MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU
PHẦN I: KHÁI NIỆM NHÂN CÁCH ....................................................................1
PHẦN II: PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT
TRIỂN NHÂN CÁCH CÙNG SỰ LIÊN HỆ THỰC TẾ..........................................3
1.
2.
3.
4.
5.
Nhân tố di truyền(bẩm sinh)...........................................................................3
Nhân tố môi trường.........................................................................................5
Nhân tố giáo dục.............................................................................................8
Nhân tố hoạt động và nhân cách...................................................................10
Nhân tố giao tiếp và nhân cách ...................................................................10
PHẦN III: KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
LỜI MỞ ĐẦU
Từ “Nhân cách” bao quát môt phạm vi rộng rãi gồm cả tâm lý, cá tính, thái
độ cư xử ở đời, khả năng kiềm chế tâm, phong thái biểu lộ ra ngoài nơi cử chỉ... Có
những nhân cách vĩ đại như các bậc thánh muôn đời được truyền tụng như Socrate,
Jésus, Đức Phật, Lão Tử, Khổng Tử, San Francisco, Martin de porres,Gandhi,
...Bên cạnh những nhân cách trác việt đó, cũng có những hạng người tầm thường
chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân, nham hiểm, ác độc, lừa đảo, nóng nảy, cố chấp, hẹp
1
Đảng về con người mới và những quan niệm truyền thống của người Việt Nam ta.
Từ những cơ sở đó, có thể có một khái niệm về nhân cách là: “ nhân cách là một hệ
thống những phẩm giá xã hội của cá nhân, thể hiện những phẩm chất bên trong của
cá nhân hay những mối quan hệ của cá nhân này với cá nhân khác, với tập thể, với
xã hội, với thế giới xung quanh và mối quan hệ của cá nhân trong quá khứ, hiện tại
và tương lai”. Nhân cách là tổ hợp những thuộc tính tâm lý cuả một cá nhân được
biểu hiện ở bản sắc và giá trị xã hội của người ấy.
PHẦN II: PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA CÁC NHÂN TỐ ĐỐI VỚI SỰ HÌNH
THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CÙNG NHỮNG LIÊN HỆ THỰC TẾ.
1. Nhân tố di truyền (bẩm sinh).
Bẩm sinh – di truyền là đặc điểm giải phẫu- sinh lý của hệ thần kinh và của các cơ
quan cảm giác, vận động. Nó đóng vai trò tiền đề cho sự hình thành sự hình thành
và phát triển nhân cách, nó làm cho quá trình hình thành và phát triển nhân cách
diễn ra nhanh chóng, hay chậm chạp, thuận lợi hay khó khăn. C.Mac đã nói: “ Con
người là một thực thể sinh học xã hội”. Khi nói tới các nhân tố sinh học của con
người, chúng ta có thể nhận thức đó là những nhân tố hữu sinh, hữu cơ, di
truyền,... là hệ thống đảm nhận phục tùng những quy luật sinh học, và đầy đủ nhất
đó là toàn bộ tiền đề sinh học ở con người. Và những tiêu đề sinh học này được coi
là những cơ sở vật chất và có ảnh hưởng trực tiếp đến hình thành, phát triển nhân
cách của con người. Thực tế đã chứng minh những khiếm khuyết về mặt cơ thể,
kiểu gen,... ảnh hưởng không nhỏ đến sự hình thành, phát triển của con người, hay
là định hướng giá trị của họ. Ví dụ: Ở những con người do sinh ra đã nhiễm căn
bệnh HIV, thân hình nhỏ bé, gầy gò,.. thì trong hoạt động của mình họ trở nên e
ngại, ít nói, thâm chí là trầm cảm. Tuy nhiên chúng ta không thể quyết định vội vã
vai trò theo hướng tiêu cực do những mặt khiếm khuyết sinh học đem lại cho cơ
thể con người trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách. Đôi khi, hoạt
động tâm sinh lý của con người lại có khả năng bù trừ những thiếu hụt của một
3
tích lũy kinh nghiệm, chịu tác động mạnh mẽ của xã hội con người.Ngoài ra có sự
tác động của các yếu tố khác dối với từng giai đoạn phát triển lứa tuổi, và đối với
từng hoạt động cụ thể khác nhau.
Nhân tố bẩm sinh di truyền có một vai trò to lớn trong sự hình thành và phát triển
nhân cách. Chính nó đã tham gia vào sự hình thành cơ sở vật chất, các hiện tượng
tâm lý- những đặc điểm giải phẫu và sinh lý cơ thể trong đó có hoạt động thần
kinh. Tuy nhiên nhân tố này cũng không quyết dịnh chiều hướng và nội dung của
sự phát triển nhân cách.
2. Nhân tố môi trường.
2.1 nhân tố môi trường tự nhiên.
Nó bao gồm những điều kiện tự nhiên, hệ sinh thái, phục vụ cho các hoạt động
sống của con người. Nhân tố này quy định các đặc điểm của dạng, các ngành sản
xuất, đặc tính nghề nghiêp hay phương thức trong hoạt động sống của con người.
Nhân cách như một thành viên trong xã hội chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố tự
nhiên thông qua các giá trị vật chất, tinh thần, phong tục tập quán,... thực tế một số
nhà tâm lý học phương tây đã đề cao vai trò của điều kiện tự nhiên trong quá trình
hình thành và phát triển nhân cách con người, họ cho rằng người phương Bắc thì
mạnh mẽ nhưng lạnh nhạt, người phương Nam thì yếu ớt, nhưng dễ gần. Đây là
những quan điểm thiếu tính khoa học. Chúng ta cần phải thừa nhận quan điểm của
những nhà tâm lý học hiện đại cho rằng hoàn cảnh sống trong tự nhiên không giữ
vai trò chủ yếu mà chỉ có sự ảnh hưởng nhất định, gián tiếp trong sự hình thành và
phát triển nhân cách.
2.2 Nhân tố môi trường xã hội.
Trước hết, ta cần nhận thức rõ về sự ảnh hưởng nói chung về vai trò của xã hội đối
với sự hình thành và phát triển nhân cách con người. Nếu con người ít tiếp xúc với
thế giới xung quanh hoặc môi trường sống quá là đơn điệu thì sẽ nghèo nàn tâm lý,
kém sự linh động.
5
tư tưởng đạo đức và ở những mức độ khác nhau qua những phong tục tập quán. Vì
vậy, có một nhân cách như thế nào đó là sự lựa chọn của mỗi con người.
Quá trình hình thành và phát triển nhân cách là quá trình con người nắm lấy kinh
nghiệm đới sống xã hội và đây là sự thống nhất giữa các đối tượng khác với việc
con người dành lấy bản chất xã hội của mình. Các nhà ngiên cứu cho rằng môi
trường xã hội bao gồm: môi trường vi mô và môi trường vĩ mô. Môi trường vĩ mô
là nguyên nhân chung của tính quy định của môi trường xã hội, môi trường vi mô
là hoàn cảnh xã hội trực tiếp mang tính đặc thù trong tính quyết định của xã hội. Ở
ngay cấp độ sinh học thì sự đa dạng phong phú của nhân cách đã được thể hiện
như các bộ gen khác ít trùng lặp,... Do vậy mỗi người sẽ có khí chất thiên hướng và
khả năng tư duy là khác nhau. Khi nhấn mạnh tính quyết định của môi trường xã
hội, ta nên khẳng định tính tích cực của con người trong đời sống xã hội hay trong
tính chính trị và sự hình thành và phát triển nhân cách của chính mình. Tính nhân
cách của con người không mang tính tự nhiên mà mang bản chất con người.
Từ những phân tích trên, ta có thể khẳng định rằng môi trường xã hội không phải
là” tủ kính” trưng bày tất cả giá trị xã hội trong thực tiễn. Vì vậy môi trường xã hội
có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhân cách con người nên
cần phải tạo ra môi trường đảm bảo cho nhân cách phát triển hài hòa, đặc biệt là
trong thời kỳ kinh tế thì trường như ngày nay.
3. Nhân tố giáo dục.
Giáo dục là sự tác động có mục đích, kế hoạch, biện pháp, và hệ thống lên đời sống
tinh thần của con người để hình thành ở họ những phẩm chất mà giáo dục mong
muốn. Giáo dục là một hoạt động chuyên môn nhằm hình thành và phát triển nhân
cách con người theo những yêu cầu của xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất
định. Theo quan điểm của tâm lý học Macxit, giáo dục có vai trò chủ đạo, quan
trọng trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách.
Phương hướng cho sự hình thành và phát triển nhân cách là một yếu tố cần thiết và
giáo dục đã giữ vai trò này. Qua giáo dục, mỗi mẫu người cụ thể cho xã hội – một
động nhân thức của cơ thể. Khi có giáo dục, một số hạn chế thiếu hụt do đó có thể
8
bồi đắp lại tùy thuộc mỗi người. VD: một người bị mất trí nhớ do tai nạn gây
thương tích ở đầu, nhưng nếu người này được điều trị, rèn luyện trí nhớ cùng sự nỗ
lực bản thân thì người này có khả năng hồi phục trí nhớ.
Giáo dục có thể uốn nắn những phẩm chất tâm lý xấu do tác động tự phát của môi
trường xã hội gây lên và làm cho nó phát triển theo hướng mong muốn của xã hội.
Phạm phải sai lầm là điều không thể tránh khỏi của con người trong cuộc sống,
nhưng nhờ có giáo dục mà nhiều sai lầm có thể được sửa chữa, rút kinh nghiệm
sống, để không phạm sai lầm nữa. VD: nếu học sinh đánh nhau, thì phải viết bản
tường trình kiểm điểm, sẽ bị kiểm điểm trước lớp, cô giáo sẽ nói để cho học sinh
này hiểu rằng hành động đó là xấu để học sinh này có thể nhận thức và tiến bộ hơn.
Giáo dục có thể đi trước hiện thực, trong khi tác động tự phát của xã hội chior anh
hưởng đến cá nhân ở mức độ hiện có mà thôi.
Như vậy, giáo dục một mặt cung cấp cho con người những tri thức, kỹ năng, hình
thành nhân cách hoàn thiện, hình thành trong họ những phẩm chất tâm lý cần thiết
theo yêu càu của sự phát triển xã hội. Sản phẩm văn hóa của loài người có thể biến
thành tài sản tinh thần của nhân cách nhờ hoạt động giáo dục. Trong xã hội hiện
nay thì cần có sự phối hợp nhịp nhàng hơn nữa giữa gia đình, nhà trường, xã hội để
đạt được hiệu quả giáo dục cao nhất, đặc biệt là giáo dục nhân cách.
4. Nhân tố hoạt động và nhân cách.
Hoạt động là sự tác động qua lại giữa con người với thế giới khách quan, hướng tới
nhằm biến đổi nó và thỏa mãn nhu cầu của con người.
Hoạt động của cá nhân là yếu tố quyết định trực tiếp sự hình thành và phát triển
nhân cách con người. Trong mỗi con người, hoạt động luôn có tính mục đích và
tính xã hội, được thực hiện bằng những thao tác công cụ nhất định. Nhân cách
cũng được hình thành qua hoạt động nhờ hai quá trình đối tượng hóa và chủ thể
hóa để lĩnh hội kinh nghiệm cho bản thân hoặc đóng góp lực lượng bản chất của
qua lại giúp cho quá trình hình thành và phát triển nhân cách ở mỗi người diến ra
nhanh chóng hơn. Tuy nhiên, nhân cách cũng cần dựa trên những chuẩn mực xã
hội để điều chỉnh cho phù hợp, con người cũng cần có năng lực tự đánh giá, ý thức
cá nhân, tự hoàn thiện bản thân để có được nhân cách hoàn thiện nhất.
10
TÀI LIỆU THAM KHẢO
• Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình tâm lí học đại cương, Nxb.
Công an nhân dân, Hà Nội, 2011.
• Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên), Giáo trình tâm lí học đại cương, Nxb.
Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2005
• Nguyễn Ngọc Bích, Tâm lí học nhân cách, Nxb. Giáo dục, Hà Nội,
2001.
• Phạm Minh Hạc (chủ biên), Tâm lí học, tập 1, 2, Nxb. Giáo dục, Hà
Nội, 1988.
• Lưu Hồng Khanh, Tâm lí học chuyên sâu, Nxb. Trẻ, Hà Nội, 2005.
• Trần Kiều (chủ biên), Trí tuệ và đo lường trí tuệ, Nxb. Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2005.
11
12