Phân tích hoàn cảnh ra đời và vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đối với sự hình thành Đảng Cộng Sản Việt Nam - Pdf 50

Câu I: Phân tích hoàn cảnh ra đời và vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đối với
sự hình thành Đảng Cộng Sản Việt Nam
 Hoàn cảnh lịch sử của sự ra đời Đảng Cộng Sản Việt Nam.
1. Hoàn cảnh quốc tế:
- Trên thế giới lúc này Chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ và chuyển sang Đế
quốc chủ nghĩa, chúng tiến hành đi xâm chiếm các nước khác, nhiều dân tộc bị áp bức
thống trị. Vấn đề dân tộc nổi lên và trở thành vấn đề của thời đại.
- Chủ nghĩa Mác-Lênin lúc này đã phát triển mạnh mẽ, Cách Mạng Tháng 10 Nga
thành công và một nước Xã Hội Chủ Nghĩa đầu tiên ra đời, mở ra một thời đại mới trong
lịch sử phát triển của loài người, thức tỉnh và cổ vũ các dân tộc bị áp bức đứng lên đấu
tranh giải phóng. Cuộc cách mạng đó đã đem lại cho nhân dân một cuộc sống mới tốt đẹp
hơn.
- Nhiều nước học tập kinh nghiệm của Cách Mạng Tháng 10 (Cách Mạng Vô Sản
đã làm thay đổi toàn bộ bộ mặt của nước Nga biến một nước Nga tiền Tư bản rất lạc hậu,
người dân vô cùng cực khổ thành một nước Xã Hội Chủ Nghĩa hoàn toàn và trong đó có
Việt Nam, sự học tập này kinh nghiệm đúng đắn của Cách Mạng Tháng 10 Nga đã dẫn
đến sự ra đời của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
- Các Đảng Cộng Sản liên kết với nhau thành lập Quốc tế Cộng Sản, trong quốc tế
Cộng Sản có rất nhiều Đảng Cộng Sản rất nhiệt tình ủng hộ và giúp đỡ Việt Nam, trong
đó nổi bật nhất là: Đảng Cộng Sản Pháp, Đảng Cộng Sản Ấn Độ, Đảng Cộng Sản Trung
Quốc và Đảng Cộng Sản Thái Lan.
2. Hoàn cảnh trong nước:
a. Việt Nam từ nước phong kiến độc lập trở thành nước thuộc địa
- Từ đâu thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phương Tây, trong đó có đế quốc Pháp, đã
âm mưu xâm lược nước ta, mở đầu bằng việc khai thông buôn bán và truyền giáo.
- Nǎm 1858, đế quốc Pháp vũ trang xâm lược nước ta. Vua quan triều đình nhà
Nguyễn từng bước đầu hàng chúng. Ngày 6 tháng 6 nǎm 1884, triều đình nhà Nguyễn đã
ký Hiệp ước Patơnốt, hoàn toàn dâng nước ta cho đế quốc Pháp. Từ đó, Việt Nam trở
thành thuộc địa của đế quốc Pháp. Dưới chế độ thống trị của đế quốc Pháp và tay sai của
chúng, xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi.
- Về chính trị thực dân Pháp thi hành chính sách chuyên chế. Mọi quyền hành đều

nông dân, vừa đấu tranh chống đế quốc Pháp, vừa chống lại triều đình bán nước.
- Một bộ phận nhỏ chuyển sang kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa. Giai cấp tư
sản Việt Nam xuất hiện từ trong thời gian Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918),
vừa ra đời đã bị sự chèn ép của tư bản Pháp và phân hoá thành hai bộ phận. Một số ít ôm
chân đế quốc, tham gia vào các cơ quan chính trị và kinh tế của đế quốc Pháp, trở thành
lớp tư sản mại bản. Một bộ phận khác tuy có mâu thuẫn nhất định với tư bản Pháp và
triều đình phong kiến, nhưng thế lực kinh tế yếu ớt, què quặt, phụ thuộc, khuynh hướng
chính trị cải lương. Do vậy, giai cấp tư sản dân tộc Việt Nam tuy có tinh thần yêu nước,
chống phong kiến và đế quốc, nhưng họ không có khả nǎng lãnh đạo cách mạng. Họ chỉ
có thể tham gia cuộc đấu tranh ấy trong điều kiện nhất định.
- Tầng lớp trí thức và tiểu tư sản là những người vốn được chế độ phong kiến và
thực dân đào tạo. Nhưng do truyền thống yêu nước chi phối, họ khao khát độc lập, tự do,


dân chủ, nên cũng bị phân hoá. Một số ít cam tâm làm tay sai. Số đồng vẫn giữ được khí
tiết dù ở hoàn cảnh nào cũng không nguôi lòng cứu nước. Khi có điều kiện, những trí
thức yêu nước thường đóng vai trò truyền bá những tư tưởng mới và là ngòi pháo của các
cuộc đấu tranh chống thực dân, phong kiến.
- Giai cấp nông dân khao khát độc lập và ruộng đất, hǎng hái chống đế quốc và
phong kiến. Sau phong trào Vǎn thân, Cần vương, nhất là sau thất bại của cuộc khởi
nghĩa Yên thế (1913), phong trào nông dân bị phân tán. Nông dân là một lực lượng đông
đảo, yêu nước, nhưng không thể tự vạch ra đường lối đúng đắn để tự giải phóng và không
thể đóng vai trò lãnh đạo cách mạng.
- Giai cấp công nhân Việt Nam là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai thác
thuộc địa của thực dân Pháp. Lớp công nhân đầu tiên xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX, khi
thực dân Pháp xây dựng một số cơ sở công nghiệp, đồn, trại và thành phố phục vụ cho
cuộc xâm lược và binh định nước ta.
- Sinh trưởng trong một nước thuộc địa, nửa phong kiến, cũng như nông dân và
các tầng lớp lao động khác, giai cấp công nhân Việt Nam bị ba tầng áp bức, bóc lột của đế
quốc, phong kiến và tư sản, phần lớn xuất thân từ nông dân. Đó là cơ sở khách quan

nước ta bộc lộ sâu sắc. Sau khi từng bước ly khai con đường giải phóng dân tộc theo hệ tư
tưởng phong kiến, nhiều người yêu nước Việt Nam hướng ra nước ngoài, tìm đến nhưng
con đường mới để mưu sự nghiệp giải phóng dân tộc như: con đường Duy Tân của Nhật
Bản (1860), con đường Cách mạng tư sản Pháp (1789), con đường Cách mạng Tân Hợi
của Trung Quốc (1911)...
- Ý thức hệ tư sản phương Tây đã thâm nhập vào Việt Nam. Một số sĩ phu tiến bộ
tiếp thu tràn lưu tư tưởng này, mong muốn nước mạnh, dân giàu theo con đường tư bản
chủ nghĩa. Họ muốn noi theo con đường phát triển của Nhật Bản, dựa vào Nhật để đánh
Pháp. Tiêu biểu cho khuynh hướng này là hội Duy Tân do cụ Phan Bội Châu sáng lập, với
mục đích cổ động phong trào, tổ chức lực lượng chống Pháp theo tôn chỉ "mở mang dân
trí, chấn hưng dân khí, vun trồng nhân tài". Số khác như các cụ: Lương Vǎn Can, Nguyễn
Quyền... mở trường Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội nhằm cổ động tinh thần yêu nước,
bài xích chính sách cai trị của thực dân Pháp, khuyến khích cải cách, chế diễu lũ phong
kiến, cường hào v.v.. Là một nhà yêu nước nhiệt thành, nhưng chủ trương của cụ Phan
Chu Trinh khác hẳn với cụ Phan Bội Châu. Cụ Phan Chu Trinh tiêu biểu cho xu hướng
cải cách dân chủ tư sản (1789), phản đối việc vũ trang bạo động chống Pháp. Cụ nói: "Bất
bạo động, bạo động tắc tử, bất vọng ngoại, ngoại vọng tất vong". Đó là lời tuyên bố của
cụ Phan Chu Trinh sau khi đi Nhật về (15-8-1906). Phong trào Đông Du, Đông Kinh
Nghĩa Thục, chống đi phu, nộp thuế ở Trung Kỳ là kết quả của khuynh hướng tư tưởng tư
sản.
- Tính chất phong trào dân tộc ở thời kỳ này có chuyển biến khác trước Một số tổ
chức yêu nước ra đời như hội Duy Tân (1904), trường Đông Kinh Nghĩa Thục (1907), hội
Đông Á đồng minh (1908), Việt Nam quang phục Hội (1912-1924) v.v.. Song, vì đường
lối chính trị của các tổ chức này không rõ ràng, nhất là không dựa vào quần chúng lao
động, mà dựa vào uy tín cá nhân, nên không tạo ra được sự thống nhất trong những người
đề xướng phong trào. Vì vậy, khi những người thủ lĩnh bị đế quốc Pháp bắt thì phong trào
cũng tan rã theo.
- Cách Mạng Tháng 10 Nga thành công (1917) đánh dấu bước phát triển mới trong
lịch sử nhân loại. Quốc tế cộng sản, bộ tham mưu của giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp
bức toàn thế giới được thành lập. ở Trung Quốc, sau phong trào Ngũ Tứ, Đảng cộng sản

Đảng Cộng Sản (3/2/1930) . Đây là tổ chứctiên phong có đủ thế và lực để làm điều này.
Câu II: Bản chất giai cấp công nhân của Đảng thể hiện ở những điểm chú ý nào
trong điều lệ Đảng ?
- Từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta luôn khẳng định bản chất giai cấp công nhân
của mình.
+ Trong "Chương trình tóm tắt" được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng
khẳng định: "Đảng là đội tiên phong lãnh đạo của đội quân vô sản gồm một số lớn giai
cấp công nhân và làm cho họ có đủ năng lực lãnh đạo quần chúng".
+ Sách lược vắn tắt viết: "Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp, phải thu
phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo đợc quần
chúng".
+ Đại hội X đã thông qua sự diễn đạt về Đảng là: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội
tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và
của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân
lao động và của dân tộc".
- Sự diễn đạt như trên thể hiện ở hai nội dung sau:
+ Đảng là đội tiền phong của giai cấp công nhân Việt Nam và đồng thời là đội tiền
phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc.
+ Đảng là đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao
động và của dân tộc Việt Nam.


- Xuất phát từ nhận thức khoa học về vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
nhân.
+ Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là phạm trù cơ bản nhất của Chủ Nghĩa
xã hội khoa học. Phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là một trong những
cống hiến vĩ đại nhất của Chủ nghĩa Mác - Lênin.
Để hiểu rõ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, trước hết cần làm rõ khái niệm
giai cấp công nhân.
+ Khái niệm giai cấp công nhân (theo Nghị quyết Trung ương 6 khoá X).

tưởng Hồ Chí Minh. Xuất phát từ thực tiễn lịch sử của nước ta đề ra đường lối, chủ tr-


ương và các chính sách đúng đắn; đồng thời bằng hành động cách mạng biến đường lối,
chủ trương đó thành hiện thực sinh động trên mọi mặt của đời sống xã hội.
+ Đấu tranh kiên quyết, kịp thời chống lại mọi biểu hiện cơ hội, hữu khuynh, giáo
điều, bảo thủ; phê phán những luận điệu và thủ đoạn của các thế lực thù địch phủ nhận,
xuyên tạc Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
+ Luôn luôn phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn
hoá, tri thức của thời đại để làm giàu kiến thức, giải quyết thành công những vấn đề lý
luận và thực tiễn của cách mạng nước ta, góp phần vào sự nghiệp phát triển chung của thế
giới.
+ Giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và sinh hoạt Đảng, tập thể
lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Thờng xuyên tự phê bình và phê bình, giữ gìn sự đoàn kết
thống nhất trong Đảng.
+ Thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng lập trường, quan điểm, ý thức tổ chức của
giai cấp công nhân; xây dựng đội ngũ cán bộ và đảng viên theo quan điểm của giai cấp
công nhân.
+ Củng cố mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân, tăng cường khối đại đoàn
kết toàn dân, chăm lo đời sống và thực sự phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
+ Kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong
sáng của giai cấp công nhân. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, tạo
nên sức mạnh tổng hợp của cách mạng.
Câu III : Vì sao vấn đề xây dựng động cơ phấn đấu vào Đảng đúng đắn được đặt
lên hàng đầu và có ý nghĩa quyết định đối với việc phấn đấu trở thành Đảng viên Đảng
Cộng Sản Việt Nam ?
Đối với mỗi cá nhân muốn trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam cần phải
tự mình trả lời những câu hỏi: Tại sao ta vào Đảng ? Vào Đảng để làm gì ?, Mục tiêu lý
tưởng của Đảng ta là gì ?.
Lúc sinh thời Bác Hồ đã dạy: “Vì sao chúng ta vào Đảng ? Phải chăng để thăng

chủ của nhân dân. Vận động nhân dân sống và làm việc theo đường lối, chính sách của
Đảng và pháp luật của Nhà nước. Những hoạt động chính là cơ hội tốt giúp cho chúng ta
tiến bộ, trưởng thành về chính trị, tạo dựng sự tín nhiệm của nhân dân tạo đà cho mỗi
quần chúng phấn đấu trở thành đảng viên.
- Bốn là, tích cực tham gia xây dựng Đảng cơ sở. Để được đứng trong hàng ngũ
của Đảng chúng ta không những tự giác thừa nhận, tôn trọng sự lãnh đạo của Đảng mà
còn cần tích cực tham gia xây dựng Đảng, giúp Đảng phát hiện những quần chúng mất tư
cách đạo đức, phát hiện những đảng viên tha hoá về đạo đức, lối sống, chống tham nhũng
trong Đảng...
- Năm là, mỗi người chúng ta không ngừng đấu tranh với những hành vi vi phạm
pháp luật, đi ngược với chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, vận động quần
chúng nhân dân sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, tích cực góp phần xây
dựng sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá, thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh,
xã hội công bằng văn minh...
Động cơ thôi thúc chúng ta phấn đấu vào Đảng là để đứng trong một tổ chức tự
nguyện của những người cùng chung một chí hướng đấu tranh xây dựng một xã hội mới
tốt đẹp dân giàu, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên Chủ nghĩa xã
hội. Mỗi người chúng ta nguyện phấn đấu vào Đảng chính là tự nguyện dấn thân theo lý
tưởng cách mạng, chấp nhận hy sinh, không sợ khó, sợ khổ, quyết tâm theo đuổi đến cùng
con đường dẫn đến mục tiêu Chủ nghĩa xã hội. Mỗi đảng viên phải hiểu rõ cơ hội lớn của


công cuộc đổi mới hiện nay, ra sức nắm bắt để vận dụng vào nhiệm vụ của mình; phải
tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, bảo vệ đường lối, chủ trương, chính sách,
nghị quyết của Đảng và Nhà nước, chống lại sự phá hoại của kẻ thù. Thực hiện nghiêm
túc tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng, bảo đảm toàn thể thống nhất trong nội
bộ làm cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, tích cực làm công tác phát triển đảng viên
mới.
Cái được lớn nhất khi vào Đảng là có cơ hội được phục vụ cách mạng, phục vụ
nhân dân trong cuộc đấu tranh cho thắng lợi của chủ nghĩa xã hội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status