tóm tắt luận án biến đổi văn hóa trong cộng đồng dân cư vùng đô thị hóa (nghiên cứu trường hợp tại phường định công và xã minh khai, hà nội) - Pdf 24

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN ĐÌNH TUẤN
BIẾN ĐỔI VĂN HÓA
TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ
VÙNG ĐÔ THỊ HÓA
(Nghiên cứu trường hợp tại phường Định Công và xã Minh Khai, Hà Nội)
Chuyên ngành: Nhân học văn hóa
Mã số: 62.31.65.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC
HÀ NỘI, 2013
Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI –
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
Người hướng dẫn: 1. PGS.TS. Lâm Bá Nam
2. TS. Đào Thị Minh Hương
Phản biện 1: GS.TS. Hoàng Nam
Phản biện 2: PGS.TS. Lê Sĩ Giáo
Phản biện 3: PGS.TS. Vũ Tuấn Huy
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp Học
viện, họp tại Học viện Khoa học xã hội, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân,
Hà Nội, vào hồi giờ ngày tháng năm 2013
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học xã hội
- Thư viện Viện Nghiên cứu Con người
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận án
Ở nước ta, quá trình đô thị hóa nhanh từ khoảng những năm 90 trở lại đây
đã dẫn đến sự mở rộng lãnh thổ của nhiều đô thị trong cả nước. Quá trình này đã
làm biến đổi nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội, từ cơ cấu tổ chức xã hội,

3.1. Đối tượng nghiên cứu
Biến đổi văn hóa ở cộng đồng dân cư vùng đô thị hóa trong bối cảnh đô thị
hóa và biến đổi kinh tế - xã hội.
3.2. Khách thể nghiên cứu
Người dân sống ở phường Định Công, quận Hoàng Mai và xã Minh Khai,
huyện Từ Liêm, Hà Nội.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
* Về thời gian
Luận án nghiên cứu quá trình biến đổi văn hóa ở phường Định Công và xã
Minh Khai diễn ra kể từ sau khi có Quyết định 543/TTg ngày 12 tháng 8 năm
1996 của Chính phủ về thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng đất ở Định Công và
Quyết định số 156/QĐ-UB ngày 08/01/2004 của UBND thành phố Hà Nội về thu
hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng đất ở Minh Khai đến thời điểm nghiên cứu.
* Về không gian
Nghiên cứu được thực hiện tại phường Định Công, quận Hoàng Mai và xã
Minh Khai, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
* Vấn đề nghiên cứu
Văn hóa là một khái niệm rộng và đa dạng vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu
của luận án, nghiên cứu sinh chủ yếu tập trung vào nghiên cứu một số khía cạnh của
biến đổi văn hóa đặt trong bối cảnh đô thị hóa và biến đổi kinh tế - xã hội, đó là:
Quan hệ ứng xử gia đình, dòng họ và cộng đồng;
Một số giá trị trong hôn nhân, gia đình;
Phong tục tập quán (lễ hội, cưới xin, ma chay);
Sử dụng thời gian rỗi vào giải trí.
4. Đóng góp của luận án
Luận án góp phần làm rõ thêm cách thức vận dụng các lý thuyết như: biến
đổi xã hội, biến đổi văn hóa, cơ cấu chức năng vào nghiên cứu biến đổi văn hóa.
Bổ sung những ý tưởng mới cho việc nghiên cứu về biến đổi văn hóa, nhất
là biến đổi văn hóa trong quá trình đô thị hóa ở nước ta hiện nay từ cách tiếp cận
của ngành nhân học văn hóa. Cụ thể là cách tiếp cận lịch đại và đồng đại trong

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Nghiên cứu ngoài nước
Cho đến nay trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về biến đổi văn
hóa ở cả phương diện lý thuyết lẫn thực tiễn. Về phương diện lý thuyết có thể kể
đến như: thuyết tiến hóa văn hóa - E. Taylor (1891), thuyết truyền bá truyền bá văn
hóa - G. Elliot Smith (1919), thuyết vùng văn hóa - C.L. Wissler (1923) và thuyết
tiếp biến văn hóa - Redfield (1934) Còn về phương diện nghiên cứu thực tiễn là
các công trình như: “Tác động của đô thị hóa đến nông thôn” - Gerald F.Winfield
(1973), “Đô thị hóa ở nông thôn: khuôn khổ của sự phân tích” - G.J.Lewis và
D.J.Maund (1976), “Đặc trưng đô thị như là một lối sống” - Louis Wirth (1938),
“Biến đổi văn hóa và hiện đại hóa: những hình mẫu nhỏ và nghiên cứu trường hợp”
- Louise S.Spindler (1977), “xác định lại khái niệm làng và cuộc sống nông thôn:
những bài học từ Đông Nam Á” - Jonathan Rigg (1994) và “địa lý học về văn hóa
và xã hội khu vực nông thôn” - Holloway, Lewis và Moya Kneafsey (2004)
1.1.2. Nghiên cứu trong nước
Ở nước ta, nghiên cứu về biến đổi văn hóa được tập trung ở một số hướng sau:
1/ Nghiên cứu biến đổi văn hóa trong quá trình đô thị hóa và biến đổi
văn hóa đô thị: Văn hóa trong quá trình đô thị hóa ở nước ta hiện nay - Trần Văn
Bính (1997); Biến đổi văn hóa đô thị Việt Nam hiện nay - Nguyễn Thanh Tuấn
(2006); Tác động của đô thị hóa - công nghiệp hóa tới phát triển kinh tế và biến
đổi văn hóa - xã hội ở tỉnh Vĩnh Phúc - Nguyễn Ngọc Thanh và Nguyễn Thế
Trường (2009); Văn hóa và lối sống đô thị Việt Nam - một cách tiếp cận - Trương
Minh Dục, Lê Văn Định (2010); Tiếp cận văn hóa đô thị - Tôn Nữ Quỳnh Trân
(2002) Các công trình nghiên cứu này đã phân tích một số biến đổi văn hóa
trong quá trình đô thị hóa và biến đổi văn hóa ở đô thị nước ta.
2/ Nghiên cứu biến đổi văn hóa ở những vùng chuyển đổi từ xã thành
phường: Những biến đổi kinh tế - xã hội ở Dịch Vọng trong quá trình đô thị hóa
từ Làng, Xã thành phường - Trịnh Duy Luân (1999); Biến đổi lối sống của người
dân vùng chuyển đổi từ xã thành phường - Nguyễn Đình Tuấn (2007); Những biến

văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam - Ngô Đức Thịnh (2006); Phát triển bền
vững văn hóa tộc người trong quá trình hội nhập ở vùng Đông bắc - Vương Xuân
Tình - Trần Hồng Hạnh (2012).
Ngoài ra, hướng nghiên cứu về biến đổi văn hóa trong quá trình toàn cầu
hóa và hội nhập quốc tế cũng được nhiều học giả nước ta quan tâm. Điểm qua các
công trình nghiên cứu cho thấy, các công trình này đã có những đóng góp về cả
phương diện lý luận cũng như thực tiễn trong nghiên cứu về đô thị hóa, văn hóa đô
thị và biến đổi văn hóa ở nước ta trong giai đoạn vừa qua. Hơn nữa, với các hướng
tiếp cận khác nhau, các công trình nghiên cứu chỉ rõ đô thị hóa đã có những tác
động đến đời sống văn hóa ở vùng ven đô và vùng chuyển đổi từ xã thành phường.
Mặc dù vậy, cho đến nay dường như vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu
so sánh một cách chính thức giữa nơi đã chuyển thành phường và nơi vẫn còn là
xã - vùng ven đô (trên cùng một trục vấn đề nghiên cứu và ở cùng một khoảng
thời gian nghiên cứu), khi mà hai nơi đều chịu sự tác động của quá trình đô thị
hóa. Vấn đề đặt ra là, tác động của đô thị hóa đến hai nơi này có gì khác nhau
không? Quá trình biến đổi văn hóa ở hai nơi này hiện nay đang diễn ra như thế
nào? Nhằm giải đáp những câu hỏi đặt ra, nghiên cứu sinh chọn địa bàn nghiên
cứu là một phường và một xã để có những phân tích xác thực hơn.
Xuất phát từ những gợi mở, những điểm trống và kế thừa những kết quả
nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi trước, nghiên cứu sinh chọn vấn đề “Biến đổi
văn hóa trong cộng đồng dân cư vùng đô thị hóa” làm đối tượng nghiên cứu, với
mong muốn làm rõ hơn những biến đổi và những nhân tố tác động đến đời sống văn
hóa của cộng đồng dân cư nơi đây trong giai đoạn hiện nay dưới góc nhìn nhân học
văn hóa. Bên cạnh đó, với những khác biệt về khách thể, không gian và thời gian
nghiên cứu, luận án phác họa thêm những nét vẽ cho bức tranh đa diện về biến đổi văn
hóa ở nước ta nói chung và ở Hà Nội nói riêng trong quá trình đô thị hóa hiện nay.
1.2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Một số khái niệm đã được làm rõ trong luận án như: Văn hóa, biến đổi xã
hội, biến đổi văn hóa, đô thị, đô thị hóa, cộng đồng, cộng đồng dân cư vùng đô thị
hóa, giao lưu và tiếp biến văn hóa, lối sống, lối sống đô thị

Khía cạnh văn hóa trong quá trình đô thị hóa cũng được đặt ra trong nhiều
công trình nghiên cứu gần đây. Kết quả nghiên cứu của các công trình này cho
thấy, việc chuyển đổi đơn vị hành chính từ xã thành phường đã dẫn đến những
thay đổi trên nhiều phương diện của đời sống văn hóa của người dân vùng chuyển
đổi. Tương tự như vậy, tại những vùng ven đô cũng đang có những thay đổi mạnh
mẽ trong đời sống văn hóa dưới tác động của quá trình đô thị hóa.
Tuy nhiên, ở những vùng chịu tác động mạnh mẽ của đô thị hóa hiện nay,
biến đổi văn hóa đang diễn ra khá đa dạng và phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Để văn
hóa vùng đô thị hóa biến chuyển theo chiều hướng tích cực, vừa giữ được những
giá trị tốt đẹp của văn hóa truyền thống, vừa tiếp thu những giá trị văn hóa đô thị
thì cần có nhiều hơn các công trình nghiên cứu từ các hướng tiếp cận khác nhau và
từ những cộng đồng khác nhau. Qua đó, có thể thấy được sự đa dạng của biến đổi
văn hóa trong quá trình đô thị hóa. Dựa trên hướng tiếp cận của nhân học văn hóa,
luận án sẽ góp phần luận giải rõ hơn những biến đổi văn hóa ở vùng đang chịu sự
tác động của đô thị hóa.
CHƯƠNG 2
BIẾN ĐỔI KINH TẾ, XÃ HỘI Ở PHƯỜNG ĐỊNH CÔNG
VÀ XÃ MINH KHAI - CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN BIẾN ĐỔI VĂN HÓA
2.1. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển đô thị Hà Nội
Kể từ khi vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long đến nay, trải qua
hơn 1000 năm phát triển, Hà Nội đã nhiều lần điều chỉnh địa giới hành chính. Trong
đó, lần gần đây nhất là năm 2008, với việc sáp nhập toàn bộ diện tích của tỉnh Hà
Tây, huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc và 4 xã thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa
Bình. Sau lần mở rộng này, diện tích tự nhiên của Hà Nội là 3.328,9 km
2
với dân số
6.232.940 người. Đến năm 2011, dân số Hà Nội tăng lên thành 6.699.600 người với
mật độ dân số trung bình 2.013 người/km
2
. Dân số sống ở nội thành chiếm khoảng

thành 25 khu dân cư gồm 84 tổ dân phố.
2.2.1.2. Xã Minh Khai
Xã Minh Khai thuộc huyện Từ Liêm, nằm ở cửa ngõ phía Tây của thành phố
Hà Nội. Về mặt địa giới, phía tây và tây bắc giáp xã Tây Tựu, phía bắc giáp xã Liên
Mạc, phía nam và tây nam giáp xã Xuân Phương và phía đông giáp xã Phú Diễn.
Xã gồm có bốn thôn: Nguyên Xá, Văn Trì, Ngọa Long và Phúc Lý. Cả bốn thôn
đều nằm sát bên nhau ở phía tây sông Nhuệ, cách trung tâm Hà Nội 13 km. Trên địa
bàn xã có các đường giao thông: quốc lộ 32 (Hà Nội - Sơn Tây), đường 70 (Thượng
Cát - quận Hà Đông), đường 72 (Phú Diễn - Liên Mạc).
Mặc dù đã có những tác động của quá trình đô thị hóa trước đó, nhưng phải
đến năm 2004 mới thực sự là thời kỳ Minh Khai chịu sự tác động mạnh của quá
trình đô thị hóa với việc bàn giao 20 ha đất canh tác để xây dựng khu công nghiệp
vừa và nhỏ (quyết định số 156/QĐ-UB của UBND TP Hà Nội ngày 08/01/2004).
Đây chính là dự án thu hồi đất lớn đầu tiên ở Minh Khai phục vụ chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội. Hiện tại, Minh Khai cũng đang triển khai đền bù, giải phóng
mặt bằng các dự án như: dự án xây dựng khu công nghệ cao sinh học Hà Nội; dự
án bệnh viện Việt Sing; dự án xây dựng nhà ở cho cán bộ, nhân viên báo Tiền
Phong; dự án xây dựng chợ Phúc Lý
Trong quy hoạch, Minh Khai còn nằm trong nhiều dự án như: khu công
nghệ cao Nam Thăng Long (một phần đất Minh Khai nằm trong dự án); khu công
nghiệp điện lạnh, điện tử; khu công nghiệp vừa và nhỏ; bãi đỗ xe tĩnh của thành
phố; trung tâm chợ thương mại đầu mối
Về mặt tổ chức hành chính, cho đến nay Minh Khai vẫn theo hình thức tổ
chức hành chính cấp xã. Xã Minh Khai hiện có bốn thôn và dưới thôn là các xóm.
2.2.1. Định Công và Minh Khai trong quá trình đô thị hóa
2.2.1.1. Chuyển đổi mục đích sử dụng đất và thay đổi nghề nghiệp
Ở Định Công, từ năm 1996 đến nay đất nông nghiệp đã giảm 41,16 ha (từ
133,92 ha xuống còn 90,769). Số diện tích đất nông nghiệp này đã được chuyển
đổi mục đích sử dụng chủ yếu phục vụ xây dựng khu đô thị mới Định Công, khu
đô thị Đại Kim và khu Bắc Đại Kim. Theo báo cáo kinh tế - xã hội của UBND

đang có những thay đổi nhanh. Tại đó, diễn ra xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh
tế từ nông nghiệp sang công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Ở Định Công nếu như
năm 2000, tỷ lệ nông nghiệp chiếm 18,7% trong cơ cấu kinh tế của phường thì đến
năm 2010 chỉ còn chiếm 1,4%. Còn ở Minh Khai năm 2000, tỷ lệ nông nghiệp
trong cơ cấu kinh tế của địa phương chiếm 56,1% thì đến năm 2010 chỉ còn lại
7,8%.
Nguồn thu nhập chính của nhiều gia đình ở Định Công và Minh Khai đã
chuyển từ nông nghiệp sang các nguồn thu từ hoạt động phi nông nghiệp như buôn
bán/kinh doanh, làm công ăn lương. Ngoài ra nhiều hộ gia đình ở Định Công và
Minh Khai còn có nguồn thu từ cho thuê nhà trọ.
Ở Định Công và Minh Khai hiện nay có khá nhiều khu nhà trọ được các gia
đình xây cho người đi làm và sinh viên thuê nằm xen kẽ giữa các hộ dân. So sánh
giữa Định Công và Minh Khai cho thấy, số gia đình xây nhà trọ cho thuê ở Định
Công nằm đều ở các cụm dân cư hơn so với ở Minh Khai (ở Minh Khai chủ yếu
nằm ở làng Ngọa Long, Nguyên Xá và Văn Trì). Số lượng phòng cho thuê của các
gia đình phụ thuộc vào diện tích đất của gia đình rộng hay hẹp. Tuy nhiên, đối với
các hộ gia đình có nhà cho thuê thì ít nhất cũng phải có 2 phòng, còn hộ nhiều lên
đến vài chục phòng. Việc xây dựng nhà cho thuê dường như thành một “trào lưu”
của nhiều hộ gia đình ở Định Công và Minh Khai trong những năm gần đây (ngoại
trừ thôn Phúc Lý, xã Minh Khai, do nằm ở vị trí không thuận tiện nên chưa có
nhiều hộ gia đình xây nhà cho thuê). Nhiều hộ gia đình đã xác định đây là nguồn
thu nhập chính của gia đình và họ coi đó như là một nghề. Trên thực tế, với mức
giá cho thuê một phòng trọ từ 1,5 triệu đến 2,5 triệu/tháng (năm 2011), nếu một gia
đình có 10 phòng trọ cho thuê thì đây quả là một khoản thu nhập khá cao đối với
nhiều hộ gia đình. Khoản thu nhập này có lẽ ít có hộ gia đình nào nghĩ đến khi chưa
có sự tác động của đô thị hóa. Chính vì khoản thu nhập cao này mà nhiều gia đình
đã bỏ trồng các loại cây ăn quả (trước đây vốn cũng là nguồn thu chính cho gia
đình) để chuyển sang xây nhà trọ cho thuê. Theo cách tính toán của người dân ở xã
Minh Khai, nếu trồng một gốc bưởi thì mất khoảng 16m
2

Còn về dân số, cả ở Định Công và Minh Khai dân số đều tăng nhanh trong
khoảng 10 năm trở lại đây. Ở Định Công, chỉ sau 10 năm dân số đã tăng lên gấp
hơn 3,3 lần, từ 13.217 nhân khẩu năm 2001 lên 44.495 nhân khẩu năm 2011 (số
nhân khẩu tăng chủ yếu là do người dân từ nơi khác đến Định Công mua đất xây
nhà để ở và do có khu đô thị mới). So với Định Công, tốc độ tăng dân số và số dân
hiện đang sống ở Minh Khai có phần thấp hơn. Trong 10 năm (2001 - 2011), dân
số Minh Khai tăng hơn 2,8 lần từ 10.675 người lên 30.514 người. Sở dĩ số dân ở
Định Công tăng nhanh hơn Minh Khai, ngoài lý do gần nội thành và chịu sự tác
động của quá trình đô thị hóa sớm hơn, thì Định Công còn là nơi quy hoạch để
giãn dân của thành phố Hà Nội.
2.2.1.4. Một số vấn đề xã hội nảy sinh
Bên cạnh những yếu tố tích cực biến đổi trong cơ cấu kinh tế - xã hội, quá
trình đô thị hóa hiện nay cũng đang làm nảy sinh một số vấn đề trong đời sống
xã hội ở Định Công và Minh Khai. Đó là tình trạng thiếu việc làm, tệ nạn xã
hội, ô nhiễm môi trường Kết quả khảo sát của luận án cho thấy, phần lớn những
người tham gia trả lời phỏng vấn cho rằng hiện nay ở địa phương đều có các tệ
nạn xã hội như: ma túy, mại dâm, cờ bạc, trộm cắp, số đề, gây mất trật tự xã hội và
các tệ nạn này có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây.
Tiểu kết chương 2
Lịch sử phát triển nhân loại đã chứng minh cho thấy, đô thị hóa là quá trình
tất yếu của quá trình phát triển, gắn liền với sự phát triển của lực lượng sản xuất,
quan hệ xã hội và sự tiến bộ của khoa học công nghệ. Quá trình đô thị hóa là một
quá trình biến đổi kinh tế - xã hội với những đặc trưng như: mở rộng không gian
sống đô thị, dân số đô thị tăng nhanh do quá trình di cư từ những vùng nông thôn
vào đô thị, sự thay đổi điều kiện sống và các mối quan hệ xã hội
Như nhiều quốc gia đang phát triển trên thế giới, quá trình đô thị hóa ở Việt
Nam hiện nay đang diễn ra theo chiều rộng với việc đẩy nhanh phát triển công
nghiệp. Bên cạnh vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, qúa trình đô thị hóa
chưa đồng bộ, thiếu quy hoạch, không cân bằng cung cầu như ở nước ta hiện nay có
những ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của người dân tại vùng đô thị hóa. Đó là sự

thấy, ở nước ta năm 2002, số người bình quân trong hộ gia đình thành thị là 4,27
người, nông thôn là 4,49; năm 2006 ở thành thị là 4,13, nông thôn là 4,28 và đến
năm 2010 giảm xuống còn 3,82 người đối với gia đình thành thị và 3,92 người ở
nông thôn. Kết quả khảo sát ở Định Công và Minh Khai cũng cho thấy, trong vòng
10 năm trở lại đây đã có sự thay đổi về quy mô gia đình. Số người trung bình trong
gia đình hiện nay ở Định Công là 4,03 người, Minh Khai là 4,37 người. Trong khi
đó, số người trung bình ở Định Công và Minh Khai 10 năm trước lần lượt là 4,35
người và 4,76 người. Sự thay đổi về số người sống trong gia đình ở Định Công và
Minh Khai cũng cho thấy đang có sự thay đổi về số thế hệ sống trong hộ gia đình.
Trong thời gian 10 năm trở lại đây, số gia đình 3 thế hệ trở lên giảm, còn số gia
đình một và hai thế hệ có xu hướng tăng.
Định Công là nơi chịu sự tác động của quá trình đô thị hóa sớm hơn so với
xã Minh Khai nên số gia đình hai thế hệ hiện nay chiếm tỷ lệ cao hơn (76,0% so
với 68,0%). Ngược lại, số gia đình ba thế hệ ở xã Minh Khai lại chiếm tỷ lệ cao
hơn phường Định Công (28,0% so với 16,0%). Tác động của quá trình đô thị hóa
đến sự thay đổi về số thế hệ sống trong gia đình được thể hiện rõ từ khi đất ở
những vùng này có xu hướng đắt lên. Giá đất đắt lên, nhiều hộ gia đình đã chia
“lô” để bán và chia cho con cái ra ở riêng. Ngoài ra, nhiều người sau khi kết hôn
cũng có mong muốn sống riêng, độc lập với bố mẹ.
Qua nghiên cứu ở Định Công và Minh Khai cho thấy quá trình đô thị hóa
đang có những tác động đến quy mô gia đình ở đây. Số người sống trong hộ gia
đình giảm và gia đình hai thế hệ đang có xu hướng tăng thay thế cho kiểu gia đình
nhiều thế hệ trước đây. Những thay đổi này cho thấy xu hướng biến đổi theo quy
mô gia đình đô thị ở vùng đô thị hóa. Sự thay đổi này ít nhiều có ảnh hưởng đến các
mối quan hệ trong gia đình của người dân nơi đây.
3.1.2.2. Về quan hệ trong gia đình
So với 10 năm trước, một số sinh hoạt tập thể trong gia đình ở Định Công và
Minh Khai như: bữa cơm gia đình hay xem tivi cùng nhau có xu hướng giảm đi.
Việc giảm đi các sinh hoạt này đã có những ảnh hưởng đến quan hệ giao tiếp giữa
các cá nhân trong gia đình. Bên cạnh đó, sự thay đổi trong không gian sống (các

dòng ít nhờ cậy, giúp đỡ nhau hơn khi gia đình có công việc quan trọng (cưới xin,
tang ma, làm nhà ). Trước đây, mỗi khi các gia đình trong dòng họ có công việc
quan trọng như cưới xin, tang ma, làm nhà thường nhờ và nhận được giúp đỡ của
những người họ hàng, nhất là việc “hậu cần”. Còn giờ đây, dưới tác động của quá
trình đô thị hóa với sự phát triển nhanh chóng của các dịch vụ xã hội, khi có việc
hiếu, hỷ nhiều gia đình đã thuê người làm theo hình thức “trọn gói”.
Bên cạnh đó, ảnh hưởng của dòng họ đối với một số công việc của các gia
đình hay cá nhân trong dòng họ cũng có xu hướng giảm. Điều này được thể hiện rõ
trong các công việc của các gia đình như cưới xin hay tang ma.
3.1.3. Biến đổi trong quan hệ hàng xóm, láng giềng
Quan hệ hàng xóm, láng giềng hiện nay ở vùng đô thị hóa cũng đang có xu
hướng “kém thân thiện hơn” so với 10 năm trước, điều này được thể hiện qua nhận
định của những người tham gia trả lời phỏng vấn ở Định Công và Minh Khai khi có
59,5% (238/400) cho rằng quan hệ hàng xóm, láng giềng hiện nay kém thân thiện
hơn so với 10 năm trước, 38,2% (152/400) cho rằng không thay đổi và chỉ có 2,3%
(9/400) cho rằng thân thiện hơn. Xu hướng này thấy rõ hơn ở nơi chịu sự tác động
sớm của quá trình đô thị hóa (Định Công).
Quan hệ hàng xóm láng giềng “kém thân thiện hơn” thể hiện ở việc:
1. Người dân ít gặp gỡ, nói chuyện với nhau thường xuyên hơn (do các gia
đình kín cổng cao tường, ít có thời gian rảnh và do hàng xóm mới chưa
quen hay không thích );
2. Mọi người ít nhờ cậy, giúp đỡ nhau khi gia đình có công việc như hiếu, hỉ
(do thay đổi trong suy nghĩ của người dân và sự phát triển nhanh chóng của
các dịch vụ xã hội).
Cùng với đó là sự đan xen giữa dân gốc với dân nhập cư cũng có ảnh hưởng
không nhỏ đến mối quan hệ hàng xóm, láng giềng vốn đã có từ trước.
Những thay đổi này đang làm cho tính đoàn kết trong cộng đồng làng xã
vùng đô thị hóa hiện nay có xu hướng giảm đi.
3.2. Biến đổi một số giá trị trong hôn nhân gia đình
3.2.1. Trong hôn nhân

trình độ học vấn, gia đình khá giả, hình thức đẹp.
3.2.2. Trong quan niệm về số con và giá trị con trai
So với trước đây, quan niệm về sinh nhiều con và phải có bằng được con trai
của người dân ở vùng đô thị hóa đã có những thay đổi. Phần lớn họ cho rằng mỗi
gia đình chỉ nên có hai con và không nhất thiết phải sinh được con trai.
Bên cạnh đó, cũng còn một số ít hộ gia đình có tư tưởng muốn sinh thêm
con và muốn sinh con trai. Những gia đình này chủ yếu là những gia đình đời sống
kinh tế mới khá giả nhờ vào bán đất và khi có điều kiện kinh tế họ lại có tư tưởng
muốn sinh thêm con và muốn sinh con trai. Điều này cho thấy, ở vùng đô thị hóa
hiện nay (nhất là nơi mới chịu sự tác động của đô thị hóa) đang có sự đan xen
trong quan niệm về giá trị của con trai, có những người vẫn chưa thoát khỏi quan
niệm phải sinh được con trai để chứng tỏ vị trí trong xã hội.
3.3. Biến đổi trong phong tục cưới xin, tang ma
Trong tổ chức cưới xin, tang ma ở Định Công và Minh Khai hiện nay đã và
đang có những thay đổi so với trước đây. Điều này thể hiện ở một số điểm sau:
- Thời gian tổ chức không còn kéo dài trong nhiều ngày mà thường diễn ra
trong một đến hai ngày;
- Địa điểm tổ chức không chỉ diễn ra trong không gian gia đình mà cả ở
không gian công cộng. Đối với đám cưới là nhà văn hóa, sân đình hay khách
sạn, nhà hàng. Còn đối với đám tang là tại nhà tang lễ;
- Số lượng người tham dự đám cưới hay đám tang là người địa phương giảm so
với trước. Gắn liền với thay đổi đó là việc giảm số lượng mâm cỗ. Việc làm
cỗ cũng có những thay đổi từ việc tự nấu sang đặt nấu hoặc thuê người nấu.
- Ngoài ra, còn một số thay đổi khác như: trong đám tang bỏ tục lăn đường (ở
Định Công), người chết được hỏa táng ; trong đám cưới thì quà cưới chủ
yếu bằng tiền
Những thay đổi này cho thấy xu hướng biến đổi ở Định Công và Minh Khai
gắn với thực tiễn phát triển của xã hội và của văn hóa đô thị (Xu hướng này thấy
rõ hơn ở Định Công - nơi chịu tác động của quá trình đô thị hóa sớm hơn).
3.4. Biến đổi trong tổ chức lễ hội và sử dụng thời gian rỗi vào giải trí

3.4.2. Biến đổi trong sử dụng thời gian rỗi vào giải trí
So với trước đây việc sử dụng thời gian rỗi vào giải trí của người dân ở Định
Công và Minh Khai đều có những thay đổi. Ngoài việc sử dụng thời gian rỗi để
giải trí trong gia đình như: xem tivi, đọc sách báo, người dân ở Định Công và
Minh Khai có xu hướng tham gia nhiều hơn vào các hoạt động giải trí ngoài gia
đình như: đến rạp xem phim/nghe ca nhạc, tham gia vào các câu lạc bộ, thể dục,
Kết quả nghiên cứu của luận án cũng cho thấy, việc sử dụng thời gian rỗi vào các
hoạt động giải trí ngoài gia đình của người dân ở Định Công diễn ra với tần xuất
cao hơn so với người dân ở Minh Khai.
Những thay đổi trong việc sử dụng thời gian rỗi vào giải trí cho thấy, người
dân ở vùng đô thị hóa hiện nay đang có những thay đổi trong nhu cầu hưởng thụ
đời sống văn hóa. Tuy nhiên, thay đổi này cũng có sự khác nhau giữa các nhóm
nghề. Những người làm nghề phi nông nghiệp tham gia vào các hoạt động giải trí
ngoài gia đình nhiều hơn so với những người làm nông nghiệp.
Ngoài ra, thay đổi nghề nghiệp cũng là một trong những yếu tố chính dẫn
đến những thay đổi trong thói quen sinh hoạt hàng ngày và sử dụng thời gian rỗi
của người dân vùng chịu tác động của đô thị hóa. Nhất là đối với những người dân
chuyển đổi từ làm nông nghiệp sang dịch vụ, buôn bán, kinh doanh và xây nhà trọ
cho thuê. Để phục vụ khách hàng hay quản lý khu nhà trọ cho thuê người dân đã
dần thay thói quen “ngủ sớm, dậy sớm” khi còn làm nông nghiệp bằng “ngủ
muộn, dậy muộn” và “thức khuya, dậy sớm”.
Tiểu kết chương 3
Quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng ở Hà Nội trong những năm gần
đây đã có những tác động và làm biến đổi nhiều mặt trong đời sống văn hóa của
cộng đồng dân cư vùng đô thị hóa. Những biến đổi đó thể hiện ở một số khía cạnh
sau:
Cơ cấu gia đình đang có xu hướng biến đổi, gia đình hạt nhân gia tăng, gia
đình mở rộng giảm. Những biến đổi trong điều kiện sống, không gian sinh hoạt,
nghề nghiệp và thời gian làm việc của các thành viên trong gia đình là những yếu
tố ảnh hưởng đến quan hệ “gần gũi” giữa các thành viên trong gia đình ở vùng đô

thị. Lễ hội cũng là nơi khơi lại lòng thành kính, tinh thần đoàn kết, tương hỗ, sống
hướng thiện cho người dân mà vốn dĩ trước đó đã tồn tại trong cộng đồng làng xã.
Kết quả nghiên cứu của luận án cũng cho thấy, có sự khác biệt trong thích
nghi với đời sống văn hóa đô thị giữa các thế hệ ở vùng đô thị hóa. Trong đó, lớp
trẻ là người có xu hướng thích nghi nhanh hơn so với những người lớn tuổi. Đây
cũng chính là một khía cạnh mà các nhà quản lý cần quan tâm đối với vùng chịu
tác động mạnh của quá trình đô thị hóa.
CHƯƠNG 4
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Từ việc vận dụng một số lý thuyết vào nghiên cứu biến đổi văn hóa cho
thấy, xu hướng biến đổi văn hóa ở phường Định Công và xã Minh Khai trong quá
trình đô thị hóa diễn ra theo qui luật chung của quá trình biến đổi. Đó là quá trình
biến đổi mang tính tiếp nối và liên tục với sự đan xen giữa cái cũ, cái truyền thống
với cái mới, cái hiện đại. Trong đó những biến đổi trong đời sống văn hóa vật chất
diễn ra nhanh hơn và có tác động trở lại đối với đời sống văn hóa tinh thần. Những
biến đổi trong đời sống văn hóa vật chất được thể hiện thông qua những thay đổi
về không gian sống, kiến trúc nhà ở và các tiện nghi sinh hoạt trong gia đình. Còn
trong khía cạnh văn hóa tinh thần, nổi lên là những thay đổi trong cách ứng xử,
chuẩn mực, giá trị, trong quan hệ gia đình, dòng họ, cộng đồng, một số phong tục
tập quán và sử dụng thời gian rỗi vào giải trí. Những biến đổi này bao hàm trong
nó cả những mặt tích cực và tiêu cực.
Một trong những nhân tố chính dẫn đến nhưng thay đổi trong đời sống văn
hóa ở phường Định Công và xã Minh Khai trong những năm gần đây là do quá
trình đô thị hóa. Quá trình này đã và đang làm thay đổi cơ cấu kinh tế - xã hội và
thúc đẩy sự giao lưu, tiếp xúc văn hóa giữa nông thôn với đô thị, từ đó dẫn đến
những thay đổi trong đời sống văn hóa của người dân nơi đây. Tuy nhiên, quá
trình thay đổi và thích nghi văn hóa của người dân ở phường Định Công và xã
Minh Khai không phải diễn ra theo một cách đơn thuần từ văn hóa nông thôn sang
văn hóa đô thị mà còn bao hàm trong đó sự lưu giữ và khôi phục những giá trị văn
hóa truyền thống.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status