Vấn đề việc làm của thanh niên huyện phú bình tỉnh thái nguyên ( nghiên cứu trường hợp tại xã đào xá và thị trấn hương sơn) - Pdf 36

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
----------

DƢƠNG THANH HIỀN

VẤN ĐỀ VIỆC LÀM CỦA THANH NIÊN HUYỆN PHÚ BÌNH
- TỈNH THÁI NGUYÊN (NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP
TẠI XÃ ĐÀO XÁ VÀ THỊ TRẤN HƢƠNG SƠN)

LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: XÃ HỘI HỌC

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
----------

DƢƠNG THANH HIỀN

VẤN ĐỀ VIỆC LÀM CỦA THANH NIÊN HUYỆN PHÚ BÌNH
- TỈNH THÁI NGUYÊN (NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP
TẠI XÃ ĐÀO XÁ VÀ THỊ TRẤN HƢƠNG SƠN)

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Xã hội học
Mã số: 60 31 03 01

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Nhƣ Trang




MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................1
2. Tổng quan nghiên cứu .........................................................................................2
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn ..............................................................13
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ....................................................................13
5. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu........................................................14
6. Câu hỏi nghiên cứu ............................................................................................14
7. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................................15
8. Giả thuyết nghiên cứu ........................................................................................16
NỘI DUNG ..............................................................................................................17
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN .............................................17
1.1. Các khái niệm cơ bản......................................................................................17
1.1.1. Thanh niên ................................................................................................17
1.1.2. Việc làm ...................................................................................................18
1.1.3. Nghề nghiệp .............................................................................................20
1.2. Các lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu .......................................................22
1.2.1. Lý thuyết hành động xã hội ......................................................................22
1.2.2. Lý thuyết nhu cầu .....................................................................................25
1.3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội huyê ̣n Phú Bin
̀ h.............................27
1.3.2. Tổng quan về thanh niên huyê ̣n Phú Bình ...............................................29
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA THANH NIÊN HUYỆN PHÚ
BÌNH - TỈNH THÁI NGUYÊN..............................................................................31
2.1. Đặc điểm nhân khẩu xã hội và tình trạng việc làm của mẫu nghiên cứu ...........31
2.1.1 . Đặc điểm nhân khẩu xã hội .....................................................................31
2.1.2. Tình trạng việc làm của người trả lời .......................................................36


Trung học phổ thông

THCN:

Trung học chuyên nghiệp

UBND:

Ủy ban nhân dân

LĐTB&XH: Lao động Thương binh & Xã hội
KCN:

Khu công nghiệp

TNHH:

Trách nhiệm hữu hạn


DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Trang
Bảng 1: Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động ( 2012-2014) .........................29
Bảng 2: Nhóm tuổi của người trả lời ........................................................................31
Bảng 3: Tình trạng hôn nhân của người trả lời phân theo khoảng tuổi ....................33
Bảng 4: Trình độ học vấn của người trả lời ..............................................................34
Bảng 5: Tình trạng việc làm của người trả lời ..........................................................36
Bảng 6: Thời gian làm việc một ngày của thanh niên huyện Phú Bình ....................41
Bảng 7: Những khó khăn trong công việc mà thanh niên gặp phải ..........................44

Bảng 27: Mối quan hệ giữa tình trạng việc làm và quê quán của người trả lời ........97
Bảng 28: Điều gì cản trở nhất trong quá trình tìm kiếm việc làm ............................98
Biểu đồ 1: Khu vực làm việc của thanh niên huyện Phú Bình .................................37
Biểu đồ 2: Đánh giá của thanh niên về điều kiện làm việc hiện tại của họ ..............46
Biểu đồ 3: Biểu đồ thể mức độ hài lòng đối với công việc của thanh niên huyện
Phú Bình ...................................................................................................................57


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thanh niên là lực lượng quan trọng nhất của đất nước, là lực lượng lao động
có sức khỏe, có trình độ học vấn, có tiềm năng sáng tạo, có khả năng tiếp cận và
làm chủ khoa học hiện đại. Sự phát triển của thanh niên không những quan hệ đến
vận mệnh của đất nước mà còn ảnh hưởng đến tương lai của dân tộc. Đối với các
nước đang phát triển như nước ta, nơi nguồn lao động dồi dào và chủ yếu tập trung
ở nông thôn thì vấn đề việc làm nhất là đối với thanh niên là mối quan tâm hàng
đầu. Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, với hơn 80% dân số ở
nông thôn ở nước ta cho thấy số lượng lao động tại đây rất đông đảo. Hiện nay, vấn
đề việc làm đang trở thành một vấn đề được xã hội hết sức quan tâm, đặc biệt là các
vùng nông thôn. Đây là một bài toán vô cùng khó khăn đối với các nhà quản lý bởi
người lao động ở các vùng nông thôn chủ yếu là trình độ dân trí thấp, hầu như chưa
có kinh nghiệm làm việc vì quanh năm họ chỉ biết bám vào ruộng đồng để lao động
sản xuất. Điều này cho thấy vấn đề tạo việc làm cho người lao động đặc biệt là
thanh niên ở mỗi địa phương, mỗi khu vực còn phụ thuộc rất nhiều yếu tố, ví dụ
như điều kiện kinh tế của mỗi địa phương, trình độ chuyên môn và tay nghề của
người lao động ….
Phú Bình là một huyện chủ yếu làm nông nghiệp nên trình độ dân trí của
người dân nơi đây trong đó có cả một bộ phận thanh niên còn hạn chế, cuộc sống
của họ còn bộn bề khó khăn lại chỉ bó hẹp trong khoảng cách của làng, xã nên họ ít
được tiếp cận với những thông tin về nghề nghiệp, việc làm. Thời gian qua, tình

khẳng định bản thân. Chính vì vậy, vấn đề việc làm và nghề nghiệp cũng trở thành
đề tài nghiên cứu của nhiều ngành khoa học và nhiều nhà khoa học. Điều này thể
hiện thông qua các đề tài nghiên cứu, các bài báo, sách chuyên khảo hay các hội
chợ việc làm, các hội thảo về việc làm giúp cho người lao động có nhiều cơ hội và
thông tin để từ đó có định hướng việc làm một cách hiệu quả hơn.
Trong thời gian gần đây viê ̣c làm hay định hướng nghề nghiệp đã trở thành
vấn đề nghiên cứu của nhiều đề tài hay các công trình nghiên cứu cũng như cấc bài
viết trên tạp chí, sách báo:

2


2.1 Nhóm các nghiên cứu về việc làm
Tác giả Nguyễn Đức Hoàn trong nghiên cứu về “ Việc làm của thanh niên
lao động tự do từ nông thôn ra Hà Nội (Khảo sát tại quận Đống Đa)” năm 2013
cho thấy công việc chủ yếu của lao động tự do là chủ yếu làm thuê cho các cửa
hàng 21%, phụ hồ, thợ xây (17%), bán hàng rong (15%), thu mua phế liệu (11%),
đánh giầy (11%), hát rong (10%), bốc vác thuê (7%) và nghề khác (8%).
Kết quả điều tra trình độ học vấn của số thanh niên lao động tự do từ nông thôn
ra Hà Nội cho thấy phần lớn họ chỉ học hết THPT và THCS thậm chí là Tiểu học. Do
hạn chế về trình độ học vấn nên họ không có nhiều cơ hội lựa chọn việc làm cho
mình. Khi tìm hiểu nguyên nhân tại sao thanh niên lại làm các công việc đó thì kết
quả cho thấy có 35% số người được hỏi cho rằng họ đi làm vì không mất nhiều tiền
vốn. Lý do tiếp theo là không tìm được việc khác chiểm tỷ lệ 2%, không đòi hòi
chuyên môn tay nghề cao là 18%, phù hợp với bản thân là 14% và lý do khác là 6%.
Từ đây có thể thấy được thực tế là các bạn thanh niên tự do luôn ở vị trí yếu thế trong
thị trường lao động, luôn bị động và chịu sự tác động của yếu tố ngoại cảnh.
Loại công việc quy định nơi làm việc của thanh niên lao đông tự do. Kết quả
điều tra của đề tài cho thấy có tới 57,3% các bạn thanh niên làm việc trên đường
phố vì công việc chủ yếu là đánh giày, hát rong, bán hàng rong thu mua phế liệu,

người lao động tạo ra thu nhập, nuôi sống bản thân và gia đình. Đồng thời đó là cơ
hội để mỗi người áp dụng được những kiến thức, kỹ năng đã được học, được đào
tạo vào công việc, qua đó khẳng định năng lực của bản thân. Nhưng trước những
yêu cầu, đòi hỏi của thị trường lao động thì những nhu cầu, đòi hỏi của người lao
động về việc làm, nghề nghiệp cũng thay đổi để thích ứng với thời kỳ hội nhập.
Trước những khó khăn của việc làm, sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường
lao động là do thiếu thông tin về việc làm, số lượng việc làm ít những số hồ sơ đăng
ký quá nhiều, khó tìm được ngành nghề phù hợp với chuyên môn đào tạo và có quá
ít việc làm như mong muốn. Do vậy, lao động thanh niên trước hết cần một công
việc và công việc đó có môi trường điều kiện làm việc tốt , ổn định, có thu nhập cao
sau đó mới xét đến tiêu chí phù hợp với ngành nghề đào tạo, sở thích hay cơ hội
thăng tiến. Đây là một sự thích ứng rất linh hoạt của lao động thanh niên trong thời
kỳ hội nhập hiện nay.

4


2.2. Nhóm các nghiên cứu về định hướng nghề nghiệp
Đề tài“Vai trò của cha mẹ trong việc định hướng bậc học cho con trong các
gia đình nông thôn hiện nay”của tác giả Nùng Thị Điện cho thấy, mặc dù các bậc
cha mẹ ở những nhóm có trình độ học vấn khác nhau, nghề nghiệp khác nhau, điều
kiện hoàn cảnh khác nhau nhưng phần đông trong số họ đều có những mong muốn
và dự định cho con học lên Đại học – Cao đẳng (chiếm tỷ lệ 65%), và THCN
(24%). Điều đó chứng tỏ các bậc phụ huynh đã nhận thức được giá trị và tầm quan
trọng của họ đối với cuộc sống tương lai của con sau này và việc định hướng bậc
học cho con trai và con gái là không có sự khác biệt bởi trong xã hội ngày nay,
trước những đòi hỏi của tri thức thì người tài giỏi luôn được trọng dụng mà không
có sự phân biệt là nam hay nữ, xuất thân ở thành thị hay nông thôn. Tuy nhiên, sự
khác nhau về trình độ học vấn, về nghề nghiệp của các bậc cha mẹ cũng như sự
khác nhau về mức sống, điều kiện kinh tế giữa các gia đình cũng có những ảnh

Trong đó những người làm giáo viên và các nghề khác dự định cho con học đại học
và cao đẳng chiếm tỷ lệ cao hơn với tỷ lệ là 56,3% và 60% và họ cũng có dự định
cho con học lên trên Đại học. Cha mẹ nào bận rộn với công việc nhà nông, kinh tế
gia đình khó khăn thì việc định hướng bậc học cho con còn rất hạn chế. Trong khi
đó, những gia đình làm nghề buôn bán và các nghề khác như bác sỹ, bộ đội,… thì sẽ
có điều kiện tốt hơn để đầu tư cho con học nhiều hơn và có điều kiện cho con mình
học cao hơn.
Định hướng nghề nghiệp cho con của các bậc cha mẹ ở nông thôn hiện nay
(Nghiên cứu trường hợp tại xã Giao An, Giao Thủy, Nam Định) là đề tài mà tác giả
Trần Thị Dừa đề cập rất rõ thực trạng định hướng nghề nghiệp cho con của các bậc
cha mẹ cũng như những nhân tố ảnh hưởng đến việc định hướng nghề nghiệp cho
con của các bậc cha mẹ ở nông thôn hiện nay. Qua kết quả khảo sát cho thấy các
bậc cha mẹ đã có những định hướng vô cùng khác nhau đối với những ngành nghề
cụ thể cho con cái của họ. Bên cạnh đó cũng có sự khác biệt rõ nét trong cách định
hướng nghề nghiệp cho con trai hay con gái của cha mẹ ở nông thôn hiện nay. Đối
với con gái, cha mẹ thường mong muốn con làm những công việc nhẹ nhàng và
ổn định, cụ thể là 10% cha mẹ muốn con làm trong các cơ quan, tổ chức của nhà
nước, 14% mong muốn con làm trong ngành y tế, giáo dục, 45,3% cha mẹ muốn
con làm nhân viên văn phòng. Đối với con trai, các bậc cha mẹ cũng chú trọng

6


đến các nghề mang tính chất ổn định những lại có tính kỹ thuật cao, trong đó
5,3% cha mẹ muốn cọn làm việc trong các cơ quan, tổ chức nhà nước, 10,7%
muốn con làm việc trong ngành y tế, giáo dục, 36% làm trong ngành xây dựng,
giao thông và 48% làm trong ngành quân đội, công an. Qua đây có thể thấy rằng
các bậc cha mẹ đếu không định hướng cho con mình dù là trai hay gái làm nông
nghiệp hay công nhân bởi những nghề này thường nặng nhọc và vất vả, hơn nữa
lại không xác định được địa vị xã hội.

đó thì lại mong con làm trong quân đội, công an chiếm 33,3%. Cha mẹ có trình độ
sau đại học lại có định hướng nghề nghiệp cho con khác, đó là mong muốn con làm
nhân viên văn phòng và quân đội, công an chiếm 33,3%. Còn lại là muốn con làm
trong các cơ quan tổ chức nhà nước và ngành y tế, giáo dục. Nhìn chung, có sự tác
động từ trình độ học vấn của cha mẹ đến định hướng nghề nghiệp của con. Các bậc
cha mẹ có trình độ học vấn thấp hầu như vẫn chưa thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn của
truyền thống khi lựa chọn nghề nghiệp cho con, họ cảm thấy mình cần gì, thiếu gì thì
mong con mình học và làm theo. Còn đối với cha mẹ có trình độ học vấn cao thì họ
nhận định được các giá trị nghề nghiệp cao hơn, chính vì thế mà họ hướng con em
mình đến các nghề nghiệp tiến bộ, có mức thu nhập cao và được xã hội coi trọng.
Việc định hướng nghề nghiệp cho con còn chịu tác động của điều kiện kinh tế
gia đình. Cũng theo kết quả nghiên cứu của đề tài cho thấy cha mẹ có mức thu nhập
dưới 1 triệu thì mong muốn con làm trên xã, huyện. Cha mẹ có mức thu nhập từ 1
triệu đến dưới 2 triệu chủ yếu mong con làm trong ngành quân đội, công an (chiếm
33,4%), tiếp đến là muốn con làm trong ngành y tế, giáo dục (22,2%) còn mong
muốn còn làm trong ngành xây dựng, giao thông chiếm 11,1%. Cha mẹ có thu nhập
từ 2 triệu đến dưới 3 triệu có 2% muốn con làm việc trên xã, huyện; 22% muốn con
làm việc trong cơ quan, nhà nước; 16% cha mẹ muốn con làm trong ngành y tế,
giáo dục và xây dựng giao thông; 14% cha mẹ mong muốn con làm nhân viên văn
phòng; đa số cha mẹ ở nhóm thu nhập này mong muốn cho con làm trong ngành
quân đội và công an (30%). Cha mẹ có thu nhập bình quân từ 3 triệu đến 4,5 triệu
lại có định hướng nghề nghiệp cho con rõ ràng. Cha mẹ ở nhóm kinh tế này mong
con làm quân đội, công an là 22,4% và nhất và nhân viên văn phòng chiếm 27,5%.
Cha mẹ có thu nhập trên 4,5 triệu lại mong muốn cho con mình chủ yếu làm trong

8


các ngành xây dựng, giao thông, haycán bộ công chức nhà nước cũng như là quân
đội, công an đếu chiếm 20%; nhân viên văn phòng chiếm 22,3%. .


phù hợp với truyền thống gia đình thì rất ít cha mẹ lựa chọn, chiếm tỷ lệ lần lượt là
0,5% đối với con gái và 5,8% đối với con trai.
Định hướng nghề nghiệp cho con với mong muốn đảm bảo cuộc sống lâu dài
là điều mà cha mẹ đều hướng tới. Đề tài này đã phân chia thành hai nhóm yếu tố
ảnh hưởng đến định hướng nghề nghiệp cho con là yếu tố khách quan và chủ quan.
Về mặt khách quan thì tác giả đã đề cập đến điều kiện kinh tế - xã hội hay quan
điểm của Đảng và Nhà nước về định hướng việc làm cho thanh niên và sinh viên
hiện nay. Về mặt chủ quan, tác giả đã đưa ra ý kiến về giới tính, độ tuổi, trình độ
học vấn của cha mẹ cũng như điều kiện kinh tế gia đình hay mối quan hệ xã hội của
các thành viên trong gia đình. Theo kết quả điều tra cho thấy mức độ quan tâm tới
định hướng nghề nghiệp cho con là khác nhau giữa cha và mẹ. Trong số những
người được hỏi thì có tới 57,4% người mẹ và 51,5% cho rằng việc định hướng cho
con là rất cần thiết. Còn về nhận thức của cha mẹ trong vai trò thực hiện định hướng
nghề nghiệp cho con thì kết quả khảo sát cho thấy có 38,9% người mẹ được hỏi cho
rằng mình thực hiện rất tốt, trong khi đó thì có 21,2% người cha được hỏi cho rằng
mình thực hiến rất tốt việc này.
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả cũng phát hiện ra các điểm khác nhau
giữa cha và mẹ ở độ tuổi trên 25 tuổi và cha mẹ ở độ tuổi trên 40 tuổi có sự khác
nhau trong định hướng nghề cho con đó là cha mẹ ở độ tuổi trên 25 tuổi có tâm lý
không muốn con nối nghiệp làm nghề công nhân, lao động giống cha, mẹ vì vất
vả, lương không đủ trang trải cuộc sống,… Trong khi đó, cha mẹ ở độ tuổi gần 50
tuổi có định hướng nghề cho con đó là tùy phần nhiều vào năng lực của con nhưng
họ thực sự mong muốn con họ cũng làm công nhân như họ vì họ sẵn có mối quan
hệ và họ thấy bằng lòng với thu nhập của nghề công nhân, khéo co vẫn đủ. Bên
cạnh đó, khoảng cách tuổi của cha mẹ càng xa với con thì sẽ bảo thủ hơn, kiến
thức ít trau dồi không còn phù hợp với lứa tuổi của con nữa vì vậy mà nhiều lúc
nói để định hướng cho con nhưng chúng không nghe đó là rào cản vô hình của
tuổi tác cha mẹ, mẹ tác động vào việc định hướng đúng, sai cho con vì mỗi lứa
tuổi có cách nhìn khác nhau.

Tác giả Nguyễn Thị Thơm với cuốn sách ”Thị trường lao động Việt Nam thực
trạng và giải pháp (NXB Chính trị Quốc gia, HN 2006) đã nêu ra vấn đề việc làm
và chính sách việc làm. Trong cuốn sách này, tác giả cũng đã đưa ra một nhận định
đó là cần phải tôn trọng bản chất thực sự của thị trường lao động. Vai trò của các cơ

11


sở giáo dục – đào tạo, đánh giá khách quan về vai trò của mô hình xã hội hóa giáo
dục, trong đó có các cơ sở đào tạo ngoài công lập. Cuối cùng tác giả khẳng định cần
đẩy mạnh các hoạt động để chắp nối cung – cầu lao động, tạo cơ sở bình đẳng cho
người lao động tiếp cận với các cơ hội việc làm.
Nghiên cứu về vấn đề“ Giải quyết vấn đề lao động và việc làm trong quá trình
đô thị hóa, công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn (Tạp chí Lao động – xã hội số
247 năm 2004) của tác giả Nguyễn Hữu Dũng. Trong nghiên cứu đó, tác giả có bàn
đến thực trạng chất lượng lao động và việc làm ở nông thôn trong quá trình đô thị
hóa, công nghiệp hoá khi mà lực lượng lao động ngày càng dôi dư khi mà đất canh
tác ngày càng mất dần đi, bên cạnh đó chất lượng lao động ở khu vực này khó có
thể đảm bảo khi tham gia vào các nhà máy… Trong nghiên cứu đó cũng đã đưa ra
những phương hướng và giải pháp cơ bản để giải quyết việc làm cho đối tượng này
ở nông thôn.
Bàn về “Vấn đề việc làm cho người lao động bị ảnh hưởng trong quá trình
đô thị hóa Hà Nội” (NXB Chính trị Quốc gia, HN 2007), tác giả Vũ Thị Mai nêu
thực trạng việc làm của người lao động bị ảnh hưởng trong quá trình đô thị hóa và
các giải pháp tạo việc làm cho người lao động. Theo tác giả, người lao động muốn
có việc làm phù hợp, thu nhập cao thì đương nhiên phải có kế hoạch thực hiện và
đầu tư sức lao động của mình, các tổ chức xã hội để được đào tạo, trau dồi kiến
thức, phát triển và nắm vững một nghề nghiệp nhất định – đây là điều kiện cần thiết
cho người lao động khi tham gia vào thị trường lao động.
Tóm lại, những bài báo, bài viết hay những đề tài nghiên cứu, những khóa

xây dựng các chương trình, chính sách phù hợp với đối tượng thanh niên. Từ thực
trạng việc làm của thanh niên tác giả sẽ đưa ra một số khuyến nghị đối với những
ban ngành trực tiếp liên quan đến vấn đề này.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
+ Làm rõ thực trạng việc làm của thanh niên huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên.
+ Xem xét các yếu tố ảnh hưởng việc làm của thanh niên huyện Phú Bình –
tỉnh Thái Nguyên.

13


4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về viê ̣c làm của thanh niên trong giai đoạn hiện nay.
- Khảo sát, nghiên cứu, đánh giá về thực trạng viê ̣c làm của thanh niên trên địa
bàn huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến viê ̣c làm của thanh niên:
+ Yếu tố cơ chế, chính sách của địa phương
+ Yếu tố nhân khẩu xã hội
+ Yếu tố vốn xã hội
- Đề xuất các giải pháp hỗ trợ cho công tác đào ta ̣o nghề và ta ̣o viê ̣c làm cho
thanh niên nhất là thanh niên nông thôn nhằm giúp cho họ có được công viê ̣c cũng
như nghề nghiệp phù hợp và ổn định.
5. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
“Vấ n đề viê ̣c làm của thanh niên huyện Phú Bình - Tỉnh Thái Nguyên (nghiên cứu
trường hơ ̣p ta ̣i xã Đào Xá và thị trấn Hương Sơn )”
5.2. Khách thể nghiên cứu
Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu vào các thanh niên trên địa bàn xã Đào Xá và
Thị trấn Hương Sơn huyện Phú Bình – Tỉnh Thái Nguyên.

và 01 bí thư Đoàn thanh niên thị trấn Hương Sơn.
7.2. Phương pháp trưng cầu ý kiến
Đây là phương pháp chủ đạo của đề tài này. Nghiên cứu được tiến hành chọn
mẫu bằng cách chọn mẫu phân tầng theo ba yếu tố tuổi, giới tình và tình trạng hôn
nhân - gia đình với cỡ mẫu là 156 thanh niên trên địa bàn xã Đào xá và thị trấn
Hương Sơn. Trong quá trình điều tra tác giả cũng có chú ý đến tỷ lệ người trả lời để
đảm bảo tính đại diện về giới tính (nam/nữ), độ tuổi (16-21, 21-25 và 25-30) và tình
trạng hôn nhân (độc thân/đã kết hôn) để đảm bảo tính khách quan.

15


8. Giả thuyết nghiên cứu
+ Đại đa số thanh niên có việc làm ổn định.
+ Yếu tố trình độ chuyên môn, bằng cấp và kinh nghiệm ảnh hưởng rất lớn tới
việc làm của thanh niên.
+ Thu nhập là yếu tố quyết định rất mạnh mẽ tới mức độ gắn bó với công việc
của thanh niên.

16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status