VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN ANH TUẤN
CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ QUA CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƢ
TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NÔI, 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN ANH TUẤN
CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ QUA CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƢ
TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
Ngành Quản lý kinh tế
Mã ngành: 8 34 04 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. Vũ Tuấn Hƣng
2.2. Hoạt động chuyển giao công nghệ qua dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
tại Việt Nam .................................................................................................... 47
2.3. Đánh giá chung ........................................................................................ 65
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP THU HÚT CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
QUA DỰ ÁN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM . 66
3.1. Bối cảnh và xu hướng mới ....................................................................... 66
3.2. Định hướng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong giai đoạn tới ....... 68
3.3. Quan điểm xây dựng chính sách thu hút CGCN tại Việt Nam ................ 69
KẾT LUẬN .................................................................................................... 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 77
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ĐTNN
Đầu tư nước ngoài
FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
(Foreign Direct Investment)
KH&CN
Khoa học và công nghệ
CGCN
Chuyển giao công nghệ
Bảng 2.4: Quốc gia có doanh nghiệp FDI đầu tư lớn nhất tại Việt Nam........ 41
Hình 2.5: Tỷ trọng vốn FDI theo hình thức đầu tư giai đoạn 2005 -2015 ...... 42
Hình 2.6: Tỷ trọng của FDI trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội (%) ............... 44
Hình 2.7: Đóng góp của khu vực FDI trong tổng GDP cả nước .................... 45
Bảng 2.8: Số liệu theo dõi Hợp đồng CGCN từ 2007 đến 2015 .................... 47
Bảng 2.9: Hợp đồng CGCN đăng ký tại các địa phương................................ 48
Bảng 2.10: Danh sách Doanh nghiệp Công nghiệp Kỹ thuật cao được Bộ
Khoa học và Công nghệ công nhận ................................................................ 53
Bảng 2.11: Doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao ......................... 54
Bảng 2.12: Một số số liệu về lượng xe tiêu thụ của một số doanh nghiệp lắp
ráp ô tô tại Việt Nam ....................................................................................... 56
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một kênh thu hút vốn quan trọng
để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. FDI cũng được đánh giá
là kênh quan trọng để thu hút công nghệ nguồn từ các nước có nền công
nghiệp tiên tiến vào Việt Nam, góp phần không nhỏ vào việc đổi mới, nâng
cao trình độ công nghệ của sản xuất - kinh doanh và toàn bộ nền kinh tế trong
quá trình hội nhập quốc tế.
Việt Nam đang trong quá trình tái cấu trúc nền kinh tế theo mô hình
tăng trưởng mới, do vậy việc chuyển giao công nghệ thông qua các dự án có
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài để tiếp cận công nghệ tiên tiến của các nước
phát triển là một mục tiêu quan trọng trong thu hút FDI. Đối với các nước
đang phát triển, CGCN qua các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn là một
kênh quan trọng, đặc biệt đối với những nước mà công nghệ nội sinh còn hạn
chế như Việt Nam.
Xét về mặt chính sách, chiến lược cũng như hiệu quả kinh tế trực tiếp,
FDI là kênh thu hút kỹ thuật nước ngoài quan trọng và hiệu quả nhất vì có thể
thực hiện được mục tiêu CNH, HĐH đất nước. Vì vậy, tôi đã chọn vấn đề
“Chuyển giao công nghệ qua các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt
Nam hiện nay” làm đề tài Luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Tác phẩm “Đầu tư trực tiếp nước ngoài với công cuộc công nghiệp hoá,
hiện đại hoá ở Việt Nam” (2002, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội) của
tác giả Nguyễn Trọng Xuân đã nêu rõ thực trạng và vai trò của chuyển giao
công nghệ qua FDI nói riêng. Tuy nhiên tác giả mới chỉ đề cập đến vai trò của
CGCN trong công cuộc CNH, HĐH, tác giả không đi sâu nghiên cứu về
CGCN qua dự án FDI.
Tác phẩm “CGCN ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp” (2004, Nhà
2
xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội) của tác giả Phan Xuân Dũng đưa ra
những đánh giá khái quát tình hình CGCN của một số nước, khu vực trên thế
giới, thực trạng CGCN ở Việt Nam thời kỳ đổi mới. Qua đó tác giả đã nêu
quan điểm và một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả CGCN ở Việt
Nam trong những năm tới. Nhưng trong cuốn sách của mình, tác giả chưa đi
sâu nghiên cứu hoạt động CGCN từ nước ngoài vào Việt Nam qua dự án FDI.
Đề tài nghiên cứu “Đổi mới cơ chế nhập công nghệ trong bối cảnh mở
rộng quan hệ kinh tế quốc tế và tự do thương mại ở Việt Nam” của Viện
Chiến lược và Chính sách KH&CN, Bộ Khoa học và Công nghệ đã chỉ ra
những mặt được và chưa được của cơ chế nhập khẩu công nghệ và đề xuất,
khuyến nghị đổi mới cơ chế nhập khẩu công nghệ trong bối cảnh mở rộng
quan hệ kinh tế quốc tế và tự do thương mại ở Việt Nam. Nhưng nghiên cứu
này cũng không đi sâu nghiên cứu luồng CGCN qua dự án FDI.
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý KH&CN “Chia sẻ rủi ro với
các nhà đầu tư để nâng cao hiệu quả CGCN trong các dự án có vốn đầu tư
nhận công nghệ của Hoa kỳ và Châu Âu. Nhìn chung, các công trình đã công
bố trên thế giới chủ yếu tập trung nghiên cứu chính sách phát triển công nghệ
các nước nhằm mục đích tăng trưởng, trong đó đưa ra các mô hình thành công
trong chính sách công nghệ như “Đàn nhạn bay” của Nhật Bản, …
Nghiên cứu “Khoa học và Công nghệ đối với việc phát triển các nước
khu vực Châu Á - Thái Bình Dương” của Uỷ ban Kinh tế - Xã hội khu vực
Châu Á-Thái Bình Dương đã nghiên cứu tình hình phát triển khoa học và
công nghệ cũng như những nét đặc thù của khu vực này, từ đó đưa ra một số
khuyến nghị trong việc phát triển khoa học và công nghệ đối với các nước
khu vực Châu Á-Thái Bình Dương.
Nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản về CGCN, Ủy ban Kinh tế Xã
hội châu Á Thái Bình Dương Liên Hiệp Quốc (ESCAP) xuất bản cuốn “Cẩm
nang CGCN”, cung cấp những nguyên tắc chung nhất, những khái niệm cơ
bản nhất và kỹ thuật đàm phán trong CGCN. Tuy nhiên, đây là ấn phẩm xuất
4
bản phục vụ các nước đang phát triển nói chung, không phục vụ cho một
nước cụ thể. Thông qua các tình huống (case study) để minh họa cho quá
trình đàm phán, thương thảo hợp đồng CGCN, giúp các nước đang phát triển
thông qua từng trường hợp cụ thể có thể rút ra bài học kinh nghiệm trong quá
trình tiếp nhận và làm chủ công nghệ được công nghệ chuyển giao.
Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản đều có những nghiên cứu về vai trò
và tác động của đầu tư nước ngoài trong việc tiếp nhận công nghệ tiên tiến.
Tuy nhiên, những nghiên cứu này được đặt trong bối cảnh từng giai đoạn phát
triển trước đây của từng nước, do vậy thực trạng hoạt động CGCN qua dự án
đầu tư trực tiếp nước ngoài trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hoá chưa
được đề cập một cách đầy đủ trong các nghiên cứu này.
Khoảng trống nghiên cứu: Các công trình nghiên cứu trên đã ít nhiều
đề cập đến hoạt động CGCN. Tuy nhiên, các công trình này tập trung vào một
FDI ở Việt Nam
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nội dung: Đánh giá thực trạng, chỉ ra những tồn tại, hạn chế
trong hoạt động CGCN qua các dự án FDI, qua đó đề xuất những giải pháp
khắc phục những bất cập, hạn chế trong hoạt động CGCN qua các dự án FDI.
- Phạm vi không gian: Một số doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực điện tử
viễn thông, ô tô.
- Phạm vi thời gian: Luận văn khai thác các số liệu liên quan hoạt động
CGCN qua các dự án FDI tại Việt Nam trong khoảng thời gian 2007- 2016.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn sử dụng phương pháp luận chung, phổ biến cho hoạt động
nghiên cứu khoa học là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; đồng thời
dựa vào những quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, về
hội nhập kinh tế và phát triển đất nước làm cơ sở để phân tích, đánh giá hoạt
động chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam.
6
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sẽ sử dụng các phương pháp định tính cụ thể là phương pháp
nghiên cứu tài liệu, phân tích tổng hợp
Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Nghiên cứu hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về CGCN.
- Nghiên cứu các công trình khoa học, báo cáo đã công bố để kế thừa
kết quả nghiên cứu.
Phương pháp phân tích và tổng hợp
Dựa vào số liệu có được của các doanh nghiệp FDI trên các mặt đầu tư,
trình độ công nghệ, thực trạng CGCN, tập hợp, phân tích, tổng hợp xử lý các
số liệu thu thập được.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ QUA CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƢ
TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm công nghệ
Hiện nay trên thế giới có nhiều cách hiểu khác nhau về công nghệ,
chính vì vậy có rất nhiều khái niệm công nghệ, có thể điểm qua một số khái
niệm sau1:
Theo tác giả Vũ Cao Đàm: “Công nghệ là một trật tự nghiêm ngặt các
thao tác của quá trình chế biến vật chất/thông tin”[8, tr.3].
Theo Ngân hàng thế giới (1985)[4]: Công nghệ là phương pháp chuyển
hoá các nguồn lực thành sản phẩm, gồm 3 yếu tố:
- Thông tin về phương pháp;
- Phương tiện, công cụ sử dụng phương pháp để thực hiện việc chuyển hoá;
- Sự hiểu biết phương pháp hoạt động như thế nào và tại sao.
Ở đây, công nghệ được hiểu là những thông tin, bí quyết và phương
pháp được áp dụng trong việc chuyển hoá các nguồn lực thành sản phẩm.
Theo tác giả Sharif (1986): “Công nghệ bao gồm khả năng sáng tạo,
đổi mới và lựa chọn từ những kỹ thuật khác nhau và sử dụng chúng một cách
tối ưu vào tập hợp các yếu tố bao gồm một trường vật chất, xã hội và văn
hoá’’[4, tr.3].
Công nghệ là một tập hợp của phần cứng và phần mềm, bao gồm 4
dạng cơ bản:
- Thể hiện ở dạng vật thể (vật liệu, công cụ sản xuất, thiết bị và máy
móc, sản phẩm hoàn chỉnh,…)
1
Xin tham khảo thêm Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN (2003), Công nghệ và Phát triển thị trường
công nghệ ở Việt Nam, Nhà Xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, tr.3, 4.
10
Có nhiều quan niệm khác nhau về CGCN. Tuỳ theo bản chất, mục đích
và đối tượng của chuyển giao mà có cách hiểu khác nhau về CGCN.
Theo tác giả Vũ Cao Đàm: “CGCN là quá trình trao tri thức công nghệ
(có thanh toán hoặc không thanh toán)”[8, tr.46]. Đây là cách nói tổng quát
nhất về CGCN.
Theo tác giả Trần Ngọc Ca “CGCN là một quá trình đưa công nghệ từ
một môi trường này sang một môi trường khác bằng mọi hình thức khác nhau
để sản xuất ra sản phẩm, thực hiện dịch vụ hoặc cho các mục đích khác. Như
vậy CGCN bao hàm cả chuyển giao mất tiền (mua - bán) và chuyển giao
không mất tiền”[4, tr.7].
Theo Luật CGCN, năm 2006: “CGCN là chuyển giao quyền sở hữu
hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền
CGCN sang bên nhận công nghệ. CGCN có thể tại Việt Nam, từ nước ngoài
vào Việt Nam hoặc từ Việt Nam ra nước ngoài”[ 24, tr.1].
Hoạt động CGCN bao gồm: CGCN và dịch vụ CGCN, trong đó dịch vụ
CGCN là hoạt động hỗ trợ quá trình tìm kiếm, giao kết và thực hiện hợp đồng
CGCN.
Xét về yếu tố thương mại: CGCN có thể là hoạt động có thanh toán
(thương mại), hoặc không thanh toán (phi thương mại).
Xét về yếu tố pháp lý CGCN là một hoạt động nhằm chuyển nhượng
quyền sở hữu hoặc chuyển giao quyền sử dụng một công nghệ từ chủ thể này
sang chủ thể khác, trên cơ sở hợp đồng CGCN đã được thỏa thuận, phù hợp
với các quy định của pháp luật. Bên chuyển giao có nhiệm vụ CGCN có kèm
hoặc không kèm máy móc, thiết bị, dịch vụ... cho bên nhận chuyển giao. Bên
nhận chuyển giao có nghĩa vụ thanh toán các khoản cho bên chuyển giao để
tiếp thu, sử dụng các kiến thức công nghệ đó theo các điều khoản đã được ghi
hình thức CGCN theo chiều dọc.
- CGCN theo chiều ngang: Trường hợp này thường áp dụng đối với
công nghệ được chuyển giao là công nghệ đã được làm chủ và đứng vững trên
12
thị trường cạnh tranh. Chuyển giao ngang có ưu điểm là độ tin cậy cao, ít rủi
ro, có thể cho kết quả nhanh. CGCN qua dự án FDI là một hình thức CGCN
theo chiều ngang.
Chuyển giao ngang là chuyển giao giữa các doanh nghiệp. Thực chất là
quá trình nhân rộng các công nghệ về mặt số lượng, không có những biến đổi
về trình độ và năng lực công nghệ [8].
Về tính khác biệt của CGCN so với chuyển giao các tài sản hữu hình,
người ta xét trên phương diện pháp lý, nội dung cơ bản của quyền sở hữu bao
gồm: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt, nhưng do đặc
điểm vô hình của công nghệ (xét phần mềm công nghệ) việc chiếm hữu nó
không có ý nghĩa. Bởi vậy phát sinh một hệ quả pháp lý, đó là công nghệ đã
được chuyển cho bên nhận chuyển giao, nhưng nó vẫn do bên chuyển giao
nắm giữ, trong nhiều trường hợp bên chuyển giao có thể nắm ưu thế hơn so
với bên được chuyển giao.
Xét trên phương diện quyền sở hữu công nghệ, có 2 hình thức CGCN:
- Chuyển giao quyền sở hữu: Khi hợp đồng chuyển giao có hiệu lực
pháp lý, bên nhận chuyển giao có đầy đủ quyền sở hữu đối với công nghệ, tuy
nhiên cần phải lưu ý yếu tố chiếm hữu như đã phân tích trên. Trong nhiều tài
liệu pháp lý, người ta còn gọi hình thức này là chuyển nhượng quyền sở hữu
công nghệ.
- Chuyển giao quyền sử dụng: Khi hợp đồng chuyển giao có hiệu lực
pháp lý, bên nhận chuyển giao chỉ có quyền sử dụng công nghệ. Trong nhiều
tài liệu pháp lý, người ta còn gọi hình thức này là chuyển quyền sử dụng công
nghệ, có tài liệu gọi là license công nghệ. Điểm khác biệt cơ bản của trường
công nghệ;
- Độc quyền hoặc không độc quyền phân phối, bán sản phẩm do công
nghệ được chuyển giao tạo ra.
- Phạm vi lãnh thổ được bán sản phẩm do công nghệ được chuyển giao
tạo ra.
14
Trong khuôn khổ của luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm CGCN nêu
trong Luật CGCN vì các quy định của nhà nước về CGCN từ nước ngoài vào
Việt Nam phải tuân thủ theo Luật CGCN.
1.1.3. Khái niệm đầu tư và đầu tư trực tiếp từ nước ngoài
Luật Đầu tư năm 2014 định nghĩa: “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu
tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập
tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh
tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư”[22, tr.1].
Căn cứ vào khái niệm đầu tư nêu trên, người ta phân loại đầu tư theo
các tiêu chí khác nhau, trong đó có tiêu chí phân loại theo chức năng quản trị
vốn. Theo tiêu chí phân loại này, người ta chia ra làm hai loại:
- Đầu tư trực tiếp;
- Đầu tư gián tiếp.
Đầu tư là hoạt động sử dụng tiền vốn, tài nguyên trong một khoảng thời
gian xác định nhằm thu về lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế xã hội. Đầu tư trực
tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt
động đầu tư. Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần,
cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ cố giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông
qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp
tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và
tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Đầu tư trực tiếp nước ngoài là loại đầu tư
16
CGCN NƯỚC NGOÀI
VÀO VIỆT NAM
Luồng 1
Luồng 2
Luồng 3
Chuyển giao qua sự nhập
cƣ của chuyên gia
Chuyển giao qua đầu tƣ
trực tiếp nƣớc ngoài
CGCN thuần tuý
CGCN theo dự án đầu
tư 100% vốn nước ngoài
CGCN theo dự án
liên doanh
Luồng 1: CGCN qua nhập cư của chuyên gia
Cho đến nay CGCN qua nhập cư của chuyên gia hầu như chưa đáng
kể. Trên thực tế đã có một vài trường hợp thuộc loại này nhưng các dấu hiệu
không đặc trưng và kết quả thu được còn rất hạn chế. Trong các tài liệu chính
thì bằng luồng này rất khó thực thi những công nghệ đòi hỏi cần rất nhiều vốn
đầu tư.
Luồng 2: CGCN qua con đường đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Với luồng thứ hai này, công nghệ đưa vào Việt Nam cùng với hoạt
động đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. Phần lớn nhà đầu tư nước ngoài đồng
thời là bên CGCN. Công nghệ được sử dụng để thực hiện dự án liên doanh do
nhà đầu tư nước ngoài là bên chuyển giao. Còn đối với công nghệ trong dự án
đầu tư 100% vốn nước ngoài không phải chuyển từ công ty ở chính quốc mà
được chuyển giao từ một công ty khác.
Công nghệ được chuyển giao theo con đường đầu tư trực tiếp nước
ngoài sẽ là luồng chính và có số lượng lớn ở Việt Nam. Trong luồng này, phía
nước ngoài thường chuyển giao một cách đồng bộ từ khâu nghiên cứu thị
trường, thiết kế, lắp đặt, công nghệ sản xuất đến quản lý sản xuất, kinh
doanh…., do vậy, chúng ta cần phải quan tâm trong việc đào tạo và bố trí đội
18
ngũ cán bộ kỹ thuật và công nhân để làm chủ các công nghệ nhập, trên cơ sở
đó có bước cải tiến và tiến tới làm ra được những công nghệ mới, độc lập.
Ưu điểm của luồng này:
Vốn để thực hiện các công nghệ được chuyển giao chủ yếu là vốn đầu
tư trực tiếp của nhà đầu tư nước ngoài. Do đó quy mô của luồng này tuỳ thuộc
vào cơ hội đầu tư và môi trường đầu tư ở Việt Nam hơn là phụ thuộc vào khả
năng tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam.
Thông qua FDI, cùng với vốn, công nghệ, năng lực quản lý, kinh doanh
được chuyển giao nên hiệu quả phát triển lớn hơn các hình thức chuyển giao
khác.
Bên chuyển giao có trách nhiệm chung đối với sự phát triển của doanh
nghiệp, tức là trách nhiệm của Bên giao công nghệ và Bên nhận công nghệ