Quản lý nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Pdf 50

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XẪ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ QUỲNH TRANG

QUẢN LÝ NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN
CHÍNH THỨC (ODA) TẠI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
Ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 8 34 04 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS LÊ PHƢỚC MINH

Hà Nội – 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sỹ kinh tế quản lý “Quản lý nguồn vốn hỗ
trợ phát triển chính thức (ODA) tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ
Việt Nam” là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi dưới sự hướng dẫn
của PGS.TS. Lê Phước Minh.
Các thông tin, số liệu và tài liệu mà tác giả sử dụng trong luận văn là trung
thực, có nguồn gốc rõ ràng và không vi phạm các quy định của pháp luật.
Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công
bố trong bất kỳ các ấn phẩm, công trình nghiên cứu nào khác.
Tác giả xin cam đoan những điều trên là đúng sự thật, nếu sai, tác giả xin hoàn
toàn chịu trách nhiệm.


3.2. Nâng cao phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ quản
lý, kịp thời kiện toàn nhân sự các ban quản lý dự án ODA ......................................51
3.3. Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, xây dựng dự án và kiểm tra, giám sát
chặt chẽ về tài chính tại các Ban quản lý dự án ........................................................55
3.4. Tiếp tục hoàn thiện quy trình và thủ tục hành chính triển khai các dự án .........58
KẾT LUẬN ..............................................................................................................61
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................63


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu

STT

Nguyên nghĩa

1.

Ban QLDA

Ban Quản lý dự án

2.

Viện
HLKH&CNVN

Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt
Nam


CNH, HĐH

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

9.

FDI

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

10.

UN

Liên hợp quốc

11.

JBIC

Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản

12.

KFW

Ngân hàng tái thiết Đức

13.


OECD

Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế

19.

ILO

Tổ chức Lao động quốc tế

20.

FAO

Tổ chức Nông lương thế giới

21.

ODA

Viện trợ phát triển chính thức

22.

XĐGN

Xóa đói, giảm nghèo

Chương trình hỗ trợ quốc tế,
Bộ NN&PTNN

Quốc gia, tổ chức quốc tế cấp vốn ODA cho Viện
HLKH&CNVN (từ năm 2010 - 2015)

Trang
32

34

35

36


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với mục tiêu phấn đấu đến
năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp đã đi được một
chặng đường khá dài. Sau nhiều năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành
tựu phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội vượt bậc, được dư luận trong nước và quốc tế
thừa nhận rộng rãi: Nền kinh tế tăng trưởng liên tục với tốc độ bình quân 7,5%/năm,
mức đói nghèo giảm từ trên 50% vào đầu những năm 90 xuống còn trên 10% vào
năm 2008, hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện đánh dấu bằng việc Việt Nam trở
thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), được bầu là
Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, Việt Nam là
thành viên tích cực của ASEAN, APEC, và nhiều Diễn đàn, tổ chức quốc tế khác…
Những thành tựu mà Việt Nam đạt được trong thời gian qua có phần đóng góp quan
trọng của viện trợ phát triển như một phần trong sự nghiệp phát triển của Việt Nam.
Trong thời gian qua, ODA thực sự là một nguồn vốn quan trọng đối với phát
triển đất nước, ODA đã giúp chúng ta tiếp cận, tiếp thu những thành tựu khoa học
công nghệ hiện đại, phát triển nguồn nhân lực, điều chỉnh cơ cấu kinh tế và tạo ra hệ

tục, quy định pháp luật của bên viện trợ. Những vướng mắc, bất cập trong cơ chế,
chính sách cũng như hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, nhiều quy định còn chồng
chéo; thủ tục hành chính liên quan đến việc thực hiện chương trình, dự án ODA và
việc tổ chức thực hiện thủ tục hành chính chưa nhất quán ở các cấp, các ngành cũng
ảnh hưởng đến hiệu quả việc quản lý, sử dụng vốn ODA ở Viện HLKH&CNVN.
Xuất phát từ thực tế đó, cùng với kinh nghiệm và thực tế làm việc tại Viện
HLKH&CNVN, tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài “Quản lý nguồn vốn ODA ở Viện
Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
ODA không đơn thuần chỉ là nguồn vốn mà ODA chính là sự thể hiện chính
sách của các quốc gia trong quan hệ quốc tế, là lợi ích của các quốc gia, các nhà
kinh doanh. Nói cách khác, ODA không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề an

2


ninh chính trị. Chính vì vậy, ODA là chủ đề được giới nghiên cứu quan tâm. Đã có
nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này trong nước và trên phạm vi quốc tế.
2.1 Những công trình đã công bố liên quan đến đề tài luận văn
Bàn về vấn đề quản lý, sử dụng nguồn vốn ODA sao cho có hiệu quả được
công luận và nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, nhất là sau vụ PMU 18.
Về phía các bài báo khoa học, đáng chú ý là các bài: “Bàn về vấn đề quản lý
vốn ODA ở Việt Nam” (2009) của tác giả Hồ Hữu Tiến, đăng trên Tạp chí Khoa học
và Công nghệ số 2 [31], Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng; bài “Vốn ODA
trong điều kiện mới” (2014) của Nguyễn Quang Thái và Trần Thị Hồng Thủy, đăng
trên Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Tập 30, số 1. Trong bài viết của
mình, tác giả Hồ Hữu Tiến đã khái quát thành tựu thu hút, quản lý, sử dụng vốn ODA
ở Việt Nam giai đoạn 2002 - 2006; trong đó nêu rõ: đã có sự phân công tương đối rõ
ràng giữa các cấp bộ, ngành trong vấn đề quản lý ODA. Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ
ra một số hạn chế trong vấn đề này, như: tình hình thực hiện các dự án thường bị

hai tác giả về việc sửa đổi Nghị định 38/2013/NĐ-CP của Chính phủ, khi quan hệ
giữa Việt Nam với các nước viện trợ ODA đã thay đổi: từ nước nhận viện trợ, nước
ta đã chuyển sang quan hệ đối tác phát triển.
Nhìn chung, cả hai bài báo khoa học nói trên đã cung cấp một số thông tin bổ
ích cho học viên trong quá trình triển khai đề tài luận văn, nhất là những thông tin
về hạn chế trong quản lý nguồn vốn ODA và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý,
sử dụng vốn ODA ở Việt Nam. Tuy nhiên, phạm vi bàn luận của hai bài báo ở tầm
quốc gia, không phải là ở một bộ chức năng cụ thể nào, nhất là không bàn về quản
lý nguồn vốn ODA ở Viện HLKH&CNVN.
Về phía các công trình nghiên cứu sau đại học, đáng chú ý là một số luận văn
Thạc sĩ, như: “Một số giải pháp tăng cường thu hút nguồn vốn ODA của ADB cho
Việt Nam (2008) của Nguyễn Thị Ngọc Thọ, Đại học Ngoại thương; “Một số giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính
thức (ODA) ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” (2006) của Hoàng Kim Tú, Đại
học Ngoại thương; “Quản lý nhà nước về vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
tại Việt Nam – Thực trạng và giải pháp” (2005) của Vũ Thị Thu Hằng, Đại học
Ngoại thương; “Một số giải pháp quản lý dự án sử dụng vốn ODA đầu tư cho xây
dựng công trình giao thông đường bộ Việt Nam” (2004) của Lê Thị Hồng Hạnh,
Đại học Ngoại thương; “Nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng vốn ODA tại Việt
Nam” (2009) của Lê Thanh Nghĩa, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh;
4


“Quản lý, sử dụng nguồn vốn ODA ở Thành phố Hồ Chí Minh – Thực trạng và giải
pháp” (2006) của Nguyễn Bảo Ngọc, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. Các
luận văn nói trên đã đề cập ở các góc độ khác nhau về nguồn gốc, đặc điểm, vai trò,
ý nghĩa của nguồn vốn ODA đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam nói
chung, ở một địa phương cụ thể nói riêng. Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Thọ tập trung
bàn vấn đề giải pháp thu hút ODA, nên vấn đề quản lý nguồn vốn này không phải là
trọng tâm của luận văn. Tác giả Vũ Thị Thu Hằng đã phân tích thực trạng quản lý

quản lý nguồn vốn này ở Viện ra sao; quá trình quản lý có thuận lợi, khó khăn gì;
đâu là những hạn chế chính và giải pháp nào để nâng cao hiệu quả quản lý nguồn
vốn ODA ở Viện HLKH&CNVN trong thời gian tới ?
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nguồn vốn ODA ở Viện
HLKH&CNVN, luận văn đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả
quản lý nguồn vốn này.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận giải cơ sở lý luận quản lý nguồn vốn ODA ở Viện HLKH&CNVN;
- Phân tích, đánh giá đúng thực trạng quản lý nguồn vốn ODA ở Viện
HLKH&CNVN giai đoạn 2010 - 2015;
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nguồn vốn
ODA ở Viện HLKH&CNVN đến năm 2020.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn về
quản lý nguồn vốn ODA tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: nghiên cứu việc quản lý nguồn vốn ODA ở Viện
HLKH&CNVN.
- Phạm vi không gian: tập trung nghiên cứu vấn đề quản lý nguồn vốn ODA ở
Viện HLKH&CNVN. Luận văn cũng nghiên cứu kinh nghiệm quản lý và sử dụng
nguồn vốn ODA tại một số Viện, ngành để rút ra bài học kinh nghiệm cho Viện
HLKH&CNVN.

6


- Phạm vi thời gian: khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý nguồn vốn ODA ở


7


Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NGUỒN VỐN HỖ TRỢ
PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA)
1.1. Bản chất của ODA và sự cần thiết phải tăng cƣờng quản lý
1.1.1.Các định nghĩa về ODA
ODA là tên gọi tắt của ba chữ tiếng Anh: Official Development Assistance,
có nghĩa là Hỗ trợ phát triển chính thức hay còn gọi là Viện trợ phát triển chính
thức. Cho đến nay, chưa có định nghĩa hoàn chỉnh về ODA, nhưng sự khác biệt
giữa các định nghĩa không nhiều. Có thể thấy điều này qua ý kiến của một số tổ
chức và cá nhân dưới đây:
OECD vào năm 1972 đã đưa ra khái niệm ODA là “một giao dịch chính thức
được thiết lập với mục đích chính là thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các
nước đang phát triển. Điều kiện tài chính của giao dịch này có tính chất ưu đãi và
thành tố viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25%”.
Theo UNDP: ODA là viện trợ không hoàn lại hoặc là cho vay ưu đãi của các
tổ chức nước ngoài, với phần viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25% giá trị của
khoản vốn vay.
Còn ở Việt Nam, theo PGS.TS. Nguyễn Quang Thái (Viện Chiến lược phát
triển), thì ODA là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với điều kiện ưu
đãi (về lãi suất thời gian ân hạn và trả nợ) của các cơ quan chính thức thuộc các
nước và các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ (NGO) [34]. Theo Quy chế
quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ban hành kèm theo Nghị
định 38/2013/NĐ-CP ngày 23 - 4 - 2013 của Chính Phủ nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, thì: “Hỗ trợ phát triển chính thức (gọi tắt là ODA) được hiểu là
hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam với Nhà tài trợ là Chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ

Về các hình thức ODA, người ta có thể dựa vào 3 cách phân loại: theo hình
thức cấp, theo nguồn cung cấp và theo mục tiêu sử dụng.
Trước hết, phân loại theo hình thức cấp: có ODA không hoàn lại, ODA có
hoàn lại và ODA hỗn hợp.

9


- Viện trợ không hoàn lại (ODA không hoàn lại) là viện trợ mà Nhà tài trợ
cung cấp viện trợ để bên nhận viện trợ thực hiện các chương trình, dự án theo sự
thỏa thuận giữa các bên. Bên nhận tài trợ sử dụng cấp phát lại hoặc cho doanh
nghiệp vay lại theo nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước. Viện trợ không hoàn lại
chiếm khoảng 25% tổng số ODA toàn cầu và thường ưu tiên cho những chương
trình, dự án thuộc các lĩnh vực: y tế, dân số, kế hoạch hóa gia đình, giáo dục - đào
tạo; hoặc dành cho các vấn đề về xã hội: XĐGN, phát triển nông thôn và miền núi,
cấp thoát nước sinh hoạt, nghiên cứu các chương trình - dự án phát triển và tăng
cường thể chế bảo vệ môi trường môi sinh, quản lý đô thị; nghiên cứu phát triển
khoa học và công nghệ; hỗ trợ ngân sách thực hiện các chương trình nghiên cứu
tổng hợp, nhằm hỗ trợ Chính phủ nước nhận viện trợ hoạch định các chính sách
hoặc cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư bằng hoạt động điều tra, giám sát, đánh
giá tài nguyên, hiện trạng kinh tế kỹ thuật - xã hội các ngành, vùng, lãnh thổ. Ngoài
ra, ODA không hoàn lại còn hỗ trợ cho các hoạt động sản xuất; trong một số trường
hợp đặc biệt còn góp phần tạo việc làm, giải quyết các vấn đề về xã hội ở nước nhận
viện trợ. Điều này phụ thuộc rất nhiều vào quan hệ giữa nước nhận và nước cung
cấp viện trợ, thường được cung cấp dưới các dạng: Hỗ trợ kỹ thuật, thực hiện các
nghiên cứu phát triển, lập nghiên cứu khả thi, đánh giá tác động về môi trường,
nghiên cứu thay đổi thể chế chính sách, đào tạo tăng cường năng lực quản lý, hỗ trợ
ngành nghề, xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng cơ bản. Các tổ chức tài trợ ODA
không hoàn lại thực hiện thông qua việc thuê mướn chuyên gia về để đào tạo cho
nước nhận ODA; viện trợ nhân đạo bằng hiện vật, mà các nước tiếp nhận ODA

cho nước đang và kém phát triển, thông qua hiệp định được ký kết giữa hai chính
phủ.
ODA đa phương là viện trợ phát triển chính thức của một tổ chức quốc tế,
hay tổ chức khu vực hoặc của chính phủ một nước viện trợ dành cho chính phủ một
nước nhận viện trợ nào đó, nhưng có thể được thực hiện thông qua các tổ chức đa
phương như UNDP… Cũng có thể đó là các khoản viện trợ của các tổ chức tài
chính quốc tế được chuyển trực tiếp cho bên nhận viện trợ.
Ba là, phân loại theo mục tiêu sử dụng: có hỗ trợ cán cân thanh toán, tín
dụng thương nghiệp, viện trợ chương trình, viện trợ dự án.

11


Hỗ trợ cán cân thanh toán là các khoản ODA cung cấp để hỗ trợ ngân sách
của chính phủ, thường được thực hiện thông qua các dạng: chuyển giao tiền tệ trực
tiếp cho nước nhận ODA và Hỗ trợ nhập khẩu (viện trợ hàng hoá).
Tín dụng thương nghiệp tương tự như viện trợ hàng hoá, nhưng có kèm theo
các điều kiện ràng buộc. Chẳng hạn nước cung cấp ODA yêu cầu nước nhận ODA
phải dùng phần lớn, hoặc hầu hết vốn viện trợ để mua hàng của nước cung cấp
ODA.
Viện trợ chương trình là nước viện trợ và nước nhận viện trợ ký hiệp định
cho một mục đích tổng quát mà không cần xác định chính xác khoản viện trợ sẽ
được sử dụng như thế nào.
Viện trợ dự án là hình thức thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn
thực hiện ODA. Điều kiện để được nhận viện trợ dự án là "phải có dự án cụ thể, chi
tiết về các hạng mục sẽ sử dụng ODA".
1.1.3. Vai trò của ODA
ODA thể hiện mối quan hệ đối ngoại giữa hai bên cung cấp và bên tiếp nhận
viện trợ. Tuy vậy, đối với mỗi bên nó sẽ mang một ý nghĩa khác nhau.
Trước hết, đối với Bên tiếp nhận vốn, ODA có tác dụng nhiều mặt.

có như thế mới tăng được sức hút đối với dòng vốn FDI, thúc đẩy đầu tư trong nước
phát triển và đạt được sự phát triển bền vững của nền kinh tế, sự ổn định của xã hội.
Nguồn vốn ODA chính là một kênh quan trọng giúp chính phủ các nước đang và
kém phát triển giải quyết được những khó khăn về vốn để thực hiện được các mục
tiêu đó.
Hai là, đối với Bên tài trợ vốn cũng có nhiều lợi ích. Cụ thể là:
Thứ nhất, việc tài trợ ODA tạo điều kiện cho các công ty của Bên cung cấp
ODA hoạt động thuận lợi hơn tại các nước tiếp nhận ODA một cách gián tiếp. Các
công ty này nhận được nhiều dự án đầu tư với những điều kiện thuận lợi từ sự ưu
đãi của nước tiếp nhận trong công việc kinh doanh, như: giành được quyền ưu tiên
trong các cuộc đấu thầu, bán sản phẩm; có môi trường hạ tầng tốt thông qua tài trợ
ODA để nâng cao hiệu quả nguồn vốn FDI của mình vào nước tiếp nhận ODA...,

13


góp phần làm cho các sản phẩm của họ tăng thêm tính cạnh tranh so với các sản
phẩm cùng loại có xuất xứ từ các nước khác.
Thứ hai, đối với quốc gia hỗ trợ dự án, khi chấp nhận cung cấp ODA có
nghĩa là một động tác cộng phí từ ngân sách nước họ đã được hình thành, tiếp theo
là nhà thầu của quốc gia này cũng trúng thầu để họ trực tiếp thực hiện dự án theo
nội dung điều ước hỗ trợ nguồn vốn ODA mà chính phủ hai nước đã chấp thuận và
ký kết. Trong trường hợp viện trợ không hoàn lại, khi chuyên gia hay nhà thầu nước
ngoài vào làm việc tại nước tiếp nhận, họ sẽ được miễn thuế thu nhập, thuế lợi tức
tại nước tiếp nhận ODA.
Thứ ba, ngoài những nguồn lợi về kinh tế, nước cung cấp viện trợ còn có thể
đạt được những mục đích về chính trị, nâng tầm ảnh hưởng của họ về mặt kinh tế,
văn hóa đối với nước nhận viện trợ.
1.2. Nội dung, nguyên tắc quản lý nguồn vốn ODA ở Việt Nam
1.2.1. Quan niệm về quản lý nguồn vốn ODA

Các cấp này có chức năng và nhiệm vụ rõ ràng; trong đó, Ban QLDA là đơn vị giúp
việc cho Chủ dự án trong việc quản lý thực hiện chương trình, dự án ODA. Chủ dự
án là đơn vị được giao trách nhiệm trực tiếp quản lý, sử dụng nguồn vốn ODA và
nguồn vốn đối ứng để thực hiện chương trình, dự án theo nội dung đã được cấp có
thẩm quyền phê duyệt; và quản lý, sử dụng công trình sau khi chương trình, dự án
kết thúc. Cơ quan chủ quản là các Viện, các cơ quan ngang Viện, các cơ quan trực
thuộc Chính phủ, các cơ quan Trung ương của tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức
nghề nghiệp, các cơ quan trực thuộc Quốc hội, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm
sát nhân dân tối cao và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
có chương trình, dự án. Các cơ quan quản lý nhà nước về ODA gồm Bộ Kế hoạch
và Đầu tư, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư
pháp, Văn phòng Chính phủ.
Để tiến hành công tác quản lý nguồn vốn ODA tại các chương trình, dự án, các
chủ thể quản lý tùy theo chức năng, nhiệm vụ được phân công, phân cấp thực hành
quy trình quản lý thông qua việc ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản có tính
chất quy phạm pháp luật (nghị định, thông tư, quy chế, quy định...), kế hoạch triển
khai dự án, chương trình; tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện các dự án,
chương trình đó theo kế hoạch đã được phê duyệt. Do vốn ODA là quan hệ hợp tác

15


giữa chính phủ với chính phủ và tổ chức quốc tế, nên khung khổ pháp lý cho sự
quản lý nguồn vốn ODA phải đảm bảo trên cơ sở tuân thủ luật pháp Việt Nam và
các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia, được thể hiện trong các hiệp định tài
trợ.
Mục đích trực tiếp của việc quản lý chặt chẽ nguồn vốn ODA là nhằm đảm bảo
sử dụng có hiệu quả, đúng mục tiêu nguồn vốn tài trợ cho từng chương trình, dự án
cụ thể; sâu xa hơn là nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia trong quá trình sử dụng các
nguồn vốn tài trợ.

dự án, đảm bảo việc sử dụng nguồn vốn ODA đúng mục đích. Đây là hoạt động
được tiến hành thường xuyên, theo định kỳ hay đột xuất của các chủ thể quản lý tùy
theo chức năng, nhiệm vụ được Chính phủ giao trong suốt quá trình thực hiện
chương trình, dự án từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc. Trong đó, việc theo dõi, giám
sát, kiểm tra của cơ quan chủ quản và chủ chương trình, dự án có vai trò quyết định
nhất. Việc theo dõi, giám sát và kiểm tra tổ chức thực hiện chương trình, dự án vốn
ODA phải được tiến hành trên cơ sở bám sát các văn bản quy phạm pháp luật của
Nhà nước, các cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về ODA và của cơ quan chủ
quản chương trình, dự án; đặc biệt là giám sát, kiểm tra việc thực hiện các hạng mục
của chương trình, dự án theo đúng mục tiêu, định mức chỉ tiêu kỹ thuật đã được thể
hiện trong các hợp đồng chương trình, dự án, nhất là những chỉ tiêu về tài chính để
tránh thất thoát, tiêu cực.
1.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến hiệu quả quản lý vốn ODA
Hiệu quả quản lý vốn ODA là kết quả của toàn bộ quy trình quản lý vốn ODA
theo đúng các quy định của Chính phủ, nhằm bảo đảm vốn ODA của các chương
trình, dự án được thực hiện đúng mục tiêu, đúng với các cam kết quốc tế, không có
tham nhũng, tiêu cực. Hiệu quả quản lý vốn ODA phụ thuộc vào nhiều yếu tố
khách quan và chủ quan; trong đó, yếu tố chủ quan của cơ quan chủ quản và chủ
chương trình, dự án giữ vai trò quyết định nhất.
1.3.1. Về yếu tố khách quan
Trước hết, phải kể đến yếu tố quốc tế. Đó là Nhà tài trợ vốn quốc tế. Các
yếu tố như tăng trưởng kinh tế, tổng thu nhập quốc dân, lạm phát, thất nghiệp hay
những thay đổi chính trị trên thế giới, nhất là tại các nước cam kết tài trợ vốn ODA
có ảnh hưởng lớn đến các hoạt động hỗ trợ phát triển cho các quốc gia khác. Chẳng
hạn đối với các quốc gia cung cấp ODA, do nền kinh tế gặp khủng hoảng, tỷ lệ thất

17


nghiệp tăng hay thay đổi về thể chế…có thể làm cho mức cam kết ODA hàng năm

18


mình, các đơn vị trực thuộc Viện mình, nhưng không được đi ngược lại các quy định của
pháp luật nhà nước. Tuy nhiên, trong thực tế, việc hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
trong nước có khi chưa đầy đủ, đồng bộ, còn những khác biệt với thông lệ quốc tế cũng
gây ra những khó khăn trong quá trình quản lý vốn ODA, đòi hỏi các chủ thể quản lý
phải rất thận trọng. Do vậy, đây cũng là một yếu tố khách quan ảnh hưởng tới hiệu quả
quản lý nguồn vốn ODA cần tính đến.
1.3.2. Các yếu tố chủ quan
Trước hết, đó là năng lực quán triệt, cụ thể hóa các văn bản quy phạm pháp
luật Nhà nước, các cam kết trong quá trình đàm phán với các nhà tài trợ thành các
quy định của cơ quan chủ quản các chương trình, dự án; thông qua việc kịp thời ban
hành các kế hoạch triển khai, các văn bản hành chính, như: quy chế, quy định,
hướng dẫn..., nhằm quản lý chặt chẽ tiến trình triển khai các chương trình, dự án
vốn ODA đúng với mục tiêu đặt ra.
Hai là, năng lực của các Ban QLDA trong việc tham mưu, tổ chức quản lý
nguồn vốn ODA. Với tư cách là cơ quan giúp việc cho chủ dự án – chủ thể quản lý
trực tiếp dự án, nên chất lượng công tác tham mưu của Ban QLDA có ảnh hưởng
trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả công tác quản lý của chủ dự án. Đến lượt mình,
chất lượng tham mưu tốt hay chưa tốt lại phụ thuộc vào năng lực của Ban này, trực
tiếp là năng lực, trình độ, phẩm chất của đội ngũ cán bộ trong Ban, nhất là của
người đứng đầu.
Ba là, năng lực và phẩm chất đạo đức của cán bộ tham gia quản lý chương
trình, dự án; bởi cán bộ bao giờ cũng là gốc của mọi công việc. Hai yếu tố kể trên là
năng lực ban hành các văn bản có tính pháp lý để quản lý của cơ quan chủ quản,
năng lực tham mưu của Ban QLDA, suy cho cùng phụ thuộc vào năng lực, trình độ
của cán bộ quản lý. Mặt khác, người cán bộ có tài nhưng không có đức cũng là điều
nguy hiểm, vì điều đó tất yếu sẽ dẫn đến những vi phạm trong công tác quản lý. Các
vụ tiêu cực liên quan đến quản lý, sử dụng vốn ODA trong một số chương trình, dự

Năm là, tăng cường năng lực của đội ngũ cán bộ thực hiện dự án: cả ở cấp
Bộ và các đơn vị trực thuộc Bộ.
Sáu là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện dự án. Theo đó,
ngay từ đầu, phải xây dựng được quy chế giám sát, kiểm tra chặt chẽ. Đó sẽ là tác
nhân chính nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn.

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status