong nó các thuộc tính: tính khách
quan, tính liên quan và tính hợp pháp. Những thuộc tính này không tách rời nhau mà
chúng có mối liên hệ ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau, tác động qua lại lẫn nhau tạo
thành một chỉnh thể thống nhất, thiếu một trong những thuộc tính đó thì sẽ không có
chứng cứ. Song mỗi thuộc tính đều có một vị trí, vai trò của nó, có ảnh hưởng đến sự
hình thành của chứng cứ. Nếu một trong các thuộc tính của chứng cứ không tốt thì sẽ
ảnh hưởng đến giá trị của chứng cứ.
1.1.3.
Phân loại chứng cứ
Việc phân loại chứng cứ có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình chứng minh
vụ án; cho phép xác định đúng vị trí, hiệu lực và giá trị chứng minh của từng chứng
cứ trong toàn bộ hệ thống chứng cứ của vụ án. Dựa vào những căn cứ khác nhau,
Luật tố tụng hình sự phân chia thành nhiều loại chứng cứ, mỗi loại chứng cứ có
những đặc điểm riêng biệt.
- Chứng cứ gốc và chứng cứ sao lại, thuật lại
Căn cứ vào mối quan hệ giữa nguồn phản ánh và sự kiện có thật dùng làm căn
cứ để chứng minh mà chia thành chứng cứ gốc và chứng cứ sao lại, thuật lại.
Chứng cứ gốc là chứng cứ được ghi lại, phản ánh lại từ nguồn tài liệu gốc hoặc
từ một người trực tiếp biết sự việc mà không phải thông qua khâu trung gian. Chẳng
- Chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội
Căn cứ vào kết quả chứng minh của chứng cứ mà chia thành chứng cứ buộc tội
và chứng cứ gỡ tội.
Chứng cứ buộc tội là những chứng cứ xác định có tội phạm xảy ra, một người
nào đó đã thực hiện tội phạm hoặc xác định những tình tiết tăng nặng trách nhiệm
hình sự của bị can, bị cáo.
Chứng cứ gỡ tội là những chứng cứ xác định không có sự việc phạm tội xảy ra,
một người nào đó không thực hiện tội phạm, hành vi không cấu thành tội phạm hoặc
xác định những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.
Hai loại chứng cứ này tuy đối lập nhau nhưng chúng đều xác định sự thật
khách quan của vụ án. Do vậy, trong quá trình chứng minh phải chú ý thu thập đầy
đủ cả hai loại chứng cứ này, nếu chỉ chú ý về một loại chứng cứ nào đó thì có thể dẫn
đến oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm.
1.2.
Đối tượng chứng minh trong vụ án cướp tài sản
1.2.1. Khái niệm, phân loại đối tượng chứng minh trong vụ án cướp tài sản
- Khái niệm: Đối tượng chứng minh trong vụ án cướp tài sản là tổng hợp
những sự kiện và tình tiết của vụ án phải được xác định, làm rõ bằng chứng cứ để
giải quyết đúng đắn vụ án cướp tài sản.
Điều 85 BLTTHS năm 2015 đã quy định về những sự kiện, tình tiết phải chứng
minh trong vụ án hình sự mà khi điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, các CQĐT,
VKS, Tòa án phải chứng minh được, bao gồm:
+ Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết
khác của hành vi phạm tội;
+ Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay
vô ý ; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội;
hình phạt, bao gồm: Chứng minh những tình tiết dẫn đến miễn trách nhiệm hình sự,
quy định tại Điều 29 BLHS 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Chứng minh những
tình tiết dẫn đến miễn hình phạt, quy định tại Điều 59 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ
sung năm 2017 ) ; Chứng minh những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị
can, bị cáo quy định tại Điều 52 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 ) ;
Chứng minh những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo quy
định tại Điều 51 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Nhóm thứ ba: Đối tượng chứng minh là những tình tiết có ý nghĩa đối với việc
giải quyết đúng đắn vụ án cướp tài sản. Đây là nhóm đối tượng chứng minh không
thuộc yếu tố cấu thành tội phạm, không ảnh hưởng trực tiếp đến trách nhiệm hình sự
và hình phạt nhưng có ý nghĩa nhất định đối với việc giải quyết đúng đắn vụ án. Đó
là những tình tiết có liên quan đến sự vô tư, khách quan của những người tiến hành
tố tụng và những người tham gia tố tụng, cũng như những tình tiết khác có ý nghĩa
đối với việc giải quyết đúng đắn vụ án. Ví dụ như: mối quan hệ giữa người tiến hành
tố tụng với bị can, bị cáo hoặc giữa người làm chứng với người bị hại...
Đối tượng chứng minh trong vụ án cướp tài sản là hệ thống những vấn đề cần
phải chứng minh làm rõ, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Muốn xác định đúng đối
tượng chứng minh của vụ án này, cơ quan tiến hành tố tụng phải có cách tiếp cận
tổng thể đối với cả ba nhóm đối tượng chứng minh trên và vận dụng vào từng trường
hợp cụ thể cho phù hợp với quy định của pháp luật. Có xác định đúng đối tượng
chứng minh mới giúp cho công việc xác định hướng điều tra thu thập chứng cứ và từ
đó có cơ sở để kết luận đúng đắn về vụ án cướp tài sản.
1.2.2.
Các yếu tố cấu thành Tôi cướp tài sản (Điều 168 BLHS năm 2015 sủa
đổi, bổ sung năm 2017)
The o Điều 85 BLTTHS năm 2015 để làm rõ bản chất của vụ án cướp tài sản
làm tê liệt sự chống cự của người này chống lại việc chiếm đoạt. Hành vi dùng vũ
lực trước hết phải là hành vi nhằm vào con người. Những hành vi không nhằm vào
con người đều không phải là hành vi dùng vũ lực theo quy định của điều luật. Người
bị tấn công ở đây có thể là chủ tài sản, người có trách nhiệm quản lý hay bảo vệ tài
sản nhưng cũng có thể là người bất kỳ mà người phạm tội cho rằng người này đã
hoặc có khả năng sẽ ngăn cản việc chiếm đoạt của mình. Hành vi dùng vũ lực trong
tội cướp tài sản phải ở mức độ có khả năng đè bẹp hoặc làm tê liệt sự chống cự,
nghĩa là có khả năng làm cho sự chống cự về mặt thực tế không xảy ra được hoặc
xảy ra nhưng không có kết quả hoặc làm cho người bị tấn công bị tê liệt về ý chí,
không dám kháng cự. Những hành vi dùng vũ lực có tính chất như vậy có thể là
đánh, chém, trói, nhốt...
Hành vi đ dọa dùng vũ lực ngay tức khắc
Đây là trường hợp người phạm tội bằng lời nói hoặc bằng cử chỉ (hoặc cả hai)
đe dọa sẽ dùng vũ lực ngay tức khắc nếu chống cự lại việc chiếm đoạt. Vũ lực đ dọa
sẽ thực hiện có thể nhằm vào chính người bị đ dọa nhưng cũng có thể nhằm vào
người khác có quan hệ thân thuộc với người bị de dọa. Ở tội cướp tài sản, tính chất
của sự đe dọa, the o quy định của luật phải là đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc. Dấu
hiệu “ngay tức khắc” ở đây có ý nghĩa quan trọng để phân biệt hành vi đ dọa dùng
vũ lực ở tội cướp với hành vi đ dọa (sẽ ) dùng vũ lực ở tội cưỡng đoạt tài sản. Dấu
hiệu này vừa dùng để chỉ sự nhanh chóng về mặt thời gian (sẽ xảy ra ngay lập tức)
và vừa dùng để chỉ sự mãnh liệt của hành vi đ dọa. Hành vi đ dọa dùng vũ lực ở tội
cướp tài sản có tính chất mãnh liệt là làm cho người bị đ dọa thấy rằng vũ lực sẽ xảy
ra ngay, họ không hoặc khó có điều kiện tránh khỏi. Sự đe dọa đã làm ý chí của
người bị đe dọa tê liệt. Để đánh giá hành vi đe dọa dùng vũ lực có tính chất như vậy
hay không và qua đó khẳng định có phải là cướp tài sản hay không, cần dựa vào
những tình tiết sau: Nội dung và hình thức của hành vi đe dọa (dọa làm gì? Thái độ đ
dọa ra sao? Tương quan lực lượng giữa bên đ dọa và bên bị đ dọa; Hoàn cảnh không
gian và thời gian; Tình hình trật tự xã hội nơi và lúc xảy ra hành vi phạm tội ...
cướp tài sản nếu việc thực hiện những hành vi đó nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản.
Mục đích giữ tài sản vừa chiếm đoạt được cũng được coi là dạng đặc biệt của
mục đích chiếm đoạt. Như vậy, những hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, đ
dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hay hành vi làm cho người bị tấn công lâm vào tình
trạng không thể chống cự được nhằm mục đích giữ tài sản vừa chiếm đoạt được cũng
bị coi là cấu thành tội cướp tài sản. Đây là trường hợp người phạm tội đã chiếm đoạt
được tài sản bằng thủ đoạn không phải là cướp như bằng thủ đoạn trộm cắp, cướp
giật... nhưng ngay sau đó đã bị phát hiện người phạm tội đã tấn công lại người ngăn
cản (bằng những thủ đoạn của tội cướp) nhằm giữ bằng được tài sản vừa chiếm đoạt
trước đó. Thực tiễn xét xử từ trước đến nay coi trường hợp này là trường hợp chuyển
hóa từ một số hình thức chiếm đoạt tài sản thành cướp tài sản.
- Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội cướp tài sản là chủ thể bình thường nên chỉ đòi hỏi có năng lực
trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định.
Người phạm tội cướp tài sản phải là người từ đủ 14 tuổi trở lên và khi thực hiện
hành vi phạm tội không mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng
nhận thức hoặc khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi của mình. Tội cướp tài
sản quy định tại Điều 168 BLHS là tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng do cố ý nên th o quy định tại Điều 12 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ
sung năm 2017) thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình
sự về tội cướp tài sản.
1.3.
Thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ trong điều tra vụ án cướp tài sản
1.3.1. Khái niệm điều tra vụ án cướp tài sản
Điều tra vụ án hình sự nói chung và vụ án cướp tài sản nói riêng là quá trình áp
dụng pháp luật nhằm làm rõ sự thật khách quan toàn diện về vụ án cướp tài sản.
hành, trong mỗi bước phải xuất phát từ thực tiễn để điều chỉnh phương hướng thu
thập cho sát; Phải biết chọn những vấn đề mấu chốt trọng tâm để tập trung lực lượng
thu thập. Việc phát hiện, thu thập chứng cứ phải được tiến hành khẩn trương, tỉ mỉ,
sâu sắc, phải chú ý đến mọi khía cạnh của vụ án.
- Ghi nhận, thu giữ chứng cứ là làm cho chứng cứ có đầy đủ các thuộc tính của
nó nhằm đảm bảo giá trị chứng minh và hiệu lực chứng minh.
CQĐT có quyền áp dụng các biện pháp của BLTTHS để phát hiện, ghi nhận,
thu giữ chứng cứ. Thông thường việc ghi nhận, thu giữ chứng cứ đi liền với việc phát
hiện chứng cứ, vì có phát hiện được thì mới tiến hành ghi nhận, thu giữ. Tuy nhiên
trong một số trường hợp thu thập chứng cứ chỉ là ghi nhận, thu giữ như những tài
liệu chứng cứ do các cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp... Việc ghi nhận chứng cứ
phải được thực hiện theo những thủ tục và dưới những hình thức nhất định do pháp
luật tố tụng hình sự quy định như: Lập biên bản khám nghiệm hiện trường, khám
nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể, thực nghiệm điều tra, chụp ảnh, vẽ sơ
đồ hiện trường. Còn thu giữ chứng cứ nhằm mục đích sử dụng chúng vào việc chứng
minh trong vụ án cướp tài sản và được coi là một trong những biện pháp hữu hiệu
nhằm bảo quản chứng cứ phục vụ cho công tác điều tra.
Khi tiến hành ghi nhận, thu giữ chứng cứ phải ghi chép đầy đủ, tỉ mỉ, chính xác
và phản ánh một cách trung thực những sự việc, hiện tượng, tình tiết, dấu vết, số liệu,
tài liệu...và cách thức thu thập nó vào biên bản hoặc vào các tài liệu khác, tránh việc
thất lạc, sai sự thật và giữ gìn lâu dài phục vụ cho công tác điều tra.
+ Đối với sự việc, hiện tượng phải ghi rõ đó là sự việc, hiện tượng gì, xảy ra ở
đâu, lúc nào, nguyên nhân của việc phát hiện sự việc, hiện tượng đó, diễn biến, hậu
quả tác hại xảy ra, ai biết việc đó, vì sao họ biết.
+ Đối với dấu vết phải ghi rõ dấu vết gì, thu ở đâu, hình dáng, kích thước, vị trí,
khoảng cách của dấu vết, ai là người phát hiện thu thập.
+ Đối với vật chứng phải ghi rõ vật gì, công cụ, phương tiện phạm tội hay đối
tượng của tội phạm, tiền bạc... đặc điểm của vật (hình dạng, số lượng, kích thước,
cứ, tạo ra chứng cứ ngoại phạm... Vì vậy nếu không kiểm tra, xác minh thì rất dễ dẫn
đến sai lầm, để lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội.