BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
o0o VÕ THÀNH TÂM TÁC ĐỘNG CỦA DI CƯ LAO ĐỘNG
ĐẾN CHẤT LƯỢNG SỐNG CỦA
NGƯỜI CAO TUỔI CÒN Ở LẠI:
NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI MỘT
SỐ HUYỆN CỦA TỈNH LONG AN LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS. DWIGHT PERKINS
ThS. ĐINH VŨ TRANG NGÂN Thành Phố Hồ Chí Minh - 2014
i
LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện. Các đoạn trích dẫn và số liệu sử
dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu
biết của tôi. Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh
tế Thành phố Hồ Chí Minh hay Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright.
TP. Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 06 năm 2014
Võ Thành Tâm
ii
LỜI CẢM ƠN
xem xét tác động của di cư lao động đến chất lượng sống của người cao tuổi còn ở lại.
Nội dung chính của nghiên cứu xoay quanh việc đánh giá mức độ hài lòng về 6 nhóm yếu
tố hình thành nên chất lượng sống của những người cao tuổi còn ở lại trong các hộ gia đình
có lao động di cư và phân tích các tác động của di cư đến sáu nhóm yếu tố đấy. Nghiên cứu
này sử dụng phương pháp phân tích định tính. Các thông tin sơ cấp và thứ cấp được phân
tích thống kê và so sánh các kết quả với nhau.
Kết quả nghiên cứu cho thấy những yếu tố chất lượng sống của người cao tuổi còn ở lại
cần được quan tâm theo thứ tự ưu tiên là (1) yếu tố tâm lý, (2) yếu tố quan hệ xã hội, (3)
yếu tố sức khoẻ, (4) yếu tố niềm tin, (5) yếu tố kinh tế và (6) là yếu tố môi trường sống.
Ngoài ra, kết quả so sánh tác động của di cư đến chất lượng sống cũng cho thấy di cư lao
động cũng có tác động tích cực và tiêu cực đối với những người cao tuổi còn ở lại. Nếu
người di cư có những hành động thể hiện sự quan tâm chăm sóc người cao tuổi cũng sẽ
giúp cho người cao tuổi cải thiện về kinh tế, có thêm niềm vui, giảm đi cảm giác cô độc và
cảm nhận rõ sự kính trọng của con cháu khi nghe những lời khuyên về kinh nghiệm sống
của mình.
Từ kết quả phân tích, nghiên cứu đưa ra một số gợi ý chính sách liên quan như (1) nâng
cao vai trò người cao tuổi trong cộng đồng, (2) thay việc chăm sóc cha mẹ của NDC bằng
việc chăm sóc của cộng đồng xã hội (3) nâng cao vai trò chăm sóc cha mẹ của con cái để
con cái hiểu được đó không chỉ là trách nhiệm mà còn là nghĩa vụ phải thực hiện và (4) ở
cấp độ vĩ mô, chính sách kinh tế của Long An nên hướng đến các ngành nghề có năng lực
cạnh tranh cao nhằm tận dụng nguồn lao động của tỉnh.
iv
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
2.2. Khung phân tích của nghiên cứu 8
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 11
3.1. Đặc điểm di cư lao động của tỉnh Long An 11
3.2. Đặc điểm của mẫu thu về 13
3.2.1. Đặc điểm người cao tuổi trong mẫu 13
3.2.2. Đặc điểm lao động di cư trong mẫu 15
3.2.3. Đặc điểm NCT trong mẫu khảo sát phỏng vấn sâu 18
3.3. So sánh mức độ hài lòng về chất lượng sống của NCT còn ở lại 18
3.3.1. Về sức khoẻ thể chất 18
3.3.2. Về quan hệ xã hội 19
3.3.3. Về tình trạng kinh tế 21
3.3.4. Về môi trường sống 22
v
3.3.5. Về tâm lý 24
3.3.6. Về niềm tin 25
4.3. Những hạn chế của nghiên cứu 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
PHỤ LỤC a vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Từ viết tắt Tên tiếng Anh Tên tiếng Việt
ADB Asian Development Bank Ngân hàng phát triển Châu Á
CLS Chất lượng sống
ĐBSCL Đồng Bằng Sông Cửu Long
IOM International Organization for Migration Tổ chức di cư quốc tế
NCT Người cao tuổi
NDC Người di cư
TPHCM Thành phố Hồ Chí Minh
UBND Uỷ ban nhân dân
UN United Nations Liên Hợp Quốc
UNFPA United Nations Population Fund Quỹ dân số Liên Hợp Quốc
WHO World Health Organization Tổ chức y tế thế giới
WHO-QOL World Health Organization – Quality of life
Chất lượng sống theo Tổ chức y
tế Thế giới
Từ khoá: Di cư, di cư lao động, chất lượng sống, người cao tuổi còn ở lại, Long An, sức
khoẻ, quan hệ xã hội, kinh tế, môi trường, tâm lý, niềm tin.
Hình 3.14 CLS của NCT còn ở lại theo giới tính của NDC 28
Hình 3.15 Mức độ hài lòng trung bình về yếu tố CLS theo giới tính của NDC 29
Hình 3.16 Chất lượng sống của NCT theo mối quan hệ với NDC 30
Hình 3.17 Chất lượng sống của NCT theo trình độ và tính chất công việc của NDC 31
Hình 3.18 Đánh giá trung bình các nhóm yếu tố CLS theo trình độ của NDC 31
Hình 3.19 Đánh giá trung bình yếu tố CLS theo tình trạng hôn nhân của NDC 32
Hình 3.20 Chất lượng sống của NCT theo tình trạng hôn nhân của NDC 33
Hình 3.21 Chất lượng sống của NCT theo mức độ về thăm hỏi của NDC 33
Hình 3.22 Đánh giá trung bình yếu tố CLS theo mức độ về thăm của NDC 34
Hình 3.23 Chất lượng sống của NCT theo mức độ gửi tiền về của NDC 35
Hình 3.24 Đánh giá trung bình yếu tố CLS theo mức độ gửi tiền về của NDC 36
ix
DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 1. Địa phương thu thập thông tin a
Phụ lục 2. Phương pháp thiết kế bảng câu hỏi c
Phụ lục 3. Phương pháp thu thập và phân tích số liệu d
Phụ lục 4. Bảng câu hỏi phỏng vấn nhanh về chất lượng sống của NCT f
Phụ lục 5. Bảng câu hỏi phỏng vấn sâu về chất lượng sống của NCT n
mạnh. Nhóm người cao tuổi (NCT), trẻ em còn ở lại thường là cha mẹ và con cái của
những người di cư phải đối mặt với khó khăn trong cuộc sống khi nguồn thu nhập của họ
chủ yếu đến từ lao động di cư. Người cao tuổi thường dựa vào con cái về tài chính và sự
chăm sóc cá nhân, tỷ lệ hỗ trợ từ con cái đối với người cao tuổi là 32%
1
Tỷ lệ người di cư rời làng quê hiện nay có xu hướng tăng. Thực tế khách quan cho thấy khi
xã hội càng phát triển thì lao động trẻ sẽ có xu hướng rời làng quê lên thành thị để tìm
kiếm cơ hội làm việc và học tập, làng quê sẽ chỉ còn cha mẹ và con cái của họ. Nguyên
nhân thu hút người di cư (NDC) vào các khu đô thị lớn là do quá trình đô thị hoá tạo ra
“lực hút” đối với người những người trẻ. Các khu đô thị lớn ở Việt Nam như Hà Nội và
TPHCM ngày càng thu hút nguồn lao động từ nông thôn ra thành thị. Họ thường di cư với
nục đích chính là nhằm tối đa hoá phúc lợi cho gia đình, tìm kiếm cơ hội mới để tăng thu
nhập, cải thiện cuộc sống. Tỷ suất di cư sẽ giảm dần theo độ tuổi tăng dần và nhóm tuổi trẻ
20-34 tuổi thường là thành phần tích cực trong di cư
2
.
Bảng 1.1 Sắp xếp cuộc sống của người cao tuổi Việt Nam từ năm 1992 đến 2008
Nguồn: UNFPA, Già hoá dân số và người cao tuổi ở Việt Nam, 2011
1
Tổng cục thống kê Việt Nam (2011), Điều tra về NCT Việt Nam (VNAS)
2
Nguyễn Nam Phương (2011)
-2-
Tỷ lệ người cao tuổi còn ở lại làng quê hiện nay cũng đang có xu hướng tăng. Tình trạng
người trẻ rời làng quê lên thành thị càng nhiều nên làm tăng tỷ lệ người cao tuổi sống cô
đơn ở nông thôn. Tỷ lệ NCT sống cô đơn tăng từ mức 3.47% năm 1993 lên mức 6.14%
3
UNFPA (2011)
-3-
cư của Long An năm 2012 vào khoảng -2.8‰, trong đó tỷ suất xuất cư vào khoảng 7.5‰
cao hơn nhiều so với các vùng trong cả nước và đa số người xuất cư đều trong độ tuổi lao
động
4
.
Chính vì thế nghiên cứu“Tác động của di cư lao động đến chất lượng sống của người cao
tuổi còn ở lại: nghiên cứu trường hợp tại một số huyện của tỉnh Long An” với mong muốn
tìm hiểu những tác động của di cư lao động đến CLS của những NCT còn ở lại làng quê và
chọn Long An là một trường hợp cụ thể để xem xét.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu thuộc lĩnh vực chính sách phát triển liên quan đến chất lượng dân số và di cư.
Nghiên cứu này nhằm vào hai mục tiêu. Thứ nhất là xem xét mức độ hài lòng về CLS của
NCT còn ở lại trong các hộ gia đình có lao động di cư về các nhóm yếu tố hình thành nên
CLS. Thứ hai là phân tích các đặc điểm người di cư có tác động như thế nào đến CLS của
nhóm đối tượng nghiên cứu để tìm ra chính sách phù hợp.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
Thứ nhất, chất lượng sống của người cao tuổi còn ở lại trong các hộ gia đình có lao động
di cư hiện nay và những tác động của di cư lao động đến chất lượng sống của người cao
tuổi còn ở lại là gì? Để trả lời câu hỏi thứ nhất, người nghiên cứu thu thập thông tin đánh
giá sự hài lòng về 6 nhóm yếu tố hình thành chất lượng sống của những NCT trong các hộ
có và không có lao động di cư. Sử dụng các đặc điểm của NDC trong hộ để xem xét sự tác
động lên 6 nhóm yếu tố hình thành chất lượng sống của NCT còn ở lại và rút ra kết luận về
sự tác động.
Thứ hai, những gợi ý chính sách để cải thiện chất lượng sống cho nhóm NCT còn ở lại?
Câu hỏi thứ ba được trả lời dựa trên kết luận rút ra từ câu trả lời của câu hỏi thứ nhất.
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-5-
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH
Chương 2 trình bày các lý thuyết về kết quả của dòng di cư lao động đến những người còn
ở lại cũng như lý thuyết về NCT và chất lượng sống. Từ đó, nghiên cứu hình thành khung
phân tích bao gồm sáu nhóm yếu tố chính tạo nên chất lượng sống của NCT còn ở lại
trong các hộ gia đình có lao động di cư.
2.1. Tổng quan lý thuyết
2.1.1. Tác động của di cư lao động đến nơi xuất cư
Thuật ngữ “di cư” là một quá trình xuất cư và nhập cư của một hoặc một nhóm người từ
khu vực này sang khu vực khác kèm theo việc thay đổi nhân khẩu của vùng
5
. Nếu di cư
hoàn toàn được xác định bằng sự di chuyển của tất cả thành viên trong hộ, tất cả công việc
và tài sản từ nơi cũ sang nơi mới thì di cư lao động được thể hiện ở sự chuyển đổi nơi làm
việc của người lao động từ nơi cư trú cũ sang nơi cư trú mới nhưng không bao gồm tài sản
và các thành viên của hộ
6
.
Những tác động của di cư lao động đối với nơi xuất cư thể hiện ở nhiều khía cạnh về dân
số, kinh tế, xã hội và đặc biệt là những người phụ thuộc còn ở lại.
Thứ nhất về khía cạnh dân số, một trong những tác động đó là thay đổi cơ cấu nhân khẩu
xã hội nơi xuất cư và sự biến động cơ cấu tuổi theo chiều hướng làm “già hoá” cư dân
vùng xuất cư. Ngoài ra, di cư còn tạo ra những gánh nặng áp đặt lên các thành viên còn ở
lại trong hộ gia đình trong đó có trẻ em và NCT. Chi phí xã hội và tác động tâm lý từ sự xa
cách của các thành viên trong gia đình, những gánh nặng của việc di cư cho các thành viên
trong gia đình và trẻ em còn ở lại là rất lớn
7
thể có lợi cho cả NDC và người ở lại
10
. Di cư thường kết hợp với công nghiệp hoá và đô
thị hoá có thể làm cho NCT còn ở lại ít bị ảnh hưởng về cuộc sống hơn
11
.
Như vậy, di cư lao động nói riêng và di cư nói chung đều gây nên sự biến đổi cơ cấu nhân
khẩu kinh tế và xã hội gây nên những tác động tích cực và tiêu cực đến cả nơi dân cư
chuyển đi và nơi dân cư chuyển đến.
2.1.2. Những đặc điểm của người cao tuổi
Khái niệm về NCT có sự khác nhau giữa các nước. Nghiên cứu này sẽ thống nhất NCT là
người có tuổi từ đủ 60 tuổi trở lên theo Luật người cao tuổi năm 2011 của Việt Nam và
chia NCT thành 3 nhóm theo đặc trưng dân số Việt Nam, bao gồm nhóm 1 từ 60-69 tuổi,
nhóm 2 từ 70-79 tuổi và nhóm 3 từ 80 tuổi trở lên.
Những đặc điểm mà NCT cần được quan tâm là sức khoẻ thể chất, tâm lý, tình cảm, sức
khoẻ tinh thần và đời sống vật chất.
Trước tiên là các vấn đề về sức khoẻ thể chất. Hai nhóm bệnh chính mà NCT thường mắc
phải là bệnh thông thường và các bệnh mãn tính kéo dài
12
. Già hoá là cơ hội cho các tác
nhân gây hại bên ngoài xâm nhập dễ dàng vào cơ thể để gây bệnh.
9
Qin, M. et al. (2008)
10
Espinosa (1977)
11
Masson (1992)
12
Dương Huy Lương (2010)
Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO) thì chất lượng sống là khái niệm rộng dùng để đánh giá
tổng thể các mức độ tốt đẹp của cuộc sống đối với các cá nhân và xã hội. WHO đã tổng
hợp và đưa ra bộ công cụ đo lường chất lượng sống “WHOQOL-100” vào năm 1995 với
100 câu hỏi về mức độ hài lòng về chất lượng sống bao gồm 6 nhóm: sức khoẻ thể chất,
quan hệ xã hội, kinh tế, môi trường, tâm lý và niềm tin. Bộ công cụ này được thiết kế khá
đầy đủ và thường được sử dụng để đánh giá chất lượng sống tại các quốc gia.
13
Dương Huy Lương (2010)
14
Dương Huy Lương (2010)
15
Tổng cục thống kê Việt Nam (2012)
-8-
Hình 2.1 Hệ thống đánh giá chất lượng sống của Oklahoma
Nguồn: The University of Oklahoma School of Social Work, 1981
Quan niệm về CLS của NCT ở Việt Nam được các tác giả Lê Thị Hải Hà, Nguyễn Thái
Quỳnh Chi và Nguyễn Hoàng Phương thực hiện nghiên cứu năm 2009 và kết luận 6 nhóm
yếu tố hình thành nên CLS đặc trưng cho NCT ở Việt Nam. Trong mỗi nhóm yếu tố sẽ bao
gồm tập hợp những nhân tố chủ yếu hình thành nên chất lượng sống.
2.2. Khung phân tích của nghiên cứu
Chất lượng sống là một khái niệm rộng, trong giới hạn của nghiên cứu chỉ xem xét trên sáu
nhóm yếu tố về kinh tế, sức khoẻ, quan hệ xã hội, tâm lý, môi trường và niềm tin. Các
nhóm yếu tố được người nghiên cứu tổng hợp từ các nghiên cứu trước và tình hình thực tế
tại địa phương.
Thứ nhất, nhóm yếu tố kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với yếu tố quan hệ xã hội, sức
khoẻ, tâm lý và niềm tin. Nghiên cứu này sẽ bổ sung về sự phụ thuộc tài chính, sự đáp ứng
nhu cầu sống cơ bản hàng ngày, ăn những món ưa thích.
Nguồn: Tác giả tự vẽ
-11-
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 3 phân tích những kết quả từ cuộc khảo sát để tìm hiểu thực trạng chất lượng
sống của những người cao tuổi còn ở lại. Các nội dung phân tích bao gồm đặc điểm đối
tượng của mẫu khảo sát, những kết quả thống kê về chất lượng sống và những phân tích về
đặc điểm của những người di cư tác động vào chất lượng sống của NCT còn ở lại.
3.1. Đặc điểm di cư lao động của tỉnh Long An
Tình trạng di cư lao động của tỉnh Long An có xu hướng giảm dần nhưng vẫn còn ở mức
cao qua nhiều năm. Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động chiếm 60% dân số trung bình của
tỉnh. Trong khi đó tỷ suất xuất cư luôn cao hơn tỷ suất nhập cư từ 2‰ đến 4‰ chứng tỏ
việc người lao động di cư vẫn tiếp tục diễn ra. Tỷ suất nhập cư của Long An năm 2012
khoảng 4.7‰ thấp hơn so với nhiều vùng. Ngược lại, tỷ suất xuất cư của tỉnh năm 2012
khoảng 7.5‰ cao hơn so với nhiều vùng. Nguyên nhân là do tỉnh tiếp giáp với các địa
phương có nền kinh tế phát triển như TPHCM và Bình Dương nên khả năng thu hút và
cạnh tranh nguồn lao động của Long An không cao. Điều này cho thấy Long An cần xem
xét về tình trạng di cư để có những chính sách thích hợp cho các nhóm đối tượng có liên
quan như người di cư, cha mẹ và con cái của họ.
Bảng 3.1 Thay đổi dân số và lao động qua các năm của tỉnh Long An
Năm
2005
2007
2008
846
854
842
898
Tỷ lệ tăng dân số (%)
0.81
0.91
0.73
0.56
0.46
0.49
0.57
Tỷ suất nhập cư (‰)
2.6
4.6
3.8
-4
-3.5
-3.9
-2.8
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam, 2012
Xu hướng thay đổi cấu trúc hộ gia đình hiện nay
Những năm gần đây, khi xã hội càng phát triển, đời sống người dân được nâng lên rõ nét
xu hướng sinh ít con ngày càng tăng và cấu trúc hộ gia đình cũng thay đổi khá nhiều. Vì
-12-
thế, một trong những tác động về mặt xã hội của sự phát triển kinh tế là quan hệ của mọi
người thiên về lợi ích kinh tế hơn, mức sinh giảm và gia đình càng phân hoá hơn
16
.
Cơ cấu quy mô hộ gia đình Việt Nam từ cấu trúc đại gia đình truyền thống (từ 6 người trở
lên) với nhiều thế hệ đang giảm dần và chuyển sang sang gia đình hạt nhân 2 thế hệ. Kết
quả nghiên cứu của Lê Văn Duỵ về sự thay đổi về quy mô hộ gia đình Việt Nam cho thấy
quy mô hộ gia đình Việt Nam càng giảm dần, tỷ lệ sinh giảm và mô hình gia đình truyền
thống ngày càng không còn phổ biến cũng như mức độ độc thân ngày càng gia tăng. Quy
mô hộ bình quân năm 1994 là 4.8 người/hộ giảm xuống còn 3.7 người/hộ vào năm 2007.
Quy mô hộ có 5 người trở lên có xu hướng giảm từ 52.3% vào năm 1994 xuống còn 34.1%
năm 2007, trong khi hộ có từ 1 – 4 người có xu hướng tăng.
Bảng 3.2 Cơ cấu hộ theo quy mô hộ (Đơn vị tính: %)
Quy mô hộ (người)
5+ 52.3
45.0
34.1
Quy mô bình quân
4.8
4.0
3.7
Nguồn: Lê Văn Duỵ, 2009
Các vùng đều có mức giảm quy mô hộ ở mức 0.3 người/hộ sau 8 năm chứng tỏ cấu trúc hộ
gia đình đang thay đổi. Vùng đồng bằng sông Cửu Long có mức giảm từ 4.1 người/hộ
xuống 3.8 người/hộ
17
.
Cấu trúc hộ gia đình thay đổi theo với sự phát triển của xã hội nhưng cũng tạo ra những tác
động tiêu cực. Tác động cụ thể khi gia đình bị thu hẹp làm cho các thành viên trong gia
đình có xu hướng cá nhân hơn làm khoảng cách giữa các thế hệ gia tăng, mất đi sự quan
tâm chia sẻ lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình.
Vài năm gần đây, Long An có tỷ suất xuất cư cao và quy mô hộ gia đình thu hẹp theo xu
hướng chung của cả nước. Trong năm 2009, Long An có 29% hộ gia đình có 4 thành viên,
trong khi hộ từ 7 người trở lên chỉ chiếm 5% cho thấy thành viên trong hộ ít và hẹp dần.
Khi dân số cả nước có khuynh hướng già hoá do mức sinh giảm (tỷ suất sinh thô CBR
giảm từ 17.6 ‰ năm 2009 xuống 16.9 ‰ năm 2012) và tuổi thọ tăng (từ 72 tuổi năm 2009
hiện nay vào khoảng 74 tuổi
18
.
Về trình độ học vấn, đa số các đối tượng có trình độ chủ yếu ở cấp tiểu học chiếm đến 46
người (35.4%), cấp trung học cơ sở 30 người (23.1%) và biết đọc viết chiếm 26 người
(20%).
Về ngành nghề, có đến 67 người (51.5%) từng làm nghề nông (trong đó có 55 đối tượng
thuộc nhóm nghiên cứu và 12 đối tượng thuộc nhóm còn lại), khoảng 27.7% (36 người)
từng làm tiểu thương (có đến 31 trong tổng 37 đối tượng thuộc nhóm nghiên cứu). Số ít
các đối tượng đã từng làm công nhân và các ngành nghề khác. Ngành nghề của họ chủ yếu
là nông nghiệp, điều này có liên quan nhiều đến trình độ và cơ cấu kinh tế của địa phương
chủ yếu là nông nghiệp và thủ công nghiệp.
Về đất canh tác của hộ, chỉ có 42 đối tượng (32.3%) có đất canh tác trong mẫu khảo sát.
Các đối tượng còn lại đều trả lời gia đình không có đất canh tác, đa số họ lúc còn trẻ đều
thuê mướn ruộng vườn để canh tác hoặc làm các ngành nghề chăn nuôi tại chính hộ gia
đình. Diện tích đất canh tác chỉ tập trung vào một số hộ gia đình có đất đai tổ tiên để lại.
Tuy nhiên, theo đa số ý kiến của các đối tượng thì diện tích đất canh tác của các hộ đều có
xu hướng giảm và mất dần do sự phát triển của các khu công nghiệp, chuyển cơ cấu kinh tế
của vùng hoặc do gia đình bán đi để xoay xở các việc cần thiết.
Về thu nhập hiện tại, có đến 87 người (66.9%) có thu nhập dưới 3 triệu/tháng (trong đó có
71 người (54.6%) thuộc nhóm nghiên cứu và 16 người (12.3%) thuộc nhóm đối chứng). Tỷ
lệ NCT có thu nhập từ 4 triệu/tháng trở lên rất thấp, chiếm 3.8% trong tổng số. Đặc biệt,
nhóm đối tượng nghiên cứu có sự tập trung khá lớn số người có thu nhập dưới 3 triệu (71
người trong 100 người), trong khi nhóm đối chứng chỉ chiếm 16 người trong tổng 30
người. Điều này cho thấy thu nhập của nhóm nghiên cứu đang ở mức thấp và có thể ảnh
hưởng đến đời sống kinh tế cũng như sức khoẻ của họ so với nhóm còn lại.
Cuối cùng là tình trạng gia đình, có đến 50 người (38.5%) đang sống với vợ hoặc chồng
(trong đó có 38 người thuộc nhóm nghiên cứu và 12 người thuộc nhóm còn lại). Con số 30
người (23.1%) là số đối tượng đang sống cùng cháu, có đến 21 người trong số này thuộc
nhóm đối tượng có NDC. Điều này cho thấy, có một tỷ lệ nhất định lao động di cư để lại