ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐINH THỊ GIANG NHỮNG RÀO CẢN ĐỐI VỚI VIỆC TIẾP CẬN
DỊCH VỤ Y TẾ CỦA LAO ĐỘNG NHẬP CƢ
Ở KHU CÔNG NGHIỆP
(Nghiên cứu trường hợp tại Khu công nghiệp Bắc Thăng Long,
xã Kim Chung, huyện Đông Anh, Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
phòng đào tạo sau đại học, đặc biệt là PGS.TS. Phạm Văn Quyết đã trực tiếp
hướng dẫn, dìu dắt, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình triển khai, nghiên cứu
và hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô giáo - Các nhà khoa học đã trực
tiếp giảng dạy truyền đạt những kiến thức khoa học chuyên ngành xã hội học
cho bản thân tác giả trong những năm tháng qua.
Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cán bộ trạm y tế xã, người dân thường
trú, nhóm công nhân nhập cư, nhóm buôn bán nhỏ/bán hàng rong, nhóm xe
ôm tại xã Kim Chung, huyện Đông Anh, Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận
lợi giúp tác giả thu thập thông tin, tìm hiểu số liệu cũng như những tài liệu
nghiên cứu cần thiết liên quan tới đề tài tốt nghiệp.
Cuối cùng, em muốn gửi lời cảm ơn đến tất cả bạn bè, và đặc biệt là gia
đình, những người luôn kịp thời động viên khuyến khích và cảm thông sâu
sắc. Nhân đây tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu đậm.
Xin chân thành cảm ơn!
1
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1. Lý do chọn đề tài 5
2. Ý nghĩa nghiên cứu 6
2.1. Ý nghĩa khoa học 6
2.2. Ý nghĩa thực tiễn 7
3. Tổng quan nghiên cứu 7
1.2.2 Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý 25
1.2.3 Lý thuyết lực hút – đẩy 27
1.2.4 Một số lý thuyết xã hội học sức khỏe và y tế 29
1.3 Quản lý nhà nƣớc đối với lao động nhập cƣ trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Hà Nội 33
1.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 35
Chƣơng 2: TIẾP CẬN VÀ SỬ DỤNG CÁC DỊCH VỤ Y TẾ CỦA LAO
ĐỘNG NHẬP CƢ 37
2.1 Đặc điểm của lao động nhập cƣ tại xã Kim Chung, huyện Đông Anh,
Hà Nội 37
2.2 Việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ Y tế của lao động nhập cƣ 41
Chƣơng 3: NHỮNG KHÓ KHĂN ĐỐI VỚI VIỆC TIẾP CẬN DỊCH VỤ Y TẾ
49
3.1 Những rào cản từ phía ngƣời lao động và gia đình 49
3.2 Những rào cản từ phía cộng đồng, xã hội 66
KẾT LUẬN 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 85
3
TỪ VIẾT TẮT
4
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.3: Đặc điểm cơ bản của xã Kim Chung
Bảng 2.4: Loại hình công việc chính của công nhân nhập cư theo giới tính (%)
Hình 2.5: Đặc điểm của nhóm công nhân nhập cư (%)
Bảng 2.6: Loại hình dịch vụ y tế công nhân nhập cư thường xuyên sử dụng (%)
Bảng 2.7: Loại hình dịch vụ y tế công nhân nhập cư thường xuyên sử dụng, chia theo
trình độ học vấn (%)
Hình 2.8: Cơ sở y tế con/cháu công nhân nhập cư thường đi khám chữa bệnh (%)
Hình 2.9: Các chế độ y tế con/cháu dưới 6 tuổi công nhân được hưởng (%)
Bảng 2.10: Mức độ sử dụng dịch vụ y tế tại nhà máy, xí nghiệp của công nhân
nhập cư (%)
Bảng 2.11: Đánh giá của công nhân chất lượng dịch vụ y tế nhà máy, xí
nghiệp (%)
Bảng 3.12: Loại hình dịch vụ y tế công nhân nhập cư thường xuyên sử dụng,
chia theo thu nhập (%)
Bảng 3.13: Tỷ lệ công nhân nhập cư cho biết phương án điều trị khi bị bệnh,
chia theo giới tính và tình trạng hôn nhân (%)
Bảng 3.14: Tỷ lệ công nhân nhập cư cho biết phương án điều trị khi bị bệnh,
chia theo thu nhập (%)
Bảng 3.15: Đánh giá về cơ sở hạ tầng y tế dịch vụ công của công nhân nhập
cư (%)
hết sức quan trọng của ngành y tế, là một trong những mục tiêu chính nhằm
đảm bảo tính công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân tiến tới đảm bảo
công bằng về an sinh xã hội. Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta thì
điều cơ bản để đảm bảo công bằng trong CSSK là phải đảm bảo công bằng
trong tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế của người dân, đặc biệt là những lao
6
động nhập cư. Chủ đề nghiên cứu về việc tiếp cận dịch vụ xã hội của nhóm
lao động nhập cư thu hút được sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu. Tuy
nhiên cụ thể về dịch vụ y tế của nhóm lao động nhập cư mới tiếp cận ở vài
khía cạnh tiếp cận, sử dụng dịch vụ y tế của nhóm lao động nhập cư, chưa có
sự chuyên sâu tìm hiểu cụ thể những rào cản việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ
y tế của lao động nhập cư ở khu công nghiệp.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu
“Những rào cản đối với việc tiếp cận dịch vụ y tế của lao động nhập cư ở khu
công nghiệp”. Trong bối cảnh hiện nay, quá trình phát triển kinh tế toàn cầu
đã tác động việc tiếp cận các dịch vụ y tế của nhóm lao động nhập cư hiện
nay như thế nào? Qua nghiên cứu tìm hiểu những rào cản đối với việc tiếp cận
dịch vụ y tế của lao động nhập cư?
2. Ý nghĩa nghiên cứu
2.1. Ý nghĩa khoa học
- Đề tài góp phần bổ sung tài liệu, làm phong phú hơn những nghiên
cứu về đời sống, việc làm, tiếp cận các dịch vụ xã hội của lao động nhập cư.
- Cung cấp những số liệu cần thiết về việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ
y tế của lao động nhập cư ở khu công nghiệp, làm tài liệu cơ sở cho những đề
tài nghiên cứu sâu hơn về chủ đề lao động nhập cư.
- Nghiên cứu này được tiến hành thông qua việc vận dụng một số khái
niệm như: dịch vụ, dịch vụ y tế, di cư, lao động nhập cư…. Các lý thuyết
được sử dụng trong nghiên cứu như lý thuyết sự lựa chọn hợp lý, lý thuyết về
lực hút – đẩy, lý thuyết hành động xã hội và một số lý thuyết về xã hội học y
1
PGS.TS. Nguyễn Đình Long, công tác tại Viện CSCL Bộ Nông nghiệp và PTNT, lĩnh vực nghiên cứu
chính: Chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn
2
TS. Nguyễn Thị Minh Phượng, công tác tại Đại Học Vinh
8
vượt quá khả năng kiểm soát và sự quá tải của hệ thống kết cấu hạ tầng và
dịch vụ xã hội.
Tuy nhiên, việc có quá đông người nhập cư cũng gây ra những áp lực
nhất định về vệ sinh môi trường, giáo dục, y tế và an ninh trật tự tại các điểm
đến. Lượng người nhập cư ngày một tăng trong khi cơ sở vật chất, nhân lực
không đáp ứng kịp cũng gây ra tình trạng quá tải tại các trường học, cơ sở y
tế. Tệ nạn xã hội (trộm cắp, nghiện hút) tăng lên trong những năm gần đây
cũng được cho là hệ lụy của lượng người nhập cư tăng nhanh
3
.
Theo nghiên cứu của UNFPA về “Tận dụng cơ hội dân số “vàng‟ ở
Việt Nam: Cơ hội, thách thức và các gợi ý chính sách” cho thấy, dịch chuyển
lao động thông qua di cư, đặc biệt là lao động trẻ tuổi, sẽ tạo động lực phát
triển kinh tế, góp phần giảm nghèo nhanh và bền vững. Lao động di cư trong
thanh niên tăng nhanh, nhưng các chính sách lao động, việc làm và các dịch
vụ xã hội liên quan còn nhiều bất cập, đặc biệt các chính sách về thu nhập,
nâng cao kỹ năng và tay nghề. Khả năng tiếp cận với các dịch vụ an sinh xã
hội của nhóm lao động di cư - nhóm lao động dễ tổn thương nhất trước các cú
sốc kinh tế còn rất thấp. Khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế của các nhóm dân
số rất khác nhau, trong đó người nghèo, người dân tộc thiểu số và người di cư
ít có khả năng tiếp cận hơn.
chiếm tỷ trọng lớn trong số thanh niên di cư nên việc cung cấp các dịch vụ
sức khỏe sinh sản cho nữ thanh niên di cư nhằm bảo vệ họ trước các rủi ro
sức khỏe không đáng có là điều rất cần thiết.
Theo báo cáo “Theo dõi nghèo đô thị theo phương pháp cùng tham gia
vòng 4” của Oxfam và AAV (2011), người nghèo đô thị bao gồm cả người
bản xứ và người nhập cư, gặp nhiều bất lợi khi đối mặt với đa cú sốc, điển
hình là lạm phát cao trong năm 2011. Giá cả tăng đã làm giảm sức mua, giảm
chất lượng cuộc sống nhất là về dinh dưỡng và sức khỏe, giảm tiếp cận dịch
vụ công, làm trầm trọng thêm các khó khăn cố hữu của người nghèo. Giá cả
tăng cũng làm giảm mạnh tiền tiết kiệm và tiền gửi về nhà, gây bất ổn nghề
10
nghiệp và căng thẳng trong quan hệ lao động của người nhập cư. Liên kết
nông thôn - thành thị rất quan trọng với giảm nghèo nông thôn, do đó khó
khăn của người nhập cư sẽ ảnh hưởng bất lợi đến giảm nghèo bền vững trên
bình diện cả nước.
Nhìn chung, đã có nhiều các công trình nghiên cứu về nhóm đối tượng
lao động nhập cư. Trên đây là một số công trình nghiên cứu về thực trạng của
di cư từ nông thôn lên thành thị, những thuận lợi và khó khăn của lao động
nhập cư, đặc điểm của nhóm lao động nhập cư, mức độ tiếp cận của họ đối với
hệ thống an sinh xã hội, cơ sở hạ tầng tại các điểm đến. Đây là nguồn tài liệu
giúp tác giả có thể tiếp thu, kế thừa khi xây dựng cơ sở lý luận và quá trình
thực tiễn nghiên cứu để hoàn thiện luận văn của mình.
3.2. Những nghiên cứu về dịch vụ y tế của lao động nhập cư
Báo cáo “Sức khỏe Sinh sản cho Lao động nhập cư” của UNFPA
(2008) nhận thấy, hiểu biết của công nhân về sức khỏe sinh sản có nhiều hạn
chế, thậm chí nhiều đối tượng phỏng vấn chưa từng nghe tới cụm từ sức khỏe
sinh sản. Các dịch vụ hiện có chưa sẵn sàn và chưa đủ khả năng đáp ứng được
nhu cầu về thông tin, kiến thức cũng như nhu cầu dịch vụ sức khỏe sinh sản
của người nhập cư lao động, đặc biệt là những người trẻ tuổi.
cho thấy, dù thu nhập không cao nhưng những
người nhập cư vẫn phải chi tiêu một khoản tiền tương đương với cư dân
thường trú (tức là những người đã có nhà ở thành phố). Người trẻ di cư thờ ơ
với chăm sóc sức khỏe do điều kiện kinh tế hạn chế cũng như bị hạn chế trong
việc tiếp cận các dịch vụ y tế tại địa phương. Thông thường, những người dân
di cư (trong đó có thanh thiếu niên) có xu hướng lựa chọn các bệnh viện tư,
phòng khám tư nhiều hơn là các bệnh viện tuyến trung ương. Đối tượng thanh 4
Tổng cục thống kê, Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Mức sinh và mức chết ở Việt Nam:
Thực trạng, xu hướng và những khác biệt
5
Dự án “Hỗ trợ đánh giá sâu về tình trạng nghèo đô thị ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh” do Chương
trình Phát triển Liên Hiệp quốc (UNDP) tài trợ với cơ quan chủ quản là Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội
và Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, và cơ quan thực hiện dự án là Cục Thống kê Thành phố Hà
Nội, và Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh.
12
thiếu niên nhập cư vào Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh có mức chi tiêu cho chăm
sóc sức khỏe hằng năm thấp hơn 2 – 3 lần so với dân thường trú.
Báo cáo “Di cư trong nước và Phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam:
Kêu gọi hành động” của UNDP (2010) nhận thấy hệ thống đăng ký hộ khẩu
ở Việt Nam đã ảnh hưởng đến sự tiếp cận của người di cư tới các dịch vụ cơ
bản và các dịch vụ hỗ trợ đặc biệt của Chính phủ. Các dịch vụ do Chính phủ
cung cấp chẳng hạn như các dịch vụ y tế (bao gồm cả sức khỏe sinh sản, giáo
dục, chăm sóc và điều trị HIV và tiếp cận với các dịch vụ xóa đói giảm nghèo
đều gắn chặt với hệ thống đăng ký hộ khẩu. Người dân di cư không bị hạn chế
về mặt luật pháp trong việc tiếp cận một số dịch vụ nhưng trên thực tế họ
thường phải chịu những hạn chế này. Chẳng hạn con cái của những người
cũng mang tính hỗ trợ một phần. Các cơ sở sản xuất chưa có chính sách hay
kế hoạch gì để cải thiện vấn đề này trong chiến lược đầu tư, phát triển kinh tế
của họ.
Nhìn chung, những nghiên cứu về dịch vụ y tế của lao động nhập cư
được đề cập ở mức độ nhất định. Nhiều vấn đề liên quan đến tìm hiểu việc
tiếp cận và sử dụng các dịch vụ này của nhóm đối tượng lao động nhập cư
cũng như những rào cản đối với việc tiếp cận dịch vụ y tế đang còn rải rác,
chưa tập trung. Chính vì thế, việc nghiên cứu đề tài: “Những rào cản đối với việc
tiếp cận dịch vụ y tế của lao động nhập cư ở khu công nghiệp” là rất cần thiết.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu với mục đích làm sáng rõ những rào cản trong tiếp
cận và sử dụng dịch vụ y tế của lao động nhập cư tại khu công nghiệp hiện
nay. Từ đó đề xuất các giải pháp giúp lao động nhập cư tháo gỡ các khó khăn
trong tiếp cận dịch vụ y tế.
14
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý thuyết về vấn đề tiếp cận dịch vụ y tế của người nhập
cư và những rào cản đối với họ.
- Khảo sát thực địa và phân tích những tài liệu có liên quan đến đề tài về
dịch vụ y tế dành cho lao động nhập cư.
- Xử lý, phân tích các số liệu, thông tin thu thập được để tìm hiểu việc tiếp
cận và sử dụng các dịch vụ y tế của lao động nhập cư và làm rõ những rào cản
đối với việc tiếp cận dịch vụ y tế của lao động nhập cư.
5. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Những rào cản trong tiếp cận dịch vụ y tế của lao động nhập cư.
5.2. Khách thể nghiên cứu
- Nhóm công nhân nhập cư.
tiến hành 12 cuộc phỏng vấn sâu.
Tác giả sử dụng phương pháp này nhằm khai thác những thông tin sâu
hơn của đề tài nghiên cứu. Hơn nữa, tác giả cũng bổ sung thêm cho phương
pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi nhằm khai thác sâu hơn khía cạnh quan tâm
nhưng chưa được đề ra trong bảng hỏi chính. Những thông tin phỏng vấn sâu
sẽ giải thích thêm những yếu tố chưa rõ nét trong bảng hỏi.
7.3. Thảo luận nhóm
Tiến hành thảo luận các nhóm: nam nữ công nhân nhập cư, nam nữ buôn
bán nhỏ/bán hàng rong, nhóm xe ôm, nhóm người dân thường trú. Nghiên cứu
đã tiến hành 7 cuộc thảo luận nhóm, trong đó có 14 nam và 27 nữ.
7.4. Phiếu phỏng vấn nhóm công nhân nhập cư
Sử dụng một bảng hỏi dành riêng cho nhóm công nhân nhập cư làm
việc trong các doanh nghiệp, tập trung vào tìm hiểu thông tin về đặc điểm
16
nhân khẩu, mức sống, việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế, những rào
cản tiếp cận dịch vụ y tế. Địa điểm phỏng vấn (chọn mẫu theo phương pháp
bắt gặp ngẫu nhiên) tại một số khu nhà trọ công nhân trên địa bàn. Đã hoàn
thành được 390 phiếu phỏng vấn công nhân nhập cư tại hai thôn Bầu và thôn
Hậu Dưỡng. Trong số 390 người trả lời phiếu phỏng vấn có 111 người là nam
giới, 279 người là nữ giới.
7.5. Phương pháp chọn mẫu
Tác giả tiến hành chọn dung lượng mẫu theo phương pháp lựa chọn
không lặp lại. Địa bàn được chọn phỏng vấn phiếu công nhân nhập cư là thôn
Bầu và thôn Hậu Dưỡng thuộc xã Kim Chung, huyện Đông Anh, Hà Nội. Số
lượng công nhân nhập cư tính đến tháng 8/2014 tại hai thôn ước khoảng
17.000 công nhân. Áp dụng công thức tính dung lượng mẫu:
Nt
2
x 0.25
TIẾP
CẬN
DỊCH
VỤ Y
TẾ
Những
rào cản
từ phía
người lao
động và
gia đình
Những
rào cản
từ phía
cộng
đồng, xã
hội
Thiếu cán bộ
y tế
Sự thuận tiện
của dịch vụ
Thiếu thông
tin chương
trình CSSK và
hệ thống y tế
nơi đến
những nét văn hoá kinh doanh và làm hài lòng cao cho người tiêu dùngđể họ
sẵn sàng trả tiền cao, nhờ đó kinh doanh có hiệu quả hơn”[20].
Tóm lại, có nhiều khái niệm về dịch vụ được phát biểu dưới những góc
độ khác nhau nhưng tựu chung thì:
Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của
con người. Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể
(hữu hình) như hàng hoá nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của
xã hội.
1.1.2 Dịch vụ y tế
Tại Điều 2, Luật Khám bệnh chữa bệnh số 40/2009/QH12 ngày
23/11/2009 định nghĩa: Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là cơ sở cố định hoặc
19
lưu động đã được cấp giấy phép hoạt động và cung cấp dịch vụ khám bệnh,
chữa bệnh; Người bệnh là người sử dụng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh.
Dịch vụ y tế là dịch vụ chỉ toàn bộ các hoạt động chăm sóc sức khoẻ
cho cộng đồng, cho con người mà kết quả là tạo ra các sản phẩm hàng hoá
không tồn tại dưới dạng hình thái vật chất cụ thể, nhằm thoả mãn kịp thời
thuận tiện và có hiệu quả hơn các nhu cầu ngày càng tăng của cộng đồng và
con người về chăm sóc sức khoẻ.
Dịch vụ y tế gồm 2 yếu tố: Tiêu thụ và đầu tư, sức khoẻ là kết quả trực
tiếp của việc tiêu thụ phúc lợi đồng thời người lao động có sức khoẻ sẽ đóng
góp cho sản xuất và đầu tư.
1.1.3 Tiếp cận
Sự tiếp cận là một cụm từ chung dùng để miêu tả mức độ một sản
phẩm, thiết bị, dịch vụ, hoặc môi trường có thể được sử dụng bởi càng nhiều
người càng tốt. Sự tiếp cận có thể được xem như khả năng tiếp cận và khả
năng hưởng lợi từ một hệ thống hay vật chất.[39]
Tiếp cận dịch vụ y tế được hiểu là khi đối tượng đến cơ sở y tế để sử
dụng bất cứ hình thức cung cấp dịch vụ như tư vấn, khám, điều trị, mua thuốc
một hình thức di chuyển trong không gian của con người từ một đơn vị lãnh
thổ này tới một đơn vị lãnh thổ khác, hoặc sự di chuyển với khoảng cách tối
thiểu quy định. Sự di chuyển này diễn ra trong một khoảng thời gian di cư xác
định và đặc trưng bởi sự thay đổi nơi cư trú thường xuyên”
Trong khái niệm di dân, người ta còn phân biệt và đặc biệt quan tâm
đến hai yếu tố cấu thành quá trình này là xuất cư và nhập cư. Nhập cư và xuất
cư bao gồm sự chuyển đến và chuyển đi khỏi khu vực nào đó. Dựa vào những
quy ước nói trên mà hai cấu thành được xác định: [1]:
21
- Xuất cư là việc di chuyển nơi cư ra khỏi một đơn vị hành chính tạm
thời hay vĩnh viễn, thời gian ngắn hoặc dài. Đây là hiện tượng phổ biến ở
nhiều quốc gia do tình trạng dự mức sống, thu nhập và lao động phân bố
không đồng đều. Xuất cư có ảnh hưởng đến mọi mặt kinh tế, văn hóa xã hội,
nhân khẩu của địa bàn nơi đến cũng như nơi đi.
- Nhập cư là sự di chuyển đến một khu vực hoặc đơn vị hành chính
khác, thậm chí tại một quốc gia khác. Quá trình này thường xuyên bị chi phối
bởi nhiều nhân tố như kinh tế, chính trị, xã hội, tôn giáo … Cũng như xuất cư,
nhập cư có ảnh hưởng quan trọng đến địa bàn đầu đến và đầu đi. Đặc biệt
nhập cư đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nên các đơn vị hành
chính mới ở một số khu vực còn thưa dân của một quốc gia, cũng như góp
phần hình thành dân số của nhiều quốc gia trong lịch sử Hoa Kỳ, Canada,
Ôxtrâylia, Morixớt.
Sự chênh lệch giữa nhập cư và xuất cư gọi là di cư thuần túy, sự tương
quan này sẽ làm cho trị số của gia tăng cơ học của dân số là dương (nếu số
người xuất cư ít hơn số nhập cư) hoặc là âm (khi số người xuất cư nhiều hơn
số người nhập cư).
1.1.6 Lao động nhập cư
Trong cuộc Điều tra di cư Việt Nam năm 2004, người di cư được định
nghĩa là những người từ 15-59 tuổi di chuyển từ quận/huyện này sang
1.2.1 Lý thuyết hành động xã hội
Định nghĩa của nhà xã hội học người Đức Max Weber về hành động xã
hội được cho là hoàn chỉnh nhất. Ông cho rằng, hành động xã hội là đối tượng