VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VƯƠNG THỊ THU
PHÁT TRIỂN KINH TẾ LÀNG NGHỀ GẮN VỚI BẢO
VỆ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HOÀI ĐỨC,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số
: 8340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Bùi Quang Tuấn
HÀ NỘI, 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực.Những kết luận trong luận văn
chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Vương Thị Thu
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
5
KTXH
Kinh tế xã hội
6
QCCP
Quy chuẩn cho phép
7
UBND
Ủy ban nhân dân
8
CCN
Cụm công nghiệp
9
NXB
Nhà xuất bản
2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng đến vấn đề phát triển kinh tế gắn
với bảo vệ môi trường tại các làng nghề ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
33
2.2. Thực trạng phát triển kinh tế, thực trạng môi trường và bảo vệ môi trường ở các
làng nghề trên địa bàn huyện Hoài Đức
41
2.3. Các chính sách liên quan đến vấn đề phát triển kinh tế làng nghề gắn với bảo vệ
môi trường
44
2.4. Đánh giá chung
46
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ LÀNG NGHỀ GẮN VỚI
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
TỪ NAY ĐẾN NĂM 2025
57
3.1. Bối cảnh và phương hướng của huyện Hoài Đức trong phát triển kinh tế làng
nghề gắn với bảo vệ môi trường
57
Do quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá diễn ra nhanh, kinh tế phát triển
mạnh đặc biệt là kinh tế tại các làng nghề trên địa bàn huyện. Tuy nhiên sự phát
triển ấy về cơ bản vẫn mang tính tự phát, nhỏ lẻ, thiết bị thủ công, đơn giản, công
nghệ lạc hậu, mặt bằng sản xuất nhỏ hẹp cộng thêm ý thức người dân ở một số làng
nghề đối với việc bảo vệ môi trường sinh thái và bảo vệ sức khoẻ con người còn
hạn chế... đã tạo sức ép không nhỏ đến chính chất lượng môi trường sống của làng
nghề và cộng đồng xung quanh.
Có thể thấy rằng, ô nhiễm môi trường làng nghề là nguyên nhân chính gây ra
các dịch bệnh cho người dân đang lao động và sinh sống tại chính làng nghề. Tỷ lệ
người mắc bệnh tại các làng nghề đang có xu hướng gia tăng trong những năm gần
đây, tập trung vào một số bệnh, như: các bệnh ngoài da, bệnh đường hô hấp, bệnh
tiêu hóa hay các bệnh về mắt… Ô nhiễm môi trường làng nghề còn gây ảnh hưởng
trực tiếp tới các hoạt động phát triển KTXH của chính làng nghề đó, gây ra những
tổn thất kinh tế không nhỏ và dẫn đến những xung đột môi trường trong cộng đồng.
1
Trước tình hình đó, huyện Hoài Đức cần phải có những chủ trương, chính sách
và biện pháp để giải quyết triệt để vấn đề nêu trên, đưa kinh tế làng nghề phát triển
nhanh, bền vững những vẫn đảm bảo được môi trường sáng, xanh, sạch, đẹp. Chính
vì vậy cần thiết phải có những công trình nghiên cứu khoa học, có đủ độ tin cậy làm
cơ sở lý luận và nhận thức cho những giải pháp cụ thể để triển khai thực hiện.
Xuất phát từ lý do đó, vấn đề “Phát triển kinh tế làng nghề gắn với bảo vệ môi
trường trên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội ” được chọn làm đề tài
nghiên cứu của Luận văn này.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường nói chung và vấn đề phát
triển kinh tế làng nghề gắn với bảo vệ môi trường nói riêng không phải là vấn đề
mới, tuy nhiên, trong thời gian qua, vì tính chất cấp thiết của nó nên đã có nhiều tác
nghề gắn với bảo vệ môi trường ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội trong giai
đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát:
Mục tiêu của đề tài là đánh giá thực trạng phát triển kinh tế làng nghề gắn với
bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện Hoài Đức, từ đó đề xuất các giải pháp thúc
đẩy phát triển kinh tế làng nghề gắn với bảo vệ môi trường ở huyện Hoài Đức,
thành phố Hà Nội từ nay đến năm 2025.
Mục tiêu cụ thể:
Hệ thống hoá lý luận và tìm hiểu kinh nghiệm thực tiễn về vấn đề phát triển
kinh tế gắn với bảo vệ môi trường tại các làng nghề.
Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế làng nghề gắn với bảo vệ
môi trường tại các làng nghề, chỉ ra những kết quả đạt được, các hạn chế và nguyên
nhân của các hạn chế này.
Đề xuất quan điểm và một số giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế làng
nghề gắn với bảo vệ môi trường tại các làng nghề huyện Hoài Đức, thành phố Hà
Nội từ nay đến năm 2025.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:Đối tượng nghiên cứu là vấn đề phát triển kinh tế làng
nghề gắn với bảo vệ môi trường.
Phạm vi nghiên cứu
3
- Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
- Về thời gian: Nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế làng nghề gắn với bảo
- Hệ thống hóa lý luận về phát triển kinh tế làng nghề gắn với bảo vệ môi
trường huyện Hoài Đức.
- Mô tả được thực trạng và đề xuất các giải pháp trong việc phát triển làng
nghề gắn với bảo vệ môi trường huyện Hoài Đức.
- Kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần cho việc hoạch định chủ trương,
chính sách phát triển kinh tế gắn với vấn đề bảo vệ môi trường tại các làng nghề,
góp phần nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn huyện Hoài Đức.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương, cụ thể như sau:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế làng
nghề gắn với bảo vệ môi trường.
- Chương 2: Thực trạng vấn đề phát triển kinh tế làng nghề gắn với bảo vệ
môi trường ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 - 2018.
- Chương 3: Giải pháp phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường tại các
làng nghề huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, từ nay đến năm 2025.
5
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
LÀNG NGHỀ GẮN VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
1.1. Đặc điểm và vai trò của làng nghề truyền thống trong phát triển kinh tế xã hội
1.1.1. Một số khái niệm
1.1.1.1. Khái niệm “làng nghề” và các khái niệm liên quan
Có nhiều khái niệm về “làng”, tuy nhiên nói chung “làng” hay “ngôi làng” là
một khu định cư của một cộng đồng người, nó lớn hơn xóm, ấp nhưng nhỏ hơn một
thị trấn, với dân số khác nhau, có thể có từ một vài trăm đến một vài ngàn người.
cho người dân vốn trước đây chỉ trông chờ vào các vụ lúa. Và cũng chính nhờ
những lợi ích khác nhau do các nghề thủ công đem lại mà trong mỗi làng bắt đầu có
sự phân hóa. Nghề đem lại lợi ích nhiều thì phát triển mạnh dần, ngược lại những
nghề mà hiệu quả thấp hay không phù hợp với làng thì dần dần bị mai một. Từ đó
bắt đầu hình thành nên những làng nghề chuyên sâu vào một nghề duy nhất nào đó,
như làng gốm, làng làm chiếu, làng làm lụa, làng làm đồ đồng...
Hiện nay, nước ta có có hơn 2.000 làng nghề thủ công và làng nghề truyền thống
với rất nhiều nghề khác nhau đang hoạt động. Do sự đa dạng về chủng loại mặt
hàng được sản xuất ra, nên ở nước ta có nhiều loại làng nghề. Dưới đây là một số
tiêu thức dùng để phân loại làng nghề đã có ở Việt Nam.
Thứ nhất, căn cứ vào theo thời gian làm nghề, người ta chia thành làng mới
làm nghề (là những làng mới làm nghề tiểu thủ công trong vòng 20-30 năm trở đây)
và là làng nghề lâu đời hay làng nghề truyền thống.
Thứ hai, căn cứ vào tính chất cũ mới của nghề, người ta chia thành làng làm
nghề mới (là làng những nghề mới xuất hiện trong thời gian gần đây theo yêu cầu
của xã hội đòi hỏi hay theo kỹ thuật tạo thành như nghề tái chế phế liệu: tái chế chì,
tái chế nhựa...) và làng làm nghề truyền thống (là loại làng làm nghề truyền thống
hay rất gần với nghề truyền thống).
Thứ ba, căn cứ vào số lượng nghề của làng, người ta chia ra làng 1 nghề (cả
làng chỉ làm một nghề thủ công) và làng nhiều nghề (là làng ngoài nghề nông ra còn
làm từ 2 nghề thủ công trở lên hay là loại làng có thêm vừa nghề thủ công, vừa nghề
buôn).
Thứ tư, vào mặt hàng sản xuất, có thể chia thành làng nghề chế biến lương
thực, thực phẩm; làng nghề sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ; làng nghề làm
đồ gốm sứ; làng nghề làm nghề kim khí; làng nghề sản xuất các mặt hàng tiêu dùng
thông thường; làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng.
8
9
nơi chứa đựng, hấp thụ và trung hoà các chất thải do con người tạo ra trong cuộc
sống và hoạt động sản xuất, xã hội , qua đó đánh giá được chất lượng đạt được của
môi trường.
Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các
tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy
thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên
nhiên nhằm giữ môi trường trong lành (Khoản 3 điều 3, chương I, Luật Bảo vệ môi
trường năm 2014).
Như vậy, theo quy định trên, bảo vệ môi trường không chỉ nhằm tới việc bảo
đảm yêu cầu về hoá, lý, sinh, mà còn đảm bảo một giá trị nhân văn trong đời sống
KTXH và một nguồn sống lâu dài đối với con người trong môi trường sống cho
phép. Bảo vệ và quản lý môi trường hướng tới các mục đích như: khuyến khích sử
dụng các vật liệu thích hợp không ô nhiễm, suy thoái môi trường; triển khai các quá
trình sản xuất và tiêu dùng ít thải độc hại ra môi trường, đảm bảo an toàn đối với
môi trường; xây dựng các kế hoạch về bảo vệ môi trường; đưa ra các biện pháp
ngăn chặn và khắc phục hậu quả do ô nhiễm môi trường gây ra.
Bảo vệ và quản lý môi trường phải bảo đảm các yêu cầu cơ bản sau: sự
nghiệp bảo vệ và quản lý môi trường phải được triển khai đồng bộ trên toàn quốc
đến từng địa phương và xuống từng cơ sở; cần có sự hợp tác quốc tế để giúp đỡ và
khuyến khích, phối hợp trong hoạt động bảo vệ và quản lý môi trường; tăng cường
trách nhiệm pháp lý cho các hoạt động bảo vệ và quản lý môi trường trên cơ sở các
luật và các văn bản dưới luật được ban hành đồng bộ và thực hiện có hiệu quả; xây
dựng hệ thống mạng lưới thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động môi trường.
Sau nhiều năm thực hiện chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, nền
kinh tế của nước ta đang phát triển một cách mạnh mẽ. Từ một nước nông nghiệp
lạc hậu chúng ta đang dần chuyển mình trở thành một nước công nghiệp, đời sống
mùa vụ cũng tạo ra sự dư thừa lao động trong một thời gian nhất định, trong khi đó
tại địa phương có nhu cầu sản xuất các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp để phục vụ
tiêu dùng, sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp,… Do đó đã thúc đầy các hoạt động sản
xuất phát triển, lúc đầu chỉ phục vụ nhu cầu của gia đình, sau phát triển có quy mô,
nhiều gia đình cùng tham gia khiến làng nghề hình thành và phát triển.
Có truyền thống lâu đời
11
Các làng nghề truyển thống Việt Nam còn tồn tại đến ngày nay hầu hết là
những nghề lâu đời, có từ một vài trăm năm đến hàng nghìn năm.
Sự hình thành cùa làng nghề thường gắn với việc các thợ thủ công tập hợp
nhau lại theo các yếu tố kinh tế, như các vùng tập trung đông dân có nhu cầu về
hàng thủ công hoặc để phục vụ cho một đối tượng nhất định như vua quan chốn
kinh kỳ.
Làng nghề hình thành ở những nơi thuận tiện về giao thông đường bộ, đường
thủy và gần nguồn nhiên liệu. Làng nghề phát triển cũng do công lao của các vị tổ
nghề đã chủ động dạy nghề cho dân địa phương và những vùng xung quanh. Trải
qua nhiều năm thăng trầm, các ngành nghề thủ công mỹ nghệ có lúc thịnh, lúc suy.
Thời bao cấp, thủ công nghiệp được liệt vào “nghề phụ nông dân”, các cơ sở tư
nhân sản xuất, kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ được cải tạo, từ đó mai một dần.
Phải đến những năm đổi mới, các ngành nghề thủ công mỹ nghệ mới được khôi
phục, làng nghề cũng được hồi sinh.
Có bản sắc riêng của Việt Nam
Làng nghề truyền thống là một bộ phận của nền văn hóa phi vật thể, có vai
trò quan trọng, thể hiện sự sáng tạo của hoạt động văn hóa Việt Nam. Giá trị văn
hóa thể hiện rõ nét nhất trong các sản phẩm của làng nghề, qua bàn tay khéo léo và
nghệ thuật tinh xảo của các nghệ nhân được lưu truyền hàng trăm năm nay. Mỗi sản
phẩm của làng nghề không chỉ là một sản phẩm hàng hóa thông thường, mà còn là
công, giản đơn cũng như chi phí, thời gian và sức lao động. Tuy nhiên vẫn có những
công đoạn trong quá trình sản xuất yêu cầu trình độ cao, độ tinh xảo nhiều đòi hỏi
lao động thủ công thực hiện.
Việc dạy nghề trước đây chủ yếu theo phương thức truyền nghề (cha truyền con
nối) trong các gia đình, từ đời này sang đời khác và hầu hết chỉ trong khuôn khổ của
từng làng. Sau này, có nhiều hợp tác xã làm nghề thủ công ra đời, phương thức truyền
nghề và dạy nghề đã có nhiều thay đổi, mang tính đa dạng và phong phú hơn.
Nguyên vật liệu
Đa số nguyên vật liệu của các làng nghề thường là nguyên vật liệu sẵn có,
nguồn cung ứng tại chỗ hoặc được nhập từ các vùng lân cận tuy nhiên hầu hết vẫn
là sử dụng nguồn nguyên liệu có sẵn và dồi dào tại địa phương.
Lực lượng lao động
Lực lượng lao động không phân biệt tuổi tác, giới tính, phần lớn có quan hệ
gia đình dòng họ, được đào tạo theo kiểu kinh nghiệm “xcha truyền con nối”. Do đó
13
bên cạnh một số ít nghệ nhân và những người thợ có tay nghề cao, thì có đến 55%
lao động tại các làng nghề chưa qua đào tạo, khoảng 36% không có chuyên môn kỹ
thuật. Đối với các hộ kiêm (vừa sản xuất nông nghiệp vừa làm nghề), có tới 79%
lao động không có chuyên môn kỹ thuật.
Phát triển không theo quy hoạch, không ổn định, có tính thời vụ, thăng trầm
phụ thuộc vào nhu cầu thị trường trong và ngoài nước và đặc điểm sản xuất.
Làng nghề từ Bắc đến Nam có nhiều tính chất tương đồng về nghề, về sản phẩm,
tính văn hoá nghệ thuật do hiện tượng di dân, di nghề và sự bành trướng tự nhiên
của hiện tượng kinh tế – xã hội làng nghề.
Trình độ công nghệ và các phương tiện sản xuất tại các làng nghề ở nông thôn
còn lạc hậu, hạ tầng kỹ thuật rất thấp, chỉ khoảng 20% các cơ sở có nhà xưởng kiên
cố, 86% có sử dụng điện, 37% công việc được cơ khí hoá còn lại tới trên 60% làm
từ nguồn gốc và đặc trưng xã hội nông nghiệp sản xuấ mùa vụ, cơ cấu quy mô
thông qua chế độ làng xã Việt Nam.
1.1.3. Vai trò của làng nghề trong nền kinh tế, xã hội
Thứ nhất, tận dụng nhân lực, tăng thu nhập, gia tăng giá trị sản xuất. Việc
làm là vấn đề cấp thiết hiện nay. Làng nghề phát triển đóng vai trò quan trọng thu
hút việc làm, tận dụng lao động tránh tình trạng phát triển chợ lao động tự phát lúc
trái vụ, di dân tự do.
Thứ hai, gia tăng giá trị hàng xuất khẩu. Đối với thị trường thế giới thì sản
phẩm của thủ công truyền thống được xếp vào nhóm hàng có khả năng cạnh tranh
cao. Bởi vì: Tính độc đáo, mang đậm bản sắc dân tộc, là sự kết hợp hoàn mỹ giữa
kỹ thuật và thẩm mỹ, không thể sản xuất hàng loạt bằng máy móc được.
Thứ ba, phát triển làng nghề góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa.
+ Mối quan hệ làng nghề và quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn.
Do sự phát triển của lực lượng sản xuất đã dẫn tới sự phân công lao động lần thứ hai,
nghề thủ công tách ra khỏi nông nghiệp. Nghề thủ công phát triển dẫn tới sự xuất
hiện công trường thủ công. Như vậy, làng nghề truyền thống chính là khởi đầu công
nghiệp nông thôn, là một bộ phận của ngành công nghiệp và là một đối tượng của
quá trình CNH, HĐH nói chung và CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn nói riêng.
+ Góp phần hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý, phân công lao động theo hướng
CNH, HĐH. Sự phục hồi phát triển làng nghề truyền thống và xuất hiện làng nghề
15
mới sẽ chi phối các bộ phận khác trong nền kinh tế quốc dân. Đầu tiên là trong
ngành nông nghiệp, tiếp theo phát triển các dịch vụ.
Thứ tư, phát triển làng nghề truyền thống là phát huy lợi thế so sánh. Nghị
quyết Đại hội Đảng IX đã đặt ra vấn đề phát huy nội lực đất nước trong quá trình
xây dựng đất nước. Làng nghề truyền thống chính là nguồn lực còn bỏ ngỏ trong
hành trình tìm hiểu văn hóa Việt Nam. Trong quá trình hội nhập hiện nay, người ta
coi sản phẩm của làng nghề truyền thống là di sản văn hóa vật thể của các dân tộc
trên thế giới. Vì vậy phát triển làng nghề truyền thống chính là giữ gìn văn hóa vật
thể ngược lại giữ gìn bảo vệ văn hóa vật thể (Nghề thủ công truyền thống) là cơ sở
để làng nghề được phát triển. Đây chính là hai mặt của vấn đề giữ gìn bản sắc văn
hóa dân tộc trong những định hướng xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Các sản phẩm của các làng nghề hiện nay không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ
trong nước, mà còn được xuất khẩu, như hàng thủ công mỹ nghệ, đồ gỗ gia
dụng…đã có mặt ở hơn 100 quốc gia trên thế giới. Kim ngạch xuất khẩu các mặt
hàng này năm 1999 đạt khoảng 250 triệu USD; năm 2000 ước đạt khoảng 300 triệu
USD và 10 tháng đầu năm 2005 đã đạt 459 triệu USD (theo số liệu của Bộ Thương
mại, 2005).
Theo kết quả thống kê, tại các vùng nông thôn đồng bằng, hiện có khoảng 10
triệu lao động hoạt động ngành nghề phi nông nghiệp, chiếm 29,45% lực lượng lao
động nông thôn. Các hộ, cơ sở ngành nghề nông thôn có quy mô lao động nhỏ. Ở
các hộ bình quân có 3 – 4 lao động thường xuyên và 2 – 5 lao động thời vụ; ở các
cơ sở bình quân có 27 lao động thường xuyên và 8 – 10 lao động thời vụ. Nhiều
làng nghề đã thu hút trên 60% số lao động vào các hoạt động ngành nghề như làng
nghề gốm sứ Bát Tràng, làng nghề gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, dệt Thuỵ Phương…. Các
ngành nghề nông thôn phát triển đã kéo theo nhiều hoạt động dịch vụ liên quan, tạo
thêm việc làm mới, thu hút thêm lao động. Do đó ngành nghề nông thôn được coi là
động lực trực tiếp giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn.
Thu nhập bình quân của một lao động ở cơ sở ngành nghề nông thôn bằng 2 – 4 lần
so với thu nhập bình quân của lao động nông nghiệp thuần. Ở các làng nghề không
còn hộ đói, hộ nghèo chiếm tỷ lệ nhỏ và hộ giàu ngày càng tăng. Trên cơ sở tạo ra
việc làm, tăng thêm thu nhập, ngành nghề nông thôn được coi là động lực để
chuyển dịch cơ cấu xã hội nông thôn theo hướng tăng hộ giàu, giảm hộ nghèo, nâng
cao phúc lợi cho người dân.
17
có giao thông thuận lợi. Ngày nay, khi giao lưu kinh tế càng được phát triển, thị
trường tiêu thụ sản phẩm của làng nghề không còn bó hẹp tại địa phương mà đã
18
vươn ra các khu vực lân cận, thậm chí còn xuất khẩu ra nước ngoài. Bên cạnh đó
nguồn nguyên liệu tại chỗ đáp ứng cho nhu cầu của làng nghề ngày càng cạn kiệt,
bắt buộc phải vận chuyển từ những nơi khác về, chính vì vậy hệ thống giao thông
càng thuận lợi thì làng nghề càng phát triển.
Trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sự phát triển của các làng
nghề chịu ảnh hưởng rất lớn bởi hệ thống cung cấp điện nước, xử lý nước thải, giảm
thiểu ô nhiễm môi trường.
Ngoài ra, sự hoạt động của các làng nghề trong nền kinh tế thị trường chịu
tác động mạnh mẽ bởi hệ thống thông tin nói chung. Sự phát triển của hệ thống
thông tin liên lạc, nhất là internet giúp cho các doanh nghiệp, các hộ sản xuất nắm
bắt kịp thời, nhanh chóng, chính xác những thông tin về nhu cầu, thị hiếu, giá cả,
mẫu mã...
1.2.3. Sự biến động của nhu cầu thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, nhà sản xuất phải bán cái thị trường cần chứ
không bán cái mình có. Do đó, nhu cầu về sản phẩm và khả năng thích ứng của làng
nghề cho phù hợp với những yêu cầu của thị trường quyết định sự tồn tại và phát
triển của làng nghề.
Những làng nghề có khả năng thích ứng nhanh với sự thay đổi của nhu cầu
thường có sự phát triển nhanh chóng. Chẳng hạn như làng nghề sản xuất đồ gỗ gia
đình, sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất đồ gốm sứ mỹ nghệ
1.2.4. Các yếu tố đầu vào
Nguồn nguyên liệu
Trước đây các làng nghề thường hình thành ở những nơi gần nguồn nguyên
liệu, nhưng qua quá trình khai thác, nguồn nguyên liệu đã cạn kiệt dần, chẳng hạn
Ngày nay, khi làng nghề tồn tại trong nền kinh tế thị trường thì ngoài kỹ
năng, bí quyết riêng của người thợ, sự phát triển của làng nghề đòi hỏi người sản
xuất, nhất là các chủ hộ phải có những kiến thức về kinh doanh như quản lý sản
xuất, tổ chức tiêu thụ sản phẩm.. Tuy nhiên, theo kết quả điều tra năm 1997 của bộ
NN-PTNT thì trình độ học vấn và năng lực quản lý của các chủ cơ sở nhìn chung
còn rất hạn chế.
1.2.6. Vốn cho phát triển sản xuất kinh doanh
Vốn là yếu tố đầu vào quan trọng của quá trình sản xuất, nó ảnh hưởng trực
tiếp đến khả năng mở rộng quy mô sản xuất của doanh nghiệp, sự phát triển của
làng nghề cũng không là hiện tượng ngoại lệ.
20
Trong điều kiện ngày nay, nhất là khi nền kinh tế thị trường phát triển, nhu
cầu về vốn để mở rộng sản xuất ngày càng gia tăng.
Trước đây, qui mô vốn của các hộ sản xuất kinh doanh trong các làng nghề
rất nhỏ bé, thường là vốn tự có của gia đình nên khả năng mở rộng qui mô sản xuất
cũng bị hạn chế. Hầu hết các hộ sản xuất đều có qui mô vừa và nhỏ và lại thuộc
thành phần kinh tế dân doanh cho nên khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay là rất
khó. Đây chính là một trở ngại lớn cho sự phát triển của làng nghề.
1.2.7. Tiêu chí đánh giá phát triển kinh tế làng nghề gắn với bảo vệ môi trường
- Tăng trưởng kinh tế: Các chỉ tiêu như tổng doanh thu, tổng giá trị gia tăng,
thu nhập bình quân đầu người,…thể hiện được hoạt động của làng nghề có hiệu quả
và phát triển hay không
-Vấn đề việc làm: giải quyết được tình trạng thất nghiệp, tạo công ăn việc
làm cho đội ngũ lao động.
-Tăng trưởng xuất khẩu: không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước, các làng
nghề phát triển mạnh khi tăng trưởng xuất khẩu, mở rộng kinh doanh ra thị trường
quốc tế.