VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN XUÂN BẮC
KHẤU TRỪ, HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG THEO
PHÁP LUẬT THUẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số
: 8.38.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. VŨ VĂN CƯƠNG
HÀ NỘI, 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là những công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
riêng tôi. Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong
các công trình khác. Nếu không đúng như đã nêu trên, tối xin hoàn toàn chịu trách
nhiệm về đề tài của mình.
Học viên
Nguyễn Xuân Bắc
GTGT
Giá trị gia tăng
KTTT
Kinh tế thị trường
NNT
NNT
NSNN
Ngân sách Nhà nước
QLT
Quản lý thuế
TTĐB
Tiêu thu đặc biệt
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Luật thuế giá trị gia tăng (GTGT) số 13/2008/QH ra đời đã đánh dấu sự phát
triển mới về chính sách thuế pháp luật GTGT của Việt Nam. Thuế GTGT đã trở thành
Huyền: “Những vấn đề pháp lý về việc áp dụng thuế GTGT ở Việt Nam”, năm 2002;
Luận văn thạc sĩ luật học “Hoàn thiện pháp luật thuế GTGT ở Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay” của Nguyễn Kim Thái Linh (2010); Luận văn Thạc sĩ “Pháp luật về
Khấu trừ và hoàn thuế GTGT tại Việt Nam” của Đào Thị Ngọc Ánh (2011), trường
ĐH Quốc gia Hà Nội; Luận văn thạc sĩ “ pháp luật về hoàn thuế giá GTGT ở Việt
Nam- thực trạng và giải pháp” của tác giả Trần Quốc Hùng (2011), trường ĐH Quốc
gia Hà Nội; Luận văn Thạc sĩ “Thực thi pháp luật về kiểm soát gian lận hoàn thuế
GTGT trên địa bàn thành phố Hà Nội” của tác giả Vũ Thi Mai Lan (2015) trường ĐH
Quốc gia Hà Nội …
Bên cạnh các luận văn, luận án, sách tham khảo, giáo trình về pháp luật thuế ở
các cơ sở nghiên cứu đào tạo luật, còn có một số bài viết mang tính nghiên cứu, trao
đổi, đưa lại nhiều góc nhìn khác nhau về vấn đề mà đề tài lựa chọn, thực sự hữu ích
cho công tác hoàn thiện pháp luật về khấu trừ, hoàn thuế GTGT như: “Một số ý kiến
góp ý cho dự thảo Luật thuế thu nhập DN và Luật thuế GTGT”, của tác giả Phan Anh
Thông, đăng ở Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp điện tử; “Luật thuế GTGT nên sửa đổi
theo hướng nào?”, của tác giả Lê Thị Thu Thủy (2011), đăng trên Tạp chí Nghiên cứu
lập pháp; “Một số ý kiến về sửa đổi Nghị định hướng dẫn Luật Thuế TNDN và Luật
Thuế GTGT”, của TS. Nguyễn Thị Lan Hương (2011)…
Một điểm chung của các nhóm công trình nghiên cứu kể trên, đó là phần lớn
các tác giả thường thiên về phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật thuế GTGT, hoàn
thuế GTGT; phân tích rất sâu một số vấn đề liên quan đến thuế GTGT được quy định
trong Luật Thuế GTGT.
Đi sâu vào khai thác thực tiễn áp dụng pháp luật để tìm ra những tồn tại hạn
chế, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế còn tồn tại là việc làm hết sức quan
trọng trong hoàn thiện pháp luật về thuế GTGT ở Việt Nam. Đề tài “Khấu trừ, hoàn
thuế GTGT theo pháp luật về thuế ở Việt Nam” sẽ là một trong những đề tài tiếp tục
nghiên cứu về vấn đề này.
6
7
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Đề tài là công trình khoa học có ý nghĩa quan trọng trong việc làm rõ các vấn
đề liên quan đến thực tiễn áp dụng và các quy định pháp luật hiện hành về khấu trừ,
hoàn thuế GTGT ở Việt Nam. Trên cơ sở đó nêu ra những những điểm hạn chế, bất
cập để đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở
Việt Nam.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tham khảo và phụ lục, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về khấu trừ, hoàn thuế GTGT và pháp luật về
khấu trừ hoàn thuế GTGT .
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về khấu trừ,
hoàn thuế GTGT ở Việt Nam
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật
về khấu trừ và hoàn thuế thuế GTGT ở việt nam
8
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHẤU TRỪ, HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA
TĂNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ KHẤU TRỪ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
1.1. Những vấn đề lý luận về khấu trừ, hoàn thuế GTGT
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm thuế GTGT
*Khái niệm thuế GTGT
Trước khi Thuế giá trị gia (GTGT) tăng ra đời, một số quốc gia áp dụng Thuế
doanh thu, đây là một loại thuế bị thu trùng ở nhiều giai đoạn khác nhau từ sản xuất
do bản chất của thuế GTGT là thuế tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch
vụ nên yếu tố đầu vào cũng giữ một vai trò quan trọng như yếu tố đầu ra. Nói cách
khác, thuế GTGT đưa ra những khái niệm mới so với thuế doanh thu là khấu trừ và
hoàn thuế. Các quá trình sản xuất, lưu thông và tiêu dùng là những mắt xích gắn kết
với nhau rất chặt chẽ. Nhà phân phối mua sản phẩm của nhà sản xuất rồi bán lại cho
người tiêu dùng sẽ được khấu trừ thuế đầu vào nhưng phải nộp thuế đầu ra. Điều này
có nghĩa là nhà phân phối chỉ phải chịu khoản thuế GTGT tính trên phần giá trị tăng
thêm ở khâu phân phối. Trước đó, nhà sản xuất chắc chắn đã phải nộp khoản thuế
GTGT cho sản phẩm đầu ra bán cho nhà phân phối. Khoản thuế này cũng chính là
khoản thuế mà nhà phân phối được nhà nước cho khấu trừ. Người tiêu dùng mua hàng
để sử dụng cuối cùng sẽ không được hoàn thuế GTGT đầu vào. Khoản thuế GTGT đầu
vào của người tiêu dùng cũng chính là khoản thuế GTGT mà nhà phân phối phải nộp
cho nhà nước. Theo cách tư duy mắt xích như vậy thì người tiêu dùng cuối cùng mới
chính là người phải gánh chịu khoản thuế GTGT, trong khi đó nhà phân phối và nhà
sản xuất chỉ là người “nộp thay” khoản thuế này cho người tiêu dùng và sau đó được
nhà nước cho khấu trừ hoặc hoàn lại. Cũng theo cách suy luận như vậy thì thuế GTGT
cũng tương tự như thuế doanh thu đánh vào khâu bán lẻ hàng hóa, dịch vụ xét ở
phương diện giá trị.
Như vậy, về bản chất thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào phần giá trị
tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ ở tất cả các khâu từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng
nhằm động viên một phần thu nhập của người dân vào ngân sách Nhà nước. Một trong
những nguyên tắc cơ bản của thuế GTGT là sản phẩm, hàng hóa dù qua ít hay nhiều
khâu từ sản xuất đến tiêu dùng đều không bị đánh thuế trùng, không bị đội giá bán như
thuế doanh thu trước đây. Mặc dù thuế GTGT có rất nhiều ưu điểm, tuy nhiên việc áp
dụng trong thực tế không phải dễ dàng đặc biệt là về mặt quản lý của cơ quan chức
10
năng. Nhiều quốc gia phát triển cho đến nay vẫn không ban hành luật thuế GTGT do
11
phương pháp tính thuế trực tiếp này có khả năng tạo ra hiện tượng đánh trùng thuế.
Hơn nữa, do Luật thuế quy định nhiều mức thuế suất khác nhau, cộng với các chính
sách ưu đãi thuế, thì không nhất thiết tổng số thuế thu được sẽ như nhau theo hai cách
tính thuế này.
- Quản lý thuế GTGT khá phức tạp, yêu cầu trình độ quản lý cao. Trong pháp
luật thuế GTGT ở Việt Nam còn quy định nhiều loại hàng hóa, dịch vụ không chịu
thuế. Cơ sở kinh doanh hàng không chịu thuế thì thuế GTGT đầu ra không tính thuế
GTGT đầu vào sẽ không được khấu trừ. Với chính sách áp dụng 3 mức thuế suất thuế
GTGT là 0% đối với hàng hóa dịch vụ xuất khẩu, 5 % với 14 nhóm hàng hóa dịch vụ
thiết yếu và 10% áp dụng cho hàng hóa dịch vụ còn lại. Ngoài ra còn đối với cơ sở
kinh doanh nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp áp dụng tỷ lệ % trên doanh thu có
mức 1% ,2%, 3% và 5 %. Bên cạnh đó với hai phương pháp tính thuế khác nhau thì sử
dụng loại hóa đơn khác nhau… Theo quy định thì chỉ những DN nộp thuế GTGT theo
phương pháp khấu trừ thuế mới được khấu trừ thuế GTGT đầu vào. Những đối tượng
nộp thuế theo phương pháp trực tiếp sẽ không có cơ sở để khấu trừ thuế. Trong khi đó,
đối với những DN tính thuế theo phương pháp khấu trừ đã phải thanh toán khoản thuế
GTGT khi mua hàng hoá đầu vào cho nhà cung cấp rồi lại nộp tiếp khoản thuế GTGT
đầu ra do người tiêu dùng chi trả. Do đó, phần thuế GTGT đầu vào phải được khấu trừ
hoặc hoàn lại để phản ánh DN chỉ phải nộp khoản thuế ròng dựa trên phần GTGT phát
sinh. Một DN muốn được khấu trừ thuế GTGT đầu vào cần phải có hóa đơn GTGT
mua hàng hóa, dịch vụ, hoặc chứng từ nộp thuế GTGT ở khâu nhập khẩu. Đứng ở góc
độ các DN, để được khấu trừ và hoàn thuế GTGT thì DN phải có đầy đủ hoá đơn
GTGT đầu vào hợp lệ. Do vậy, khi mua hàng thì DN sẽ luôn đòi hỏi hoá đơn của nhà
cung cấp để có thể được hoàn thuế. Nhà cung cấp không thể không cấp hoá đơn để
trốn thuế và cũng không thể ghi giảm giá trị hàng bán để giảm số thuế phải nộp trong
trường hợp này. Nếu làm như vậy thì DN mua hàng sẽ chịu thiệt tương ứng mà Nhà
nước thì hầu như không bị thiệt hại gì xét trên bình diện tổng thể. Tuy nhiên, đối với