Sự tham gia của người cao tuổi tại cộng đồng ” (nghiên cứu trường hợp tại phường 8, quận tân bình thành phố hồ chí minh) - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN PHỤC

SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TẠI CỘNG ĐỒNG
(Nghiên cứu trường hợp tại phường 8
quận Tân Bình - Thành phố Hồ Chí Minh)

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

HÀ NỘI, năm 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN PHỤC

SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TẠI CỘNG ĐỒNG
(Nghiên cứu trường hợp tại phường 8
quận Tân Bình - Thành phố Hồ Chí Minh)
Ngành: Xã hội học
Mã số: 8310301

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. BẾ QUỲNH NGA

ơ sở lý luận của đề tài..........................................................................................22
1.2.

Cơ sở thực tiễn............................................................................................26

_Toc510876387Chương 2: CÁC ĐẶC ĐIỂM VỀ NGƯỜI CAO TUỔI VÀ LOẠI
HÌNH TỔ CHỨC THAM GIA HOẠT ĐỘNG TẠI CÔNG ĐỒNG........................33
2.1............................................................................................................................. Đ
ặc điểm chung của người cao tuổi tham gia nghiên cứu......................................33
2.2............................................................................................................................. C
ác loại hình tổ chức mà người cao tuổi tham gia.................................................44
Chương 3: CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ THAM GIA ĐỘNG XÃ HỘI CỦA
NGƯỜI CAO TUỔI................................................................................................47
3.1.

Sự đánh giá của chính quyền......................................................................48

3.2.

Hoạt động của hội người cao tuổi...............................................................49

3.3.

Những khó khăn của người cao tuổi khi tham gia các hoạt động xã hội.....58

3.4.

Sự hỗ trợ để người cao tuổi tham gia hoạt động xã hội..............................63

3.5.


Bảng 2.1: Mức độ tham gia hoạt động xã hội của người cao tuổiError! Bookmark not defin
Bảng 3.1: Mối liên quan giữa
sự đánh
giá của
địa ĐỒ
phương với mức độ tham
DANH
MỤC
BIỂU
gia hoạt động xã hội của người cao tuổi..............................................................49
Bảng 3.2. Mối liên quan giữa cảm nhận của người cao tuổi về công tác xã hội
với các hoạt động xã hội......................................................................................52
Bảng 3.3: Mối liên quan giữa cảm nhận của người cao tuổi về giáo dục tri
thức với các hoạt động xã hội..............................................................................53
Bảng 3.4: Mối liên quan giữa cảm nhận của người cao tuổi về giáo dục đạo
đức với các hoạt động xã hội...............................................................................54
Bảng 3.5: Mối liên quan giữa cảm nhận của người cao tuổi về định hướng
kinh tế với các hoạt động xã hội..........................................................................56
Bảng 3.6: Mối liên quan giữa cảm nhận của người cao tuổi về hoạt động văn
hóa với các hoạt động xã hội...............................................................................57
Bảng 3.7: Mối liên hệ giữa những khó khăn trong hoạt động như không được
tập huấn với mức độ tham gia hoạt động xã hội của người cao tuổi tại cộng
đồng..................................................................................................................... 59
Bảng 3.8: Mối liên hệ giữa những khó khăn trong hoạt động như tuổi cao sức
yếu với mức độ tham gia hoạt động xã hội của người cao tuổi tại cộng đồng.....61
Bảng 3.9: Mối liên hệ giữa những khó khăn trong hoạt động như cản trở từ
gia đình với mức độ tham gia hoạt động xã hội của người cao tuổi tại cộng
đồng..................................................................................................................... 62
Bảng 3.10: Sự hỗ trợ, động viên của người khác cho người cao tuổi khi tham

triệu người cao tuổi (năm 2015), chiếm 12,3% dân số. Số này sẽ tăng lên hơn 2 tỷ
người vào năm 2050, chiếm 22% dân số thế giới. Trung bình cứ một giây có 2 người
bước vào tuổi 60, tức mỗi năm thế giới có thêm khoảng 58 triệu người 60+ tuổi.
Trung bình cứ 9 người sẽ có một người 60+ tuổi và tỉ lệ này sẽ là 5/1 vào năm 2050.
Ngày 14 tháng 12 năm 1990 Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc đã bỏ phiếu tán
thành việc lấy ngày 01 tháng 10 hàng năm làm ngày Quốc tế NCT, được ghi trong
Nghị quyết 45/106. Đây là mốc son thể hiện quan điểm của thế giới về NCT. Ngày
quốc tế NCT đầu tiên được tiến hành ngày 1-101991 nhằm nâng cao nhận thức,
đánh giá cao những đóng góp NCT là tâm điểm của Chương trình Liên hiệp Quốc về
NCT và các tổ chức bảo vệ NCT. Năm 1991, Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc đề ra
chương trình hành động về NCT trong mười năm 1992 - 2001. Nghị quyết nêu
“Những nguyên tắc về đạo lí của Liên Hợp Quốc đối với NCT” làm cơ sở cho các
chương trình quốc tế, quốc gia về NCT. [2]
Theo Bộ Y Tế Việt Nam cho biết tỷ lệ người cao tuổi (NCT) ở Việt Nam
đang có khuynh hướng tăng nhanh, hiện nay trong nước có khoảng 10,1 triệu người
cao tuổi, chiếm 11% dân số, riêng số người từ 80 tuổi trở lên là 2 triệu người. Dự
báo đến năm 2030, tỷ trọng NCT Việt Nam chiếm 18% và năm 2050 là 26% dân số
[1]. Điều này cho thấy Việt Nam đã bước vào giai đoạn “già hóa dân số” giai đoạn
mà nhiều người cho rằng có ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển kinh tế - xã hội
của một quốc gia.Với nét đặc thù riêng của nền văn hóa Việt Nam, NCT vẫn chiếm
một vị trí một vai trò vô cùng quan trọng trong gia đình và xã hội. Trong gia đình,
họ là điểm tựa vững chắc, trong kinh nghiệm sống quý báu còn với bên ngoài xã hội,
Dựa vào các chương trình hoạt động vì NCT của Liên Hiệp Quốc, nhà nước ta đã

1


ban hành Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi Việt Nam giai đoạn
2012 - 2020 nhằm nâng cao vị thế của NCT trong xã hội với những phong trào thiết
thực tạo điều kiện cho NCT có thể tiếp tục đóng góp sức lực của minh cho cộng

tại địa phương là một vấn đề cần thiết, để có một cách nhìn tổng quan về NCT trong
vấn đề này. Sau khi tìm hiểu cho thấy việc nghiên cứu về vấn đề NCT tham gia hoạt
động xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay vẫn chưa có.
Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Sự tham gia của người cao
tuổi tại cộng đồng ” (Nghiên cứu trường hợp tại phường 8, quận Tân Bình - Thành
phố Hồ Chí Minh) để làm luận văn tốt nghiệp Cao học. Những kết quả của cuộc
nghiên cứu này sẽ là nguồn tài liệu tham khảo cho các cấp chính quyền để đưa ra
các hoạch định cụ thể nhằm giúp nâng cao chất lượng hoạt động của NCT trên địa
bàn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Những nghiên cứu nước ngoài
Bài viết nghiên cứu “How Participatory Are They?The Strengthsand
challenges of Participationin theOlder People Self Help Group Initiative” của tác
giả Yang Yunjeong nhằm đánh giá hoạt động sáng kiến của nhóm người cao tuổi tự
lực tại Hàn quốc nhằm giúp người cao tuổi lão hoá trong cộng đồng của họ như là
những người tham gia tích cực chứ không phải là người phụ thuộc, góp phần vào sự
phát triển của cộng đồng đồng thời nghiên cứu này cũng nhằm kiểm tra hiệu quả của
hoạt động này. Qua nghiên cứu này cũng hướng đến trở thành dữ liệu cơ sở thực
tiễn để góp phần phát triển ngành lão hóa học và là bài học kinh nghiệm cho các
quốc gia trong quá trình
già hóa dân số.
Bài viết nghiên cứu “An Ecological Framework for Active Aging in China” của tác
giả Ko Pei Chun nhằm điều tra ảnh hưởng của các yếu tố cộng đồng đối với việc
tham gia vào các hoạt động sản xuất (làm việc, chăm sóc cho các cháu, hoạt động
3


tình nguyện, giúp đỡ và chăm sóc không chính thức) của người Trung Quốc lớn tuổi
và chỉ ra thay đổi cấu trúc hộ gia đình và sự phát triển kinh tế nhanh chóng làm nổi
bật tầm quan trọng của việc nghiên cứu sự hội nhập xã hội của người cao tuổi. Phân

CÂU?" đã chỉ ra xu hướng của sự già hóa dân số thế giới cùng với những triển vọng
và thách thức của nó “Mặc dù già hoá dân số tượng trưng cho thành công về các
thành tựu kinh tế, xã hội, y tế và kiểm soát bệnh tật nhưng nó cũng đồng thời cho
thấy những thách thức lớn” Già hóa dân số tạo sức ép lên hệ thống lương hưu và bảo
hiểm cũng như thách thức các mô hình trợ giúp xã hội. Việc này ảnh hưởng đến tăng
trưởng kinh tế, thương mại, di cư, các dạng bệnh tật cũng như các giả định cơ bản
về sự gia tăng người cao tuổi. Sử dụng số liệu của Liên Hợp Quốc, Cục điều tra dân
số Hoa Kỳ và phòng thống kê thuộc Cộng đồng Châu Âu cũng như các cuộc điều tra
khu vực và các tạp chí khoa học, Viện Gìa hoá Quốc gia Hoa Kỳ với sự đóng góp
của các nhà nhân khẩu học, kinh tế học và các chuyên gia về già hoá đã xác định 9
xu hướng bức thiết về vấn đề già hoá toàn cầu. Đây là một quan điểm về các thách
thức và cơ hội cho thấy rõ ràng tại sao già hoá dân số lại mang tính quan trọng tất
yếu.
Trong bài viết “Chương trình người cao tuổi Hàn quốc và những bài học
kinh nghiệm” đã chỉ ra các kết quả của chính sách đối với NCT ở Hàn
Quốc và những mô hình hỗ trợ cuộc sống của NCT “Cung cấp việc làm cho NCT”,
năm 2009 cung cấp được 200.000 việc làm.
- Nhà nước trả lương cho NCT tham gia hướng dẫn, đào tạo nghề.
-

Từ năm 2008 chi trả bảo hiểm y tế cho toàn bộ NCT (65 tuổi

trở lên). Cơ cấu: Nhà nước 62%; địa phương 25%; cá nhân 13%.
-

Trợ cấp cho mỗi NCT cô đơn 88.000 won/tháng; Một cặp vợ

chồng cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa 120.000 won/tháng.
- NCT được hưởng miễn phí các dịch vụ giao thông, vui chơi giải trí,....


thiện (tuần/lần) cho NCT.
Hiện tại ở Hàn Quốc có 5 loại hình chăm sóc NCT :
-

Trung tâm tình nguyện chăm sóc NCT tại nhà. Những cơ sở

tình nguyện chăm sóc này hoàn toàn do các tình nguyện viên thực hiện và
hoàn toàn không nhận lương (hiện tại ở Hàn Quốc có 767 cơ sở). “
Tất cả những nghiên cứu trên của nước ngoài điều nhấn mạnh về những cảnh
báo sự gia tăng về già hóa dân số của từng quốc gia và chỉ ra những hoạch định cho
tương lai của sự già hóa ấy, song chưa thật sự có một chính sách cụ thể nào để xử
dụng phát huy hết vai trò tiềm năng của người cao tuổi cụ thể là lứa tuổi còn sức
khỏe, còn minh mẩn tiếp tục đóng góp cho xã hội và cộng đồng.
2.2. Những nghiên cứu trong nước
Chuyên đề nghiên cứu “Nghiên cứu một số đặc trưng của người cao tuổi Việt
Nam và đánh giá mô hình chăm sóc người cao tuổi đang áp dụng" của Tổng cục
Dân số và kế hoạch hóa gia đình Việt Nam, cho thấy mặc dù trình độ học vấn hay
chuyên môn của người cao tuổi đang ngày được nâng lên theo thời gian và thể hiện
6


rõ qua các nhóm tuổi nhưng thực tế cho thấy vẫn có một số lượng không nhỏ các cụ
vẫn còn mù chữ, đặc biệt là các cụ ở vùng sâu vùng xa, vùng khó khăn. Chính hạn
chế này đã gây nhiều khó khăn cho người cao tuổi khi tham gia vào các hoạt động
xã hội, phát triển kinh tế gia đình.“Mặc dù trình độ học vấn hay chuyên môn của
người cao tuổi đang ngày được nâng lên theo thời gian và thể hiện rõ qua các nhóm
tuổi nhưng thực tế cho thấy vẫn có một số lượng không nhỏ các cụ vẫn còn mù chữ,
đặc biệt là các cụ ở vùng sâu vùng xa, vùng khó khăn. Chính hạn chế này đã gây
nhiều khó khăn cho người cao tuổi khi tham gia vào các hoạt động xã hội, phát triển
kinh tế gia đình. Việc tiếp tục nâng cao trình độ học vấn cho NCT ở nước ta hiện

19,4% NCT chưa bao giờ đi học, 32,4% chưa học hết tiểu học, 17,1% học hết tiểu
học, 15,8% học hết trung học cơ sở, 8,2% học hết trung học phổ thông, 3,9% hoàn
thành trung cấp/đào tạo nghề.” [7]
Trong bài báo “Chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi trong sự nghiệp
đổi mới” đã đưa ra các kết quả tích cực từ sự tham gia hoạt động xã hội của NCT
“sau khi Chủ tịch nước ký lệnh ban hành, Luật Người cao tuổi được dư luận đánh
giá cao. Hàng chục vạn hội viên NCT đã tham gia các tổ hòa giải, tổ an ninh, thanh
tra nhân dân, thuyết phục hòa giải các bất hòa, mâu thuẫn trong dân cư, phát hiện kẻ
xấu, cảm hóa giáo dục người lầm lỗi... Nhiều tổ chức cơ sở Hội ở vùng biên giới đã
phối hợp bộ đội biên phòng giáo dục, động viên nhân dân chống lại âm mưu chia rẽ
dân tộc của các thế lực thù địch, chống xâm canh xâm cư, bảo vệ biên cương. Ở Tây
Nguyên, nhiều già làng, các cụ cao niên đã giáo dục con cháu không nghe lời dụ dỗ
của bọn xấu, không tham gia biểu tình, không vượt biên trái phép, không để mắc
mưu chia rẽ dân tộc. NCT hiện nay vẫn là một lực lượng lao động quan trọng, tham
gia các hoạt động xóa đói, giảm nghèo, thi đua sản xuất, phát triển kinh tế, làm giàu
chính đáng. Năm 2008 tại Hội nghị toàn quốc biểu dương NCT tiêu biểu làm kinh tế
giỏi lần thứ 2, có 224.064 NCT làm kinh tế giỏi ở ba cấp xã, huyện và tỉnh. Năm
2010, qua Hội nghị điển hình tiên tiến ở các cấp, có hơn 300.000 vị được tôn vinh là
NCT làm kinh tế giỏi. Những điển hình làm kinh tế giỏi trong nông, lâm, ngư
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đã góp phần phát triển các hình thái kinh tế hộ, hợp tác,
trang trại, phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ....Các cấp Hội đã xây dựng
chương trình hành động, cùng cán bộ Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các
9


đoàn thể xây dựng các quy ước, hương ước làng văn hóa, Quy chế dân chủ ở cơ sở,
động viên mọi người thực hiện nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, góp phần xây
dựng cụm dân cư, thôn ấp, bản làng văn hóa, tích cực thực hiện công tác khuyến học
khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, tham gia tích cực vào phong trào "Toàn dân
đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”. Qua thực tế hoạt động của Hội

tế xã hội, xóa đói, giảm nghèo được đông đảo hội viên người cao tuổi hưởng ứng
với trên 45.700 người cao tuổi tham gia. Các hội viên cũng tích cực vận động con
cháu, gia đình tự nguyện đóng góp 21.000 ngày công, hiến 97.000 m2 và trên 1,2 tỷ
đồng cho chương trình xây dựng nông thôn mới.”[10]
Bài viết "Người cao tuổi phát huy vai trò trong các hoạt động "cho thấy hoạt
độnghiện nay, trên địa bàn huyện có trên 16 ngàn hội viên người cao tuổi (NCT), đạt
trên 90% so với NCT toàn huyện, đang sinh hoạt tại 138 Chi hội.
Hàng năm, các cấp Hội NCT đều chủ động xây dựng kế hoạch phối hợp tốt với các
ban, ngành, đoàn thể trong các hoạt động tư vấn, chăm sóc sức khỏe, khám chữa
bệnh, phòng chống tội phạm, xây dựng nông thôn mới, bảo vệ môi trường, công tác
thực hiện các chế độ, chính sách đối với NCT”[11]
Bài viết “Nhân rộng mô hình câu lạc bộ Liên thế hệ tự giúp nhau”đã cho
thấy hiệu quả của việc thành lập các câu lạc bộ dành cho NCT Kết quả nghiên cứu
đánh giá về tác động của CLB liên thế hệ tự giúp nhau của Viện Nghiên cứu Y - Xã
hội học (Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam) cho thấy, CLB là mô
hình có tác động toàn diện tới người cao tuổi và cộng đồng. Cụ thể là: thành viên
được vay vốn và chuyển giao khoa học kỹ thuật, có thể tăng 50% thu nhập sau ba
năm, góp phần giảm nghèo cho người cao tuổi và gia đình. Sức khỏe của thành viên
tốt lên do rèn luyện và có kiến thức tự chăm sóc. Đời sống tinh thần được nâng cao,
có cơ hội giao lưu, nâng cao nhận thức. Thúc đẩy sự hiểu biết và hỗ trợ lẫn nhau
giữa các thành viên, các thế hệ, giữa người khó khăn và không khó khăn; gắn kết
tình làng nghĩa xóm, thúc đẩy các phong trào tại cộng đồng và thực hiện tốt luật
pháp, chính sách về người cao tuổi.Hoạt động của CLB còn làm thay đổi cách nhìn
1
1


về người cao tuổi, về sự đóng góp và phát huy nội lực của người cao tuổi; góp phần
làm tốt công tác người cao tuổi. Nhiều chuyên gia trong nước và quốc tế cũng công
nhận CLB liên thế hệ tự giúp nhau là mô hình có tính nhân văn cao, hỗ trợ toàn diện

động hiện tại hoặc các nguồn thu khác (cho thuê nhà, bán đất đai,... ). Bên cạnh đó
cũng có một thực tế hiện đang diễn ra: những người cao tuổi trước đây là công nhân
viên Nhà nước hoặc có mức sống cao, hiện tại có cuộc sống ổn định, con cái lại
được đầu tư ăn học, trưởng thành có nghề nghiệp và thu nhập, đủ sức lo cho bố mẹ.
Trong khi đó, người cao tuổi trước đây là nông dân, lao động tự do, làm thuê,... hiện
tại cuộc sống khó khăn, đa số con cái lại không được học hành tới nơi tới chốn, nghề
nghiệp không ổn định, cuộc sống tiếp tục khó khăn, không thể chăm lo cho bố mẹ.
Những biến đổi trong đời sống gia đình liên quan đến các biến đổi xã hội. Mối quan
hệ giữa bố mẹ và con cái đang ngày càng lỏng lẻo. Quan điểm sống của người cao
tuổi và giới trẻ ngày càng nới rộng khoảng cách. Nếu như ở nông thôn, mối quan hệ
hàng xóm, láng giềng mang tính mở, thì ở đô thị, mối quan hệ này ngày càng bị thu
hẹp.
Người cao tuổi ở đô thị, ngoài các mối quan hệ trong gia đình còn có mối
quan hệ với đồng nghiệp hoặc bạn bè ở các đoàn thể, câu lạc bộ mà mình tham gia.
Nếu trong đời sống vật chất, mức sống của các cụ ở nội thành cao hơn ngoại thành
thì trong đời sống tinh thần, mối quan hệ gia đình, họ hàng, bạn bè, hàng xóm láng
giềng của các cụ ở ngoại thành lại chặt chẽ hơn. Người cao tuổi hiện nay đa số sắp
xếp đời sống gia đình trong một hộ gia đình mở rộng (gồm vợ/ chồng, con và cháu).
Hầu hết các cụ đang sống cùng con trai, trong đó phần lớn là con trai trưởng. Tuy
nhiên cũng không ít người cao tuổi hiện có các hình thức sắp xếp đời sống gia đình
khác như sống riêng (sống một mình, sống với vợ/chồng), sống cùng với cháu, sống
với họ hàng, bạn bè, hàng xóm hoặc nương nhờ các tổ chức tôn giáo, trung tâm bảo
trợ. Đối với người cao tuổi có sự độc lập về kinh tế thì họ có khả năng lựa chọn bất
kỳ một hình thức sắp xếp nào mà mình thích. Còn đối với người cao tuổi không có
thu nhập, thu nhập không ổn định, đa phần họ sống phụ thuộc vào con hoặc sự giúp
1
3


đỡ từ bên ngoài (họ hàng, bạn bè, các tổ chức xã hội). Tác giả Nguyễn Thị Thanh

Ở những nước phát triển các hội đoàn, công tác xã hội hay các dự án thiện
nguyện phù hợp với độ tuổi, chuyên môn và sở thích của người về hưu rất phổ biến.
Người thích công việc giảng dạy có thể tham gia các chương trình giảng dạy, đào tạo
cho cộng đồng nơi mình ở hay vùng lân cận. Người có chuyên môn kỷ thuật, luật sư,
bác sĩ, các ngành khoa học xã hội khác có thể tham gia các dự án thiện nguyện ở các
vùng, các nước kém phát triển, hay viết để chia sẽ với cộng đồng. Chẳng hạn như tôi
có biết một nhóm các bác sĩ, dược sĩ gốc Việt ở Pháp và bạn bè người Pháp của họ
từ nhiều năm nay có các thiện nguyện ở Việt Nam, trong đó nhiều người đã về hưu.
Nhiều trường đại học ở những nước này cũng có các chương trình đào tạo
riêng cho người về hưu. Có những người trước đây vì lý do nào đó không theo được
chương trình đại học, giờ ở tuổi về hưu, họ có thể theo học một chương trình mà
mình yêu thích, không chỉ tốt về mặt trí tuệ, sức khỏe, mà còn là một nguồn động
viên lớn lao cho con cháu của họ. Bên cạnh đó, với sự phát triển nhanh chóng của
Internet, các chương trình học trực tuyến cũng phù hợp cho người về hưu để phát
triển một kiến thức hay kỷ năng mới, hoặc học thêm một lĩnh vực nghệ thuật như vẽ
tranh, điêu khắc, tạc tượng, sáng tác...
Trong khi đó, ở các đô thị của Việt Nam, người về hưu dường như có rất ít sự
lựa chọn các hoạt động cho tuổi hưu của mình. Nhiều người về hưu không biết làm
gì ngoại trừ việc tập thể dục hằng ngày, làm việc nhà, giữ cháu, thỉnh thoảng đi du
lịch.
Điều này có nguyên nhân từ việc ở Việt Nam rất thiếu môi trường để người
về hưu có thể tiếp tục làm việc, học tập, đóng góp cho cộng đồng. Hệ thống các thư
viện công cộng các cơ sở văn hóa nghệ thuật có chức năng đào tạo liên tục, phù hợp
với người cao tuổi là rất hiếm, ngay cả ở các thành phố lớn. Các câu lạc bộ hưu trí
có nhiều nhưng hoạt động lại không mang tính chuyên biệt như các hội có chung
một mục đích tôn chỉ, do vậy mức độ hấp dẫn không cao. Các chương trình, dự án

1
5





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status