Thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên các trường đại học ở Việt Nam - Pdf 50

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ THỊ THANH HƯƠNG

THỊ HIẾU THẨM MỸ CỦA SINH VIÊN CÁC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SỸ TRIẾT HỌC

Hà Nội – 2018


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ
TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI LUẬN ÁN ............................ 5
1.1. Tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận về thị hiếu thẩm mỹ và thị
hiếu thẩm mỹ của sinh viên ................................................................................ 5
1.2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến thực trạng và giải pháp về thị hiếu thẩm
mỹ của sinh viên các trường đại học ở Việt Nam ............................................... 15
1.3. Đánh giá tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra đối với luận án ............ 26
Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỊ HIẾU THẨM MỸ VÀ THỊ
HIẾU THẨM MỸ CỦA SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở
VIỆT NAM ....................................................................................................... 28
2.1. Thị hiếu thẩm mỹ ............................................................................................... 28
2.2. Thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên các trường đại học ở Việt Nam ...................... 44
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG THỊ HIẾU THẨM MỸ CỦA SINH VIÊN CÁC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ........................................... 59
3.1. Ưu điểm của thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên các trường đại học ở Việt

bị đảo lộn, xảy ra nhiều hành vi tiêu cực. Quan niệm không đầy đủ về đời sống
thẩm mỹ làm cho đời sống tinh thần nghèo nàn.
Trong cấu trúc phát triển con người, theo giá trị truyền thống quý báu của ông
cha ta là con người phải phát triển đầy đủ các phương diện của một nhân cách hoàn
thiện: đức, trí, thể, mỹ. Đó là con người phát triển đầy đủ các phẩm chất, nhân cách
ở trình độ cao. Đức - Trí- Thể - Mỹ chính là tiêu chí xây dựng và phát triển con
người của hầu hết các nền giáo dục tiến bộ trên toàn thế giới, ở mọi thời đại. Tuy
nhiên, xã hội ta hiện nay đang xảy ra nhiều chuyển đổi phức tạp, nhất là sự thay đổi
các quan hệ giá trị, sự quan tâm đến việc giáo dục, xây dựng và phát triển con người
theo tiêu chí Chân – Thiện – Mỹ chưa được đầy đủ, và nhiều khi còn thiên lệch các
hệ giá trị, các thang giá trị, các chuẩn mực đánh giá xã hội, làm đảo lộn thang giá trị
trong việc đánh giá con người và từ đó lệch lạc, phiến diện trong giáo dục và xây
dựng con người toàn diện.
Thị hiếu thẩm mỹ là một bộ phận cấu thành ý thức thẩm mỹ của con người, là
cơ sở cho mọi hoạt động thưởng thức, đánh giá và sáng tạo thẩm mỹ. Thị hiếu thẩm
mỹ lành mạnh có vai trò to lớn trong xây dựng nền văn hóa mới, con người mới ở
nước ta mà mục tiêu trọng tâm là tạo cơ sở đúng đắn cho mọi hoạt động sống cũng


2
như mọi hoạt động thưởng thức, đánh giá và sáng tạo thẩm mỹ của chủ thể. Thị hiếu
thẩm mỹ không chỉ biểu hiện quá trình tự phát triển của cá nhân mà còn thể hiện
trình độ giáo dục thẩm mỹ trong nhà trường và ngoài xã hội. Luật giáo dục năm 2005
đã nhấn mạnh: “Quan tâm đầy đủ đến giáo dục phẩm chất, đạo đức, ý thức công dân,
giáo dục sức khỏe và thẩm mỹ cho học sinh, sinh viên là yêu cầu chiến lược phát triển
giáo dục trong giai đoạn mới ở nước ta” [142]. Có thể nói, cùng với giáo dục đạo đức,
trí tuệ, thể chất, giáo dục thị hiếu thẩm mỹ là nhiệm vụ quan trọng đối với sự phát triển
nhu cầu và lý tưởng tiên tiến của con người Việt Nam giai đoạn mới.
Thế hệ trẻ nói chung và sinh viên Việt Nam nói riêng là lực lượng quan trọng, có
vai trò quyết định đến vận mệnh, tương lai của đất nước. Hồ Chí Minh đã đánh giá cao

nội dung, đặc điểm THTM của sinh viên các trường đại học ở Việt Nam; khảo sát,
đánh giá thực trạng THTM của sinh viên đại học hiện nay, từ đó đề ra phương
hướng và các giải pháp nâng cao THTM của sinh viên các trường đại học ở Việt
Nam.
* Nhiệm vụ: Từ yêu cầu trên, luận án cần giải quyết và làm rõ những nội dung
căn bản sau:
Một là: Nghiên cứu tổng quan các công trình tiêu biểu về văn hóa thẩm mỹ và
thị hiếu thẩm mỹ, từ đó đặt ra những vấn đề nghiên cứu tiếp theo.
Hai là: Làm rõ lý luận về thị hiếu thẩm mỹ và thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên
đại học ở Việt Nam.
Ba là: Phân tích, đánh giá thực trạng thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên đại học
Việt Nam.
Bốn là: Đề xuất phương hướng và giải pháp cơ bản, khả thi nhằm nâng cao thị
hiếu thẩm mỹ cho sinh viên các trường đại học ở Việt Nam thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu của luận án là : THTM của sinh viên các trường đại
học ở Việt Nam hiện nay, từ 2013-2014 đến nay.
* Phạm vi nghiên cứu: Do THTM là vấn đề rộng lớn và phức tạp, liên quan
đến nhiều lĩnh vực như xã hội học, văn hóa học, nghệ thuật học, tâm lý học. Luận án
nghiên cứu THTM của sinh viên các trường đại học được tác giả nghiên cứu từ chuyên
ngành triết học, cụ thể là mỹ học. Do dung lượng luận án có giới hạn và việc xác định mục
tiêu của luận án, cho nên chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau:
Đối tượng khảo sát: Luận án tập trung nghiên cứu THTM của sinh viên
khối các trường đại học không thuộc chuyên ngành văn hóa - nghệ thuật, cụ thể
là khối ngành kinh tế, khoa học xã hôi trên phạm vi cả nước.
THTM được khảo sát chủ yếu trong các loại hình: văn học, âm nhạc, điện
ảnh, thời trang.


4


5

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI LUẬN ÁN
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỊ HIẾU
THẨM MỸ VÀ THỊ HIẾU THẨM MỸ CỦA SINH VIÊN
Tình hình nghiên cứu về thị hiếu thẩm mỹ
Thị hiếu thẩm mỹ là một trong những phạm trù trung tâm của mỹ học, nó
cũng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau như văn học,
văn hóa, tâm lý học, v.v... Từ chuyên ngành triết học nói chung, mỹ học nói riêng,
ngay từ thế kỷ XVII-XVIII, một số nhà triết học phương Tây đã quan tâm nghiên
cứu về THTM.
Tuy nhiên, người có công trình nghiên cứu đồ sộ và đi sâu lý giải vấn đề
THTM phải nói đến I.Kant - nhà triết học cổ điển Đức thế kỷ XVIII- XIX với tác
phẩm Phê phán năng lực phán đoán (Bùi Văn Nam Sơn dịch). Kant gọi THTM là
phán đoán thẩm mỹ hay phán đoán sở thích. Kant coi sự phán đoán thẩm mỹ là sự
hài lòng do cách thức cảm nhận của chủ thể trước đối tượng thẩm mỹ, và ông khẳng
định, không có một nguyên tắc khách quan nào cho sở thích.
Ở Nga, các nhà dân chủ cách mạng Nga cũng bắt đầu đi sâu nghiên cứu
THTM. Tiêu biểu cho các nhà tư tưởng này là Tsecnưsepxki, Plêkhanốp. Plêkhanốp
trong tác phẩm Nghệ thuật và đời sống xã hội (Từ Lâm dịch) có phần viết về “Bàn
về nghệ thuật” đã lý giải mọi THTM đều có nguồn gốc xã hội, nghĩa là THTM phụ
thuộc vào điều kiện sống của con người. Tsecnưsepxki coi nghệ thuật là cuộc sống,
cho nên ông quan niệm THTM ở mỗi người phụ thuộc vào đời sống vật chất và tinh
thần của con người.
Nhiều vấn đề THTM đã được đề cập trong các giáo trình mỹ học của Liên Xô.
Có thể kể đến các giáo trình mỹ học đã được dịch ra tiếng Việt như: Những phạm
trù mỹ học cơ bản của IU.B.Bôrép (Trường Đại học Tổng hợp xuất bản. Hà Nội
1974), Nguyên lý mỹ học Mác-Lênin của V.Xcachersiccốp - I.U.A.Lukin; (Nxb

thị hiếu thẩm mỹ trên tạp chí Triết học số 3, 1976, Như Thiết với tác phẩm Quán
triệt tính Đảng… Có thể nói, những tác phẩm nêu trên đã trên cơ sở triết học và mỹ
học Mác-Lênin, đã đi sâu phân tích làm rõ bước đầu, song có tính nền tảng theo


7
nhận thức và lý giải những vấn đề căn cốt của THTM ở nước ta trong cuối thập niên
70 đầu những năm 80 thế kỷ trước.
Tuy nhiên, ở giai đoạn đầu này vẫn chưa có chuyên khảo riêng nghiên cứu về
vấn đề THTM. Trong các giáo trình Mỹ học đã xuất bản, vấn đề THTM chưa được
tách ra thành các chương, phần độc lập, mà chỉ được trình bày rải rác ở một số khía
cạnh hoặc được đan xen vào các vấn đề khác. Có thể kể đến một số cuốn như: Tìm
hiểu Mỹ học Mác - Lênin, Nxb Văn hóa - 1979 của tác giả Hoài Lam; Mỹ học MácLênin, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1985 của tác giả Đỗ Văn
Khang và Đỗ Huy; Hoài Lam - Nguyễn Hồng Mai, Đặng Hồng Chương, Giáo trình
Mỹ học, trường Đại học Văn hóa, 1991; Vũ Minh Tâm, Mỹ học và giáo dục thẩm
mỹ, Nxb Giáo dục, 2000; Đỗ Văn Khang, Mỹ học đại cương, Nxb Đại học Quốc gia,
2002; Lê Ngọc Trà - Lâm Vinh - Huỳnh Như Phương, Giáo trình Mỹ học đại cương,
Nxb Giáo dục, 2003.
Có thể nói, người quan tâm nghiên cứu và có nhiều công trình về THTM là tác
giả Đỗ Huy. Chủ đề THTM đã được ông đề cập ở một số công trình: Mỹ học khoa
học về các quan hệ thẩm mỹ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001 và Mỹ học với tư
cách là một khoa học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội, 2006. Cuốn Đạo đức học, mỹ
học và đời sống văn hóa nghệ thuật đã tập hợp một số bài viết về THTM. Các tác
giả đưa ra khái niệm thị hiếu và THTM, bản chất xã hội và đặc trưng chủ yếu của
THTM. Đặc trưng cơ bản của THTM đó là: sự phản ứng mau lẹ, sự hào hứng, tính
cá biệt và tính hệ thống hình tượng.
Cuốn Thị hiếu thẩm mỹ trong đời sống của tác giả Nguyễn Chương Nhiếp,
năm 2004, Nxb Chính trị Quốc gia. Cuốn sách được triển khai từ luận án tiến sĩ bảo
vệ năm 2000 có tên Thị hiếu thẩm mỹ và vai trò của nó trong đời sống thẩm mỹ.
Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên nghiên cứu một cách bài bản và đi vào nhiều

kiện tâm sinh lý của cá nhân làm nên tính cá nhân. Tuy nhiên, THTM không phải là
cái thuần túy cá nhân, tách rời khỏi quan hệ thẩm mỹ với hiện thực. Mọi quan hệ
thẩm mỹ đều gắn với tính quy định lịch sử - xã hội của nó. Các nhu cầu, thị hiếu, lý
tưởng cũng không nằm ngoài các quan hệ dân tộc, giai cấp, thời đại.
Trong bài Tính quy luật trong sự hình thành và phát triển THTM, tạp chí Triết
học, số 4, 2002, tác giả Nguyễn Chương Nhiếp nhận định: như mọi hiện tượng xã
hội khác thì THTM cũng mang tính quy luật. Có ba loại quy luật thường xuyên chi
phối, tác động đến sự hình thành và phát triển của nó, đó là quy luật xã hội, quy luật


9

tâm lý và quy luật thẩm mỹ. Quy luật xã hội giải thích sự phát sinh, phát triển và tiêu
vong của các loại thị hiếu, các loại “mốt”. Quy luật tâm lý thể hiện sự thích ứng giữa
nhu cầu tình cảm của con người và đối tượng bên ngoài. Nó cũng như quy luật cung
cầu trên thị trường. Còn quy luật thẩm mỹ là sự tổng hòa những quy luật xã hội và tâm
lý. Nó đặc biệt chú ý quy luật của cái hài hòa; quy luật chi phối, tác động lẫn nhau giữa
nội dung và hình thức. Các quy luật này là cơ sở để giải thích mọi hiện tượng THTM.
Tác giả Dương Viết Á, trong cuốn Mỹ học âm nhạc, quan niệm: Thị hiếu là sở
thích riêng của từng con người trong xã hội, ở đây đã bước đầu có sự đánh giá thẩm
mỹ, nhưng dù sao cũng chưa phải là sự đánh giá có tính chất lý tính mà nặng về tính
chất bản năng, mặc dù là bản năng của con người xã hội, bản năng này nằm trong
cái tổng thể của một con người tư duy, trực quan và chưa thoát khỏi sự chi phối
mạnh mẽ của những cảm xúc thẩm mỹ. Xét quá trình nhận thức, nó thuộc giai đoạn
trực quan sinh động nên nó tác động đặc biệt rõ ràng và sâu sắc vào giai đoạn đầu
trong quá trình thưởng thức âm nhạc.
Nhà nghiên cứu Đỗ Huy đã công bố nhiều bài về THTM như Mấy vấn đề của
THTM trong xã hội ta hiện nay đăng Tạp chí Triết học 1976, số 3, trang 65- 72;
Giáo dục thẩm mỹ và vấn đề hình thành các khả năng sáng tạo, Tạp chí Triết học
1983, số 3 trang 85-95; Hướng đến việc xây dựng các THTM tốt vì sự phát triển

Thỏa mãn nhu cầu văn hóa và nâng cao thị hiếu nghệ thuật. Hội thảo đã thu hút sự
tham gia của nhiều nhà nghiên cứu cả trong và ngoài ngành Triết học. Những bài
viết trong hội thảo đã được tập hợp trong cuốn sách Thỏa mãn nhu cầu văn hóa và
nâng cao thị hiếu nghệ thuật, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1987. Trong phần thứ nhất Một
số quan điểm lý luận chung, có những tác giả bàn nhiều đến vấn đề lý luận về
THTM như:
Tác giả Trần Độ với bài viết cùng tên với chủ đề của hội thảo đã nêu lên ý
nghĩa của việc nghiên cứu nhu cầu văn hóa và thị hiếu nghệ thuật. Theo tác giả, nhu
cầu văn hóa làm cho con người được phát triển toàn diện, ngày càng được nâng cao
về tâm hồn, tình cảm, nhân cách. Nó khiến cho mối quan hệ giữa người và người
ngày càng cao đẹp, cho nên thỏa mãn nhu cầu văn hóa chính là thực hiện mục đích
cao cả đó. Do vậy, nhu cầu văn hóa có mối quan hệ chặt chẽ với vấn đề thị hiếu.
Khi nói đến thị hiếu nghệ thuật, không thể không đề cập đến THTM. Trong bài viết
này, tác giả chưa bàn đến toàn bộ vấn đề của THTM mà chỉ giới hạn ở việc nghiên
cứu thái độ thẩm mỹ của người thưởng thức nghệ thuật đối với các môn nghệ thuật.


11
Theo tác giả, THTM và thị hiếu nghệ thuật luôn luôn tồn tại ở hai mặt hay hai cấp:
xã hội và cá nhân. Mỗi người có quyền có thị hiếu cá nhân, và vì vậy cũng phải có
trách nhiệm tôn trọng thị hiếu cá nhân của người khác. Mỗi công dân trong xã hội
phải biết bảo vệ những nguyên tắc xã hội của thị hiếu và biết chấp nhận sự phong
phú của thị hiếu. Không nên áp đặt thị hiếu cá nhân cho công chúng, nhất là người
lãnh đạo cũng như không ai nhân danh thị hiếu cá nhân để truyền bá những thị hiếu
phản động. Tác giả cũng chỉ ra dấu hiệu của thị hiếu cao và thị hiếu thấp, thị hiếu
lành mạnh và thị hiếu không lành mạnh. Thỏa mãn thị hiếu là một việc làm hết sức
phức tạp và tế nhị. Thị hiếu nào cũng cần phải được đáp ứng, dù thị hiếu thấp, thậm
chí nhiều khi là thị hiếu tầm thường. Tuy nhiên, tác giả cũng khẳng định, không
phải đáp ứng để thỏa mãn các thị hiếu đó mà đáp ứng là để nâng cao thị hiếu.
Các bài viết Bàn thêm về nhu cầu văn hóa và thị hiếu nghệ thuật của Hoàng

điều kiện sinh lý, tâm lý. Khi định hướng, giáo dục rèn luyện tính trực giác trong phán
đoán thị hiếu nghệ thuật, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã gắn liền toàn bộ vấn đề
này vào phạm trù thực tiễn. Thực tiễn đã làm gắn bó giữa cá nhân và xã hội, giữa vật
chất và tinh thần. Thông qua đó mà tính phong phú của trực giác thị hiếu thưởng thức,
đánh giá, sáng tạo nghệ thuật được hình thành.
Cũng trong hội thảo này, tác giả Trường Lưu với bài Mỹ học thực dụng chủ
nghĩa - nguồn gốc của thị hiếu nghệ thuật tầm thường ở Mỹ đã nhắc đến Giêmơ,
Điuây, Haosê và Lêvin... là những đại diện xuất sắc của chủ nghĩa thực dụng ở Mỹ.
Họ là những người bảo vệ cho sự thoát ly của nghệ thuật khỏi những nguyên tắc của
đời sống xã hội; các tác phẩm nghệ thuật càng ít công chúng quý mến thì giá trị
nghệ thuật của nó càng cao. Họ ra sức bào chữa những hiện tượng suy đồi của chủ
nghĩa hiện đại. Sự che giấu kêu gọi hướng tới cái "kinh nghiệm tự do" có dụng ý dắt
dẫn nghệ sĩ từ bỏ việc tham gia tích cực vào đời sống xã hội, từ bỏ đấu tranh cho
một xã hội mới.
Có thể nói, khi nghiên cứu về THTM, các tác giả, từ các cách tiếp cận khác
nhau, ở các mức độ chuyên sâu khác nhau đã bàn về khái niệm, bản chất, đặc trưng,
vai trò của THTM, tính quy luật trong sự hình thành và phát triển THTM, cũng như
mối quan hệ giữa THTM và thị hiếu nghệ thuật.
Tình hình nghiên cứu liên quan đến thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên
Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài liên quan đến THTM của sinh viên hầu
hết được đề cập trong các công trình nghiên cứu về giáo dục thẩm mỹ nói chung.
Có thể kể đến các công trình có tính căn bản như Văn hóa thẩm mỹ của người


13
Xôviết của M.X. Cagan (Trường ĐH tổng hợp Leningrat, 1976); Những vấn đề và
sự hình thành hệ thống giáo dục thẩm mỹ của Liên Xô của N.I.Kiasenko; Nhu cầu
thẩm mỹ của I.A.Gidarian, Matxcơva, 1976, bản dịch tiếng Việt: do Hồ Quý Truyện
dịch 3 chương và bản dịch của Văn Bích 5 chương trong đó phần nội dung nói về
THTM của thanh niên. Trong công trình này, tác giả đã nghiên cứu nhu cầu thẩm

có nội dung phản ánh chân thực con người mới, có sức thuyết phục hùng hồn của
những hình thức tân tiến vừa dân tộc lại vừa hiện đại.
Tác giả Đỗ Huy với một số bài viết tiêu biểu về Mấy vấn đề giáo dục thẩm mỹ
ở lứa tuổi thanh niên, Tạp chí Triết học số 2,1981; tr.147-163. Giáo dục thẩm mỹ và
sự nghiệp xây dựng con người mới, Tạp chí Triết học số 4, 1982; Nguyễn Văn
Huyên với bài viết Một số vấn đề giáo dục thẩm mỹ cho thanh niên, Tạp chí Nghiên
cứu nghệ thuật, số 4, tr.16-18. Các bài viết đã tập trung vào việc phân tích tính tất
yếu của việc giáo dục thẩm mỹ ở lứa tuổi thanh niên, bản chất của việc giáo dục
thẩm mỹ đối với lứa tuổi thanh niên. Các tác giả khẳng định, bản chất của việc giáo
dục thẩm mỹ cho thanh niên là chủ động xây dựng những thị hiếu tốt, phong phú,
lành mạnh cho họ. Bởi vì THTM là năng lực tình cảm ổn định của tuổi trẻ, thường
xuyên tham gia vào việc lựa chọn những "mốt" mới cho nên giáo dục thẩm mỹ cho
lứa tuổi thanh niên, chủ yếu nhất là giáo dục thị hiếu. Có giáo dục thị hiếu đúng thì
dù trong hoàn cảnh nào thanh niên cũng biết đưa cái đẹp chân chính vào cuộc sống
của mình. Và gần đây nhất, tác giả Đỗ Huy có bài viết Giáo dục thị hiếu nghệ thuật
cho thế hệ trẻ ở nước ta hiện nay đăng tải trên tạp chí Triết học số 12, 2014. Bài viết
là đánh giá sâu sắc của tác giả về thị hiếu nghệ thuật của thế hệ thanh thiếu niên
hiện nay. Trên cơ sở phân tích một số quan điểm khác nhau về thị hiếu, THTM và
thị hiếu nghệ thuật, tác giả bài viết đã đưa ra định nghĩa về thị hiếu nghệ thuật và
chỉ rõ đâu là thị hiếu tốt, thị hiếu xấu, thị hiếu lành mạnh, thị hiếu không lành mạnh,
thị hiếu thấp và thị hiếu cao cũng như vai trò của thị hiếu nghệ thuật trong thưởng
thức, đánh giá và sáng tạo nghệ thuật. Cuối bài viết, tác giả khẳng định tầm quan
trọng của việc giáo dục thị hiếu nghệ thuật tốt cho thế hệ trẻ hiện nay ở nước ta.
Công trình mới nhất nghiên cứu về thị hiếu của thanh niên là cuốn THTM của
giới trẻ thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Văn hóa Văn nghệ, năm 2013, tác giả Nguyễn
Thị Hậu chủ biên. Trong đó có một số bài viết tiêu biểu như Định hướng THTM cho
giới trẻ hiện nay của Hồ Bá Thâm, tr.174-185; Xây dựng THTM cho thanh niên của
Lê Thị Ngọc Dung, tr 200 - 211; Giáo dục THTM cho thanh niên thành phố Hồ Chí
Minh đáp ứng nhu cầu vươn tới cái đẹp của tác giả Lê Thị Thanh Tâm; tr 211-219.


những biến đổi trong lối sống của thanh niên ở thời kì mới và một số định hướng lối
sống cho thế hệ thanh niên.
Trên cơ sở đi sâu nghiên cứu bản chất, đặc trưng, cấu trúc của THTM và đời


16
sống thẩm mỹ, tác giả Nguyễn Chương Nhiếp trong cuốn THTM trong đời sống,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004 đã dành chương cuối của cuốn sách - Nâng
cao THTM trong đời sống thẩm mỹ ở nước ta hiện nay để trình bày thực trạng và đề
xuất những giải pháp khả thi nhằm nâng cao và phát huy vai trò của THTM nói
riêng, đời sống tinh thần nói chung ở nước ta hiện nay. Trước hết, Nguyễn Chương
Nhiếp khẳng định, nâng cao THTM và phát huy vai trò của nó trong đời sống thẩm
mỹ là yêu cầu cấp bách của sự nghiệp đổi mới. Đồng thời xây dựng và phát triển
nền văn hóa nghệ thuật tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là vấn đề quan trọng trong
việc nâng cao và phát huy vai trò của thị hiếu, cần tăng cường giáo dục THTM
trong đời sống. Tác giả đã khái quát về tình hình THTM và đời sống thẩm mỹ của
nước ta hiện nay. Những mặt tích cực như văn hóa nghệ thuật đã cố gắng đáp ứng
nhu cầu và THTM của nhân dân ngày càng theo hướng đa dạng hóa, năng động hóa.
Sự phát triển đa dạng của THTM đã làm cho nhu cầu thưởng thức thẩm mỹ của
công chúng ngày càng phong phú đồng thời làm cho đời sống thẩm mỹ của chúng ta
đang có những diễn biến phức tạp và có phần đáng lo ngại. Những năm qua, nhu
cầu và THTM của công chúng có nhiều biến động. Tác giả cũng chỉ ra sự khác biệt
giữa thị hiếu của công chúng lớn tuổi và công chúng trẻ. Nhất là thực trạng một bộ
phận thanh thiếu niên ưa thích những cái gì khác lạ của văn hóa nghệ thuật nước
ngoài mà dường như quay lưng lại với văn hóa nghệ thuật dân tộc. Đồng thời nêu
lên xu hướng chuyển từ nhu cầu đọc sang nhu cầu nghe nhìn. Điện ảnh là loại hình
nghệ thuật thu hút được đông đảo quần chúng nhất. Mặt khác, sở thích trong thưởng
thức điện ảnh ở các tầng lớp xã hội cũng không giống nhau. Học sinh, sinh viên
thích thể loại phim tâm lý tình cảm (50,6%) hơn phim nghệ thuật (25,1%). Tác giả
Nguyễn Chương Nhiếp đã đưa ra những nhận định về chất lượng phim ảnh ít tạo

Chương Nhiếp cũng ít nhiều nhắc đến THTM của học sinh, sinh viên trong bài Tư
tưởng Hồ Chí Minh định hướng nhu cầu thẩm mỹ lành mạnh cho thế hệ trẻ và bài Vì
những thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh của thế hệ trẻ theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Tác giả
đã có những đánh giá và nhận định mang tính gợi mở cho việc định hướng nhu cầu
thẩm mỹ tốt đẹp cho thế hệ trẻ ngày nay theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Cuốn sách Thỏa mãn nhu cầu văn hóa và nâng cao thị hiếu nghệ thuật, Nxb
Văn hóa, Hà Nội, 1987, dành phần thứ hai bàn về vấn đề giáo dục THTM, nâng cao
trình độ thưởng thức một số loại hình nghệ thuật trong công chúng và vai trò trách
nhiệm của người nghệ sĩ có nhiều bài viết đề cập đến đối tượng người trẻ, tiêu biểu
có thể kể đến như:
Tác giả Phan Kế An với bài Thị hiếu nghệ thuật là cái mới đã đi vào khía


18
cạnh cái mới trong thị hiếu nghệ thuật, vì theo ông, cái mới là yêu cầu chính đáng
của thị hiếu nghệ thuật. Tác giả đã chỉ ra thế nào là cái mới trong nghệ thuật và
trong thị hiếu nghệ thuật. Đồng thời đề cập đến những vấn đề đặt ra khi tiếp nhận
cái mới để tránh những chuyện dễ dãi trong việc tiếp nhận vì ông cho rằng nghệ
thuật dễ tính nhất, nhưng cũng khắt khe nhất. Để minh chứng cho điều này, ông
nhắc đến một thực trạng trong giới mỹ thuật là có những người nhân danh cái mới
để từ chối những yêu cầu của cuộc sống. Họ đi vào những chủ đề "một mình mình
biết, một mình mình hay" không ăn nhập gì với cuộc sống hiện tại. Nhấn mạnh điều
này, ở một chừng mực nào đó tác giả cho rằng, nghệ sĩ sáng tạo cũng chịu trách
nhiệm về những thị hiếu tầm thường và thấp kém của công chúng. Đồng thời nhắc
nhở giới trẻ có xu hướng đạt tới cái mới bằng bất cứ giá nào và cần tỉnh táo trong
việc thưởng thức nghệ thuật.
Trong bài Thưởng thức nghệ thuật (tr.159 - 177) tác giả Dương Viết Á lại nói
đến sự rung cảm đầu tiên của người thưởng thức khi tiếp xúc với tác phẩm nghệ
thuật. Theo ông, nói đến thưởng thức nghệ thuật là nói đến tác động của THTM của
từng con người cụ thể, THTM thuộc phạm trù cái riêng, do đó phải tôn trong thị

kinh điển - bác học đã lỗi thời, nhạc "bảo tàng", nhạc dân tộc cổ truyền là "áo the,
khăn xếp", chỉ phù hợp với tâm sinh lý người thời xưa. Ngược lại, cũng có người
quá hoảng hốt trước sự lan tràn của loại nhạc pop, rock, kêu gọi sự ngăn cấm thứ
nhạc "sập sình" và tất cả bị ghép vào một khái niệm "nhạc thương mại, nhạc thực
dân mới". Theo tác giả, đó là những suy nghĩ cực đoan và có phần quá đơn giản và
nay đã dần được uốn nắn.
Tác giả Nguyễn Thị Minh Châu có bài Giá trị nghệ thuật và nhân văn qua tác
phẩm âm nhạc số 2/2014, tr.45-48 Tạp chí Văn hóa nghệ thuật. Qua bài viết này, tác
giả luận bàn đến giá trị nghệ thuật qua các tác phẩm âm nhạc. Từ đó cho thấy, tác
phẩm âm nhạc có giá trị nghệ thuật và tính nhân văn sẽ tạo nên môi trường giáo dục
tốt, nhưng vẫn còn đó, những tác phẩm man “tính hủy diệt” gây cực đoan, phản cảm
trong đời sống âm nhạc ở Việt Nam đã làm khô cằn và vô vị đối với THTM của
công chúng thưởng thức.
Qua bài Ảnh hưởng văn hóa Hàn Quốc đến showbiz Việt số 2/2014, tr.45-48
Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, tác giả Nguyễn Tiến Mạnh đã chỉ ra sự ảnh hưởng của
văn hóa Hàn Quốc đến showbiz Việt Nam. Từ đó cho thấy rằng, có một bộ phận ca
sỹ dập khuôn, bắt chước một cách máy móc văn hóa Hàn Quốc trong các sản phẩm


20
của mình. Điều này có những tác động và ảnh hưởng tiêu cực tới THTM âm nhạc
của giới trẻ hiện nay.
Tác giả Hoàng Trần Doãn qua bài viết Sự thay đổi của khán giả điện ảnh hôm
nay số 9/2006, tr.46-49 Tạp chí Văn hóa nghệ thuật cho rằng sự phát triển của xã
hội luôn dẫn đến sự thay đổi nhiều yếu tố trong nó, trong đó có cả những khán giả
điện ảnh. Trong bài viết này, tác giả đề cập một cách tổng quát sự thay đổi của khán
giả điện ảnh. Từ đó đưa ra những giải pháp nhằm tìm hứơng đi cho điện ảnh cụ thể
là đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu của khán giả ngày nay.
Tác giả Đinh Kim Long với bài Một số vấn đề thị hiếu và trình độ lĩnh hội giá
trị tác phẩm của khán giả điện ảnh thành phố Hồ Chí Minh đã sử dụng kết quả điều

đổi trong THTM của thanh niên hiện nay đó là: một là, nền kinh tế nông nghiệp lạc
hậu chuyển sang kinh tế thị trường làm cho không gian văn hóa thay đổi; hai là, trong
quá trình tìm kiếm con đường để khẳng định bản sắc cá nhân trong bối cảnh mới,
thanh niên bị tác động mạnh bởi những dòng sản phẩm hoành tráng, có sức hút và
mới lạ từ bên ngoài đổ vào; ba là, sự "đề kháng" của cá nhân trước những trào lưu
mới chưa mạnh mẽ ở mức phù hợp. Ở phần cuối, tác giả Ngô Hoài Sơn đã đưa ra hai
đề xuất lớn nhằm hình thành thị hiếu thẩm mỹ tích cực, xóa bỏ những thị hiếu tầm
thường trong thanh niên: mộ̣t là, trang bị kiến thức, tư duy mới nhưng phù hợp để
thanh niên có thể tĩnh tâm trước trào lưu mới; hai là, xã hội sớm định hình những
chuẩn mực mới trong bối cảnh mới để tạo ra sự “kiểm soát xã hội” một cách phù hợp.
Trong một số bài viết khác: Thị hiếu thẩm mỹ của thanh niên thành phố Hồ
Chí Minh trước những tác động từ "mở cửa", hội nhập, giao lưu văn hóa với cộng
đồng thế giới của tác giả Võ Xuân Đàn, tr.43-54; Những tác động của truyền thông
đến sự thay đổi của giới trẻ của tác giả Nguyễn Thị Hoài Hương, tr.63 - 74; Tác
động của Internet lên thị hiếu thẩm mỹ về văn hóa nghệ thuật của thanh niên hiện
nay của tác giả Hà Thanh Vân, tr.74 - 97; Thị hiếu thẩm mỹ đối với trang phục của
giới trẻ thành phố Hồ Chí Minh hiện nay của tác giả Mai Thị Quế, tr.157-164; Ảnh
hưởng của văn hóa nước ngoài đến Thị hiếu thẩm mỹ của giới trẻ, từ góc nhìn thời
trang Cosplay của tác giả Vũ Thị Thu Hương, tr.145-157. Các tác giả trên đã đề cập
đến mặt tích cực đặc biệt nhấn mạnh đến những tác động tiêu cực của quá trình mở
cửa hội nhập, giao lưu văn hóa với cộng đồng quốc tế đến THTM nói chung, trong
đó đáng chú ý nhất là thời trang. Lối ăn mặc phóng khoáng, phản cảm đang là trào
lưu được giới trẻ ưa chuộng. Đồng thời để khắc phục và hạn chế những ảnh hưởng
xấu của nền kinh tế thị trường, của toàn cầu hóa, các tác giả đã đưa ra những biện


22
pháp khái quát và cụ thể như: Kết hợp hài hòa giữa gia đình, nhà trường, xã hội để
giáo dục thanh niên; cần xác định rõ trách nhiệm của các thành phần xã hội đối với
nhiệm vụ giáo dục rèn luyện thanh niên không được đùn đẩy, né tránh, đổ lỗi trước

23
nhiều công trình liên quan đến thanh niên, văn hóa lối sống của thanh niên, trong đó
tác giả đã có những khảo sát và phân tích tình hình thanh niên Việt Nam và lối sống
của thanh niên Việt Nam hiện nay, làm rõ những xu hướng biến đổi của lối sống
thanh niên Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, đồng thời đưa ra
khuyến nghị khoa học và đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng lối sống thanh niên
Việt Nam phù hợp với tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế. Công trình đã cung
cấp cho độc giả những nét tổng quan chung về tình hình trên thế giới và ở Việt Nam,
đề cập đến những vấn đề cơ bản cấp thiết của thanh niên Việt Nam hiện nay, phân
tích những xu hướng biến đổi lối sống tích cực và tiêu cực của thanh niên hiện nay.
Đây thực sự là những phân tích có giá trị giúp đề tài có được cái nhìn tổng quát hơn
về các vấn đề hiện nay của thanh niên và gợi ý cho hướng nghiên cứu tiếp theo dành
cho đối tượng ở lứa tuổi thanh niên đó là sinh viên.
Ngoài ra, mô tả thực trạng biến đổi hệ thống giá trị, đời sống văn hóa của
thanh niên trong thời kỳ đổi mới còn có công trình Thanh niên và lối sống thanh
niên Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Phạm Hồng Tung
(2011). Trong đó, tác giả đề cập đến đối tượng thanh niên và lối sống thanh niên
trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế.
Báo cáo nghiên cứu khoa học Bàn thêm về nội dung và hình thức giáo dục thị
hiếu thẩm mỹ cho học sinh, sinh viên hiện nay (2010) của tác giả Lê Hữu Ái và
Đinh Đức Hiền, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, số 5 chỉ ra
những đặc trưng cơ bản trong việc giáo dục thẩm mỹ, những nội dung và hình thức
của giáo dục thẩm mỹ cho sinh viên trong hệ thống giáo dục ở nước ta. Từ đó báo
cáo đề ra các giải pháp nhằm hình thành thị hiếu lành mạnh cho đối tượng này, đó là
giáo dục thẩm mỹ bằng văn hóa nghệ thuật, thông qua người tốt việc tốt, qua kết
cấu và nội dung chương trình các môn học một cách toàn diện, giáo dục thị hiếu
phải gắn với môi trường gia đình và cuối cùng giáo dục THTM phải gắn với sự
thống nhất và kết hợp hài hòa giữa gia đình, nhà trường và xã hội.
Tác giả Đinh Xuân Dũng với bài Thị hiếu thẩm mỹ - Thực trạng, sự biến đổi
và vấn đề giáo dục thẩm mỹ trên Website tạp chí Cửa Việt - Diễn đàn văn hóa - văn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status