BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN QUỐC HUY
GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ
GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
VỚI CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở ĐỒNG NAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2014
BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN QUỐC HUY
GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ
GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
VỚI CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở ĐỒNG NAI
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
MÃ SỐ: 60 31 01 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐẶNG ĐỨC QUY
HÀ NỘI - 2014
KH&CN
Ủy ban nhân dân
UBND
Tăng trưởng kinh tế
TTKT
Trước công nguyên
TCN
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương1
1.1.
1.2.
Chương 2
2.1.
2.2.
Một số giải pháp chủ yếu về giải quyết mối quan hệ giữa
tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội ở Đồng Nai
trong thời gian tới
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
13
13
25
35
35
54
65
65
68
81
82
88
3
MỞ ĐẦU
điểm phía Nam và gấp 1,9 lần so với mức tăng chung của cả nước, giai đoạn
2011 – 2013 tăng bình quân 12.3% gấp đôi so với tốc độ tăng trưởng chung
của cả nước [Phụ lục 1]. Nhờ tăng trưởng liên tục và ổn định đã cải thiện đáng
kể thu nhập và đời sống người lao động. Nếu như thu nhập bình quân đầu
người năm 2008 là 1068,8 USD thì đến năm 2013 (chỉ sau 5 năm) thu nhập
bình quân đầu người đã tăng lên gấp đôi với mức 2.138 USD/ người. Sự tăng
trưởng đó đã góp phần tích cực làm thay đổi diện mạo của Đồng Nai trên
nhiều lĩnh vực, đặc biệt sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực đã
hình thành nên các vùng kinh tế công nghiệp, các cụm công nghiệp mới tạo
động lực cho sự phát triển của Đồng Nai trong tương lai.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu mà quá trình tăng trưởng kinh tế
đem lại cũng đã và đang xuất hiện một số vấn đề bất cập, liên quan đến sự
phát triển bền vững ở Đồng Nai. Đó là tình trạng chất lượng tăng trưởng còn
chưa đảm bảo, chủ yếu mới chú trọng tăng trưởng theo chiều rộng, năng suất
lao động còn thấp trong các nhóm ngành dịch vụ, hiệu quả sử dụng vốn không
cao; trình độ công nghệ của các doanh nghiệp trong tỉnh còn ở mức trung bình
và thấp so với khu vực và thế giới; môi trường bị tác động nghiêm trọng; Hệ
thống an sinh xã hội chưa được đảm bảo. Đặc biệt, việc tiếp cận các dịch vụ
xã hội trong lĩnh vực học tập, khám chữa bệnh, vui chơi giải trí còn nhiều
điều bất cập, chưa bảo đảm sự công bằng, sự phân hoá giàu nghèo giữa các
tầng lớp dân cư ngày càng dãn cách, nhất là giữa thành thị và nông thôn.
Vì thế, giải quyết các chính sách xã hội trong quá trình phát triển kinh
tế đã và đang trở thành vấn đề bức thiết hàng đầu, là mục tiêu phấn đấu của
Đồng Nai trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH. Với lý do đó, tác giả lựa
chọn đề tài: “Giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng
xã hội ở Đồng Nai” làm luận văn thạc sĩ kinh tế của mình.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
5
trị quốc gia ấn hành, 2010). Các tác giả đã đi sâu nghiên cứu mối quan hệ
giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội và cho rằng đó là mối
quan hệ cơ bản, phức tạp, cực kỳ quan trọng đòi hỏi Nhà nước ta phải có
những biện pháp để giải quyết thỏa đáng.
- “Tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam” của Nguyễn Văn
Nam, Trần Thọ Đạt (Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, 2006).
Các tác giả đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan
đến tốc độ, chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. Qua việc phân tích
thực trạng, chất lượng tăng trưởng kinh tế ở nước ta giai đoạn cuối thế kỷ XX
đến đầu thế kỷ XXI, các tác giả cho rằng, những yếu tố thể hiện chất lượng
tăng trưởng của nền kinh tế nước ta là: tổng giá trị sản xuất, tổng sản phẩm
quốc nội, tổng thu nhập quốc dân, thu nhập bình quân đầu người và một
số các tiêu chí định tính khác như: xóa đói giảm nghèo, phúc lợi xã hội, công
bằng xã hội, môi trường môi sinh. Cũng trong cuốn sách này, các tác giả đã
chỉ ra và phân tích những giải pháp cơ bản để thúc đẩy kinh tế Việt Nam tăng
trưởng đạt chất lượng và hiệu quả cao.
- “Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam
thời kỳ đổi mới” TS Nguyễn Thị Nga (Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội,
2007). Tác giả tập trung phân tích và luận chứng những quan điểm cơ bản của
Đảng Cộng sản Việt Nam về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công
bằng xã hội ở nước ta hiện nay. Cụ thể là: Tăng trưởng kinh tế và công bằng
xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội; Để công bằng
xã hội trở thành động lực phát triển, cần phải gắn quyền lợi với nghĩa vụ,
cống hiến với hưởng thụ; Thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế và công
bằng xã hội trên phạm vi cả nước, ở mọi lĩnh vực, ngay trong từng bước và
từng chính sách phát triển; Bảo đảm sự thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế và
công bằng xã hội nhằm phát triển con người, phát huy nhân tố con người;
Phát huy vai trò của nhà nước và đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động xã hội.
8
Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2010. Tác giả đã phân tích vấn đề
kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội ở Đồng Nai dưới giác
độ triết học nhằm luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra cho
Đồng Nai trong thời gian tới.
- “Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội – một số vấn đề lý luận và
thực tiễn ở một số tỉnh miền Trung” của các tác giả Phạm Hảo, Võ Xuân Tiến,
Mai Đức Lộc (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000) đã phân tích
mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã
hội, làm rõ thực trạng và những vấn đề đặt ra trong việc kết hợp phát triển
kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội ở nông thôn Bắc Trung Bộ, bước đầu
nêu lên những giải pháp chủ yếu để kết hợp phát triển kinh tế với giải quyết
các vấn đề xã hội ở nông thôn khu vực Bắc Trung Bộ.
- “Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội lý thuyết và thực tiễn ở
thành phố Hồ Chí Minh” của TS. Đỗ Phú Trần Tình (Nhà xuất bản Lao động,
năm 2010). Tác giả khảo sát một yếu tố quan trọng hỗ trợ tăng trưởng kinh tế là
công bằng xã hội, là yếu tố tác động thuận lợi để giúp tăng trưởng có chất
lượng ngày càng cao. Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội luôn là mục tiêu
xuyên suốt trong chiến lược tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, và tác giả chọn
khảo sát phạm vi Thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ gần hai mươi năm qua,
nhằm xem xét các yếu tố đặc trưng trong tăng trưởng kết hợp công bằng xã hội
của Thành phố. Qua khảo sát, phỏng vấn ý kiến thực tế của dân cư thành phố,
Tác giả đề xuất các biện pháp kỳ vọng giúp giải quyết tốt hơn quan hệ giữa
tăng trưởng và công bằng xã hội.
Nhìn chung các công trình trên bàn đến các lý thuyết về mô hình tăng
trưởng, mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội với những
điều kiện khác nhau và đưa ra những bài học kinh nghiệm có giá trị nhất định.
* Về các bài báo, bài viết trên các tạp chí, các hội thảo khoa học:
10
12-17. Trong bài viết, tác giả phân tích vấn đề thực hiện công bằng xã hội
trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam hiện nay trên cơ sở làm rõ sự khác nhau, mối quan hệ gắn bó
giữa công bằng xã hội và bình đẳng xã hội, thực trạng thực hiện công bằng xã
hội ở Việt Nam trước và trong những năm đổi mới, tác giả đã đi đến kết luận:
chỉ có trên cơ sở dựa vào công bằng xã hội để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,
đồng thời kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội và công bằng xã hội
ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển, chúng ta mới vừa
đảm bảo được mục tiêu tăng trưởng kinh tế, vừa thực hiện được định hướng
xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường.
Ngoài ra còn một số bài viết trên các tạp chí khoa học đề cập đến vấn
đề tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội như: “ Một số vấn đề lý luận và
thực tiễn xung quanh việc thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay”
của GS.TS Lê Hữu Tầng (Tạp chí Triết học, số 1, 2008, tr38-44); “Một số
giải pháp nhằm kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội ở nước ta
hiện nay” của PGS.TS Trần Văn Phòng (Tạp chí Khoa học chính trị số 22006, trang 23-27); “Tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện công bằng xã
hội: động lực giảm nghèo ở Việt Nam” của PGS.TS Đỗ Đức Định (Tạp chí
Cộng sản số 777 (tháng 7/2007))…..
Các công trình khoa học, các bài viết nêu trên, dù ở các góc độ tiếp cận
khác nhau, nhưng đã đề cập khá đầy đủ về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh
tế với công bằng xã hội ở Việt Nam trên bình diện vĩ mô. Tuy nhiên, mỗi địa
phương do những đặc thù riêng biệt về các đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội,
chi phối, nên việc giải quyết mối quan hệ này cũng có những yêu cầu khác
nhau. Cho đến nay, mặc dù đã có khá nhiều đề tài luận văn nghiên cứu về mối
quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam nói chung
và ở Đồng Nai nói riêng, nhưng tiếp cận nghiên cứu vấn đề này dưới góc độ
kinh tế chính trị thì chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn
liệu từ năm 2001 đến nay
12
5. Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Luận văn thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng
sản Việt Nam; các chính sách, pháp luật của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam.
* Phương pháp luận nghiên cứu
Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Đồng thời kết hợp sử dụng các phương pháp của
khoa học kinh tế chính trị và các phương pháp khác: phân tích và tổng hợp,
logic và lịch sử, thống kê, so sánh.
6. Ý nghĩa của đề tài
- Ở một mức độ nhất định, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần đưa
ra những cơ sở khoa học cho việc hoạch định và thực thi các chính sách kinh tế xã hội, nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở Đồng Nai hiện nay.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy và
nghiên cứu một số chuyên đề trong chương trình trung cấp lý luận chính trị ở
Đồng Nai.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục,
luận văn gồm 3 chương, 7 tiết.
13
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ
GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI CÔNG BẰNG XÃ HỘI
sách "Bàn về bản chất và nguyên nhân giàu có của các quốc gia” ông bàn về
tính chất, nguyên nhân và điều kiện thuận lợi của tăng trưởng kinh tế. Ông
quan niệm: tăng trưởng kinh tế là tăng đầu ra tính theo bình quân đầu người,
hoặc tăng sản phẩm lao động. D.Ricardo (1772 – 1823), kế thừa Adam Smith
nhưng ông mở rộng sang vấn đề phân phối, thu nhập, chú trọng đến phân tích
tỷ lệ phân phối của các loại thu nhập và ảnh hưởng đến tích lũy tư bản từ đó
ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.
Ngày nay, tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề được quan tâm
hàng đầu tại mỗi quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế, nhất là ở giai đoạn
đầu của quá trình phát triển và cùng với thời gian, quan niệm về vấn đề này ngày
càng hoàn thiện hơn. Trong ngôn ngữ sử dụng hàng ngày chúng ta có thể dùng
khái niệm “tăng”, “sự gia tăng”, “sự tăng lên”… để chỉ sự tăng trưởng. Trong kinh
tế học, thuật ngữ tăng trưởng kinh tế được sử dụng rộng rãi và có nhiều cách tiếp
cận khác nhau:
Theo TS Nguyễn Xuân Phong thì “Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng sản
lượng thực tế của một nền kinh tế theo thời gian, là mức tăng quy mô và tốc độ
sản phẩm, là sự tăng thêm về quy mô sản xuất mà từ đó tăng lượng sản phẩm
hàng hóa và dịch vụ trong một thời gian nhất định (thường là một năm). Nếu
tổng sản phẩm hàng hóa của một quốc gia tăng lên thì đó được coi là tăng trưởng
kinh tế” [60, tr.23].
Theo TS Phạm Ngọc Linh, Nguyễn Thị Kim Dung thì “Tăng trưởng kinh
tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất
định (thường là một năm)” [48, tr.14].
Tuy có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa về TTKT, song phần lớn đều
thống nhất những nội dung căn bản ở quan niệm sau đây: “Tăng trưởng kinh
15
tế là sự gia tăng thu nhập thực tế hay sự gia tăng về quy mô sản lượng của
toàn bộ nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là lấy một
nhân tố tác động trực tiếp tới tổng cung và các nhân tố tác động trực tiếp tới
tổng cầu:
- Vốn: Là yếu tố vật chất đầu vào quan trọng, có tác động trực tiếp đến
tăng trưởng kinh tế. Vốn sản xuất có liên quan trực tiếp đến tăng trưởng kinh
tế là vốn vật chất, nó là toàn bộ tư liệu vật chất được tích luỹ lại của nền kinh
tế, bao gồm: nhà máy, thiết bị, máy móc, nhà xưởng và các trang thiết bị được
sử dụng như những yếu tố đầu vào sản xuất.
- Lao động: Là yếu tố đầu vào không thể thiếu của sản xuất, là yếu tố
đặc biệt quan trọng của quá trình sản xuất. Trước đây người ta chỉ quan niệm
lao động là yếu tố vật chất đầu vào giống như vốn, được xác định bằng số lao
động của mỗi quốc gia và được tính bằng đầu người hay thời gian lao động.
Những mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại gần đây đã nhấn mạnh đến khía
cạnh phi vật chất của lao động là vốn con người, đó là lao động có sáng kiến
và phương pháp mới trong hệ thống hoạt động kinh tế …
- Tài nguyên: (bao gồm đất đai, tài nguyên trong lòng đất); các tài
nguyên thiên nhiên dồi dào, phong phú được khai thác tạo điều kiện tăng sản
lượng đầu ra một cách nhanh chóng, nhất là đối với các nước đang phát triển.
Song, tài nguyên thì có hạn, không thể tái tạo được, hoặc nếu tái tạo được
phải mất nhiều thời gian, sức lực và chi phí. Do đó, tài nguyên được đưa vào
sử dụng để tạo ra sản phẩm cho xã hội ngày càng nhiều càng tốt nhưng phải
đảm bảo chúng được sử dụng hiệu quả, không lãng phí. Việc sử dụng tài
nguyên là vấn đề có tính chiến lược, lựa chọn công nghệ để có thể sử dụng
hiệu quả và tiết kiệm tài nguyên quốc gia là vấn đề sống còn của sự phát triển.
Sử dụng lãng phí tài nguyên có thể được xem như sự huỷ hoại môi trường,
làm cạn kiệt tài nguyên
- Tiến bộ công nghệ: là yếu tố tác động ngày càng mạnh đến tăng
trưởng ở các nền kinh tế ngày nay. Yếu tố công nghệ cần được hiểu đầy đủ
17
18
tới thu nhập được tạo ra bởi các yếu tố sản xuất diễn ra trong nước, tổng thu
nhập quốc gia bằng tổng sản phẩm trong nước cộng với thu nhập yếu tố thuần
(nghĩa là cộng với thu nhập yếu tố từ nước ngoài trừ đi chi trả yếu tố cho
nước ngoài).
- Tổng sản phẩm quốc dân (GNP): là tổng giá trị bằng tiền của các sản
phẩm cuối cùng và dịch vụ mà công dân của một nước làm ra trong một
khoảng thời gian nào đó, thông thường là một năm tài chính, không kể làm ra
ở đâu (trong hay ngoài nước).
- GDP bình quân đầu người (GDP/người): là chỉ tiêu phản ánh một
cách tổng quan mức sống dân cư và được tính bằng tỷ lệ giữa tổng sản phẩm
trong nước với tổng dân số trung bình trong năm. Tổng sản phẩm trong nước
bình quân đầu người có thể tính theo giá thực tế, giá so sánh, tính theo nội tệ
hoặc theo ngoại tệ. Sự gia tăng liên tục với tốc độ ngày càng cao của chỉ tiêu
này là dấu hiệu thể hiện sự tăng trưởng bền vững và nó còn được sử dụng
trong việc so sánh mức sống dân cư giữa các quốc gia hoặc giữa các tỉnh,
thành phố trong cả nước với nhau.
1.1.2 Công bằng xã hội
* Quan niệm về Công bằng xã hội
Trong kinh tế học có hai khái niệm về công bằng xã hội thường được
sử dụng là công bằng theo chiều ngang và công bằng theo chiều dọc. Công
bằng theo chiều ngang có nghĩa là đối xử như nhau với những người có đóng
góp như nhau. Công bằng theo chiều dọc nghĩa là đối xử khác nhau với những
người có những khác biệt bẩm sinh hoặc có các điều kiện xã hội khác nhau.
Nếu công bằng theo chiều ngang được thực hiện bởi cơ chế thị trường thì
công bằng theo chiều dọc cần có sự điều tiết của Chính phủ. Việc phân định
và kết hợp công bằng theo chiều ngang và công bằng theo chiều dọc sẽ đảm
bảo công bằng xã hội thực sự. Như vậy công bằng xã hội là một khái niệm rất
rộng bao gồm cả các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa. Xét một cách
sản trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng bước bổ sung, phát triển
21
bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động của quá trình đổi
mới toàn diện đất nước. Đại hội Đảng lần thứ VI là bước đột phá lớn và toàn
diện làm xoay chuyển tình hình đưa nước ta tiến lên, Đại hội Đảng VI xác
định: “Cần sửa đổi, bổ sung và công bố rộng rãi chính sách nhất quán đối với
các thành phần kinh tế, phải có những quy định mang tính nguyên tắc pháp
luật để mọi người yên tâm, mạnh dạn kinh doanh… song, về pháp luật phải
thực hiện nguyên tắc bình đẳng. Những người làm ra của cải và những việc có
ích cho xã hội, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, chấp hành nghiêm pháp luật và chính
sách đều được tôn trọng, được quyền hưởng thu nhập tương xứng với kết quả lao
động, kinh doanh hợp pháp của họ” [26, tr.61]. Sau đó nội dung này đã được
làm rõ và sâu sắc thêm tại các kỳ Đại hội Đảng tiếp theo (Đại hội VII năm
1991, Đại hội VIII năm 1996, Đại hội IX năm 2001, Đại hội X năm 2006 và
Đại hội XI năm 2011). Ở nước ta hiện nay, công bằng xã hội là một giá trị cơ
bản định hướng cho việc giải quyết mối quan hệ giữa người với người trong
tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội theo nguyên tắc: cống hiến về vật chất
và tinh thần ngang nhau cho sự phát triển xã hội thì được hưởng thụ ngang
nhau những giá trị vật chất và tinh thần do xã hội tạo ra phù hợp với khả năng
hiện thực của đất nước. Song vì hoàn cảnh cụ thể của mỗi người khác nhau,
cho nên việc tạo điều kiện cho mọi người, nhất là những người có hoàn cảnh
khó khăn đều có thể tiếp cận công bằng các cơ hội phát triển, các nguồn lực
phát triển, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản về giáo dục, y tế, việc làm,
thông tin,… mang tính an sinh xã hội luôn giữ một vai trò quan trọng trong
việc thực hiện công bằng xã hội ở nước ta hiện nay.
Như vậy, công bằng xã hội là khái niệm có nội dung kinh tế, chính trị
phức tạp hơn nhiều so với khái niệm tăng trưởng kinh tế. Công bằng xã hội
hiểu theo nghĩa chung nhất là sự ngang bằng nhau trong mối quan hệ giữa
tiếp cận đến thu nhập trong quan hệ và hình thức phân phối nhất định, đến
phúc lợi xã hội và điều kiện sống để mỗi người được hưởng thụ đầy đủ hơn
các thành quả làm ra là thực hiện công bằng xã hội.
23
- Trình độ người dân: Trình độ, sự hiểu biết của người dân về pháp
luật, chính sách của Nhà nước giúp họ bảo vệ quyền lợi của mình và đấu
tranh để đòi quyền lợi chính đáng của mình đồng thời chống những biểu hiện
tiêu cực, bất công xã hội, thực hiện công bằng xã hội.
* Các thước đo đánh giá sự bất bình đẳng và công bằng xã hội
Do nội hàm của công bằng xã hội phức tạp nên việc định lượng mức
độ công bằng xã hội là rất khó khăn. Người ta đã sử dụng nhiều thước đo
khác nhau nhưng kết quả chỉ mang ý nghĩa tương đối. Các thước đo thường
được sử dụng phổ biến sau đây:
- Đường cong Lorenz
Conrad Lorenz nhà thống kê người Mỹ đã xây dựng biểu đồ biểu thị
mối quan hệ giữa các nhóm dân số và tỷ lệ thu nhập tương ứng với họ. Đường
cong Lorenz được biểu thị trong một hình vuông, cạnh đáy biểu thị phần
trăm cộng dồn của dân số và được sắp xếp theo thứ tự thu nhập tăng dần và
cạnh trái biểu thị tỷ lệ tổng thu nhập mà mỗi phần trăm trong dân số nhận
được. Đường chéo của hình vuông (Đường 450) là đường công bằng tuyệt đối.
Đường Lorenz cho thấy mối quan hệ định lượng thực sự giữa tỷ lệ phần trăm
của dân số có thu nhập và tỷ lệ phần trăm trong tổng thu nhập nhận được
trong một khoảng thời gian nhất định chẳng hạn là một năm.
Khoảng cách giữa đường chéo (đường 450) và đường Lorenz là dấu
hiệu cho biết mức độ bất bình đẳng. Đường Lorenz càng cách xa đường 45 0
thì mức độ bất bình đẳng càng lớn. Điều đó cũng có nghĩa là phần trăm thu
nhập người nghèo nhận được sẽ giảm đi.
- Hệ số Gini: