PHẦN MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài
Nước ta là một quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em cùng sinh sống,
trong đó dân tộc Kinh là dân tộc đa số, 53 dân tộc thiểu số. Dân số 53 dân tộc
thiểu số chiếm tỷ lệ 14,3% dân số của cả nước. Hầu hết các dân tộc thiểu số ở
nước ta sinh sống ở miền núi, bao gồm 19 tỉnh miền núi, vùng cao, 23 tỉnh có
miền núi[30]. Đây là khu vực rộng lớn có địa hình hiểm trở, bị chia cắt, thường
xuyên bị thiên tai, lũ lụt, kinh tế còn nhiều khó khăn, kém phát triển. Đồng thời
đây cũng là khu vực biên giới, cửa ngõ thông thương với các quốc gia khác. Do
đó, việc phát triển kinh tế cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi không chỉ
mang lại những ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế mà còn cả về chính trị,quốc
phòng an ninh của đất nước.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề dân tộc, công tác dân tộc, quan
điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng ta trong lãnh đạo thực hiện công tác dân
tộc và chính sách dân tộc là “Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng,
đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển”[1].
Trong những chính
sách mà Nhà nước đang thực hiện thì phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc
thiểu số là một chủ trương lớn và được thực hiện thông qua hàng loạt chính
sách. Trong những năm qua, việc đề ra và tổ chức thực hiện nhiều chính sách hỗ
trợ, ưu đãi của Nhà nước đã tạo cho các khu vực đồng bào dân tộc thiểu số trong
cả nước có sự chuyển biến nhất định về nhiều mặt. Kinh tế vùng dân tộc và miền
núi có bước phát triển đáng kể, tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm cao. Nền
kinh tế nhiều thành phần bước đầu hình thành và phát triển, chuyển dịch theo
hướng sản xuất hàng hoá. Công tác xoá đói giảm nghèo đạt được kết quả to lớn.
Hàng năm tỷ lệ đói nghèo ở vùng dân tộc và miền núi giảm từ 3 - 4%. Đời sống
trong đó có cả quản lý nhà nước. Bởi thế,có rất nhiều nghiên cứu, công trình
xung quanh đề tài về dân tộc.
Trong lĩnh vực quản lý nhà nước thì dân tộc và quản lý nhà nước về dân tộc
là một vấn đề mang tính chiến lược bởi nó không chỉ góp phần quan trọng trong
việc giữ vững ổn định trật tự thực hiện mục tiêu chung về phát triển kinh tế - xã
hội. Chính vì thế, vấn đề dân tộc là một vấn đề không mới, đã có nhiều học giả,
nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến vấn đề này. Có thể khái lược một số công trình
sau:
- Phan Hữu Dật (2001), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan
đến mối quan hệ dân tộc hiện nay, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Viện Nghiên cứu Chính sách dân tộc và Miền núi (2002), Vấn đề dân tộc
và định hướng xây dựng chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Lê Ngọc Thắng (2005), Một số vấn đề về dân tộc và phát triển, NXB.
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Viện dân tộc (2006), Giải pháp cải thiện đời sống cho đồng bào các dân
tộc thiểu số, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Ủy ban dân tộc (2006), Phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số và miền
núi Việt Nam, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
- Nguyễn Thị Thúy ( 2012), Luận văn Thạc sỹ Thực hiện chính sách dân
tộc trên địa bàn huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên hiện nay, Trung tâm đào tạo,
bồi dưỡng giáo viên lý luận chính trị.
- Nguyễn Lâm Thành (2014), Luận án Tiến sĩ Chính sách phát triển vùng
dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam, Học viện Hành chính.
Các các nghiên cứu này đã đề cập, tập trung phân tích, đánh giá tới hệ
thống chính sách của nhà nước ta đối vấn đề dân tộc với các kết quả thực hiện
các chương trình nói chung, nêu ra những giải pháp nhằm nâng cao tính hiệu lực
của hệ thống chính sách đồng thời cũng nghiên cứu tới vấn đề phát triển kinh tế
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Công tác thực hiện chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc
thiểu số tại huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Từ năm 2006 đến năm 2013.
- Về không gian: Huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài, tác giả tiếp cận đối tượng nghiên cứu bằng phương
pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, lấy học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng về vấn đề dân tộc nói chung, cụ thể về
các chính sách phát triển kinh tế vùng dân tộc thiểu số nói riêng làm phương
pháp luận nghiên cứu.
Trong quá trình triển khai nội dung nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương
pháp cụ thể sau:
- Thu thập, nghiên cứu, phân tích tài liệu: Trên cơ sở các văn bản của Trung
ương và địa phương đã ban hành liên quan đến đề tài nghiên cứu, tác giả đã thu
thập và tiến hành phân tích, sử dụng những thông tin cần thiết làm cơ sở cho đề
tài;
- Phân tích – tổng hợp là phương pháp được sử dụng xuyên suốt trong quá
trình nghiên cứu để tìm hiểu, xem xét những nghiên cứu trước đây về nội dung
đề tài. Qua đó, rút ra những nội dung cần bổ sung, làm sáng tỏ mà những nghiên
cứu trước chưa đề cập;
- Phương pháp quan sát, được vận dụng thường xuyên trong quá trình
nghiên cứu đề tài.
6. Đóng góp của khóa luận
Đề tài nghiên cứu trên một lĩnh vực rộng bên cạnh rất nhiều đề tài về công
tác dân tộc và quản lý nhà nước về dân tộc. Khóa luận hướng đến mục tiêu
chung là nghiên cứu lý luận chung về chính sách phát triên kinh tế vùng đồng
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA CHÍNH SÁCH PHÁT
TRIỂN KINH TẾ VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1. Chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số
1.1.1. Khái niệm
Trong hệ thống công cụ quản lý được nhà nước dùng để điều hành hoạt
động kinh tế xã hội thì chính sách được coi là công cụ nền tảng định hướng cho
các công cụ khác. Trên phạm vi vĩ mô, chính sách công là công cụ quản lý quan
trọng. Thông qua việc ban hành và tổ chức thực thi các chính sách công, những
mục tiêu phát triển kinh tế xã hội được hiện thực hóa… Vậy chính sách công là
gì?
Trong Đại cương về chính sách công (2014), Nguyễn Hữu Hải cho rằng:
“Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan đến nhau do nhà
nước ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề
công nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng nhất định [23,tr.21].
Chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào DTTS là một chính sách trong
hệ thống chính sách công nói chung và hệ thống chính sách dân tộc nói riêng.
Đối tượng của chính sách hướng tới là đồng bào DTTS, vùng DTTS. Theo điều
4, Nghị định số 05/ NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2011 của Chính phủ về công
tác dân tộc thì DTTS là “những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số
trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” và “dân tộc
đa số là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều
tra dân số quốc gia” [2,tr.4].
Đồng bào DTTS cư trú thành những cộng đồng, những vùng dân tộc gọi là
vùng DTTS. “Vùng DTTS là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh
sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam”[2,tr.4].
Chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào DTTS ra đời trên cơ sở các
chính sách về dân tộc và chính sách phát triển của Đảng và nhà nước ta. Trong
Mục tiêu chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào DTTS là tạo ra sự
bền vững về phát triển kinh tế đồng thời với phát triển xã hội, văn hóa và về môi
trường. Đẩy nhanh tốc độ tăng tưởng kinh tế, tăng cường ứng dụng, chuyển giao
các tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, thay đổi tập quán sản xuất lạc hậu,
tạo sự chuyển biến mạnh về sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, tăng cường cải
thiện sinh kế, nâng cao đời sống cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, bảo vệ tốt
các nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái, nhất là tài nguyên rừng
và khoáng sản[24].
Thực tiễn tình hình nước ta hiện nay cho thấy, phần lớn đồng bào DTTS có
đời sống gặp nhiều khó khăn, kinh tế tại các vùng DTTS còn nghèo nàn, chậm
phát triển do đó ban hành và tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế vùng
đồng bào DTTS là điều vô cùng cần thiết và cấp bách.
1.1.2.
Sự cần thiết phải thực hiện chính sách phát triển kinh tế vùng
đồng bào dân tộc thiểu số
Việt Nam là một quốc gia có nhiều dân tộc, mỗi dân tộc có đặc điểm tiềm
năng kinh tế, bản sắc văn hoá, ngôn ngữ riêng nhưng cùng có chung truyền
thống đoàn kết xây đắp ngay từ thủa dựng nước và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa ngày nay.
Các dân tộc thiểu số ở nước ta hầu hết cư trú và sinh sống ở vùng miền núi,
một số ít ở đồng bằng, trải rộng trên 3/4 diện tích cả nước. Đây là nơi đầu nguồn
của nhiều sông suối, có tiềm năng lớn về thuỷ lợi, thuỷ điện, là vùng có nhiều tài
nguyên khoáng sản, là nơi có điều kiện đất đai phát triển nhiều loại cây công
nghiệp, cây ăn quả, đặc sản, chăn nuôi và phát triển nghề rừng, là nơi cung cấp
lâm thổ sản cho miền xuôi và xuất khẩu, các dân tộc vững vàng dũng cảm bảo
vệ dải biên giới đất liền với 3 nước Trung Quốc, Lào và Campuchia
thiểu số là một trong những nhiệm vụ cấp thiết mà Đảng và Nhà nước ta đặt ra.
Yêu cầu lúc này là phải nhanh chóng phát triển kinh tế, nâng cao đời sốngvật
chất cho đồng bào dân tộc thiểu số, xóa đói, giảm nghèo đặc biệt là ở vùng sâu,
vùng xa, vùng kinh tế đặc biệt khó khăn. Đặc biệt cần phải xây dựng chính sách
phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhằm nâng cao chất lượng
cuộc sống cho bà con, rút hẹp khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển giữa
các dân tộc, giữa miền núi và miền xuôi.
Thực hiện chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số
không chỉ thể hiện sự quan tâm của Đảng và nhà nước đối với đồng bào dân tộc
thiểu số mà còn là một trong những yếu tố quan trọng đóng góp to lớn trong tiến
trình phát triển nói chung của đất nước.
1.1.3.
Vai trò của chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc
thiểu số
Chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số là một trong
những chính sách lớn của Đảng và nhà nước ta. Thực hiện chính sách này có
hiệu quả trong thực tế sẽ mang lại nhiều lợi ích cho đối tượng thụ hưởng trực
tiếp là đồng bào dân tộc thiểu số và các đối tượng khác trong xã hội.
Thứ nhất, chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và góp phần ổn định xã hội. Thông qua việc thực
hiện chính sách và cùng với quá trình tăng trưởng kinh tế sẽ làm giảm nhanh tỷ
lệ nghèo đói, nâng cao thu nhập, mức sống của đồng bào dân tộc thiểu số, đặc
biệt là khu vực miền núi, vùng còn nhiều khó khăn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
bền vững, góp phần ổn định xã hội.
Thứ hai, thực hiện chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc
thiểu số sẽ từng bước thực hiện công bằng xã hội và nâng cao vị thế của đồng
Khái niệm
Theo nguyên lý triết học, xung quanh chúng ta là các dạng vật chất tồn tại
khách quan với những chức năng nhất định. Chức năng là lý do tồn tại của các
dạng thức vật chất nhất định. Chính sách là một dạng thức vật chất đặc biệt nên
nó cũng cần thực hiện các chức năng để tồn tại. Muốn thực hiện chức năng,
chính sách phải tham gia vào quá trình vận động như các dạng thức vật chất
khác. Nghĩa là sau khi ban hành chính sách phải được đem vào thực hiện trong
thực tế đời sống xã hội. Do đó, tổ chức thực hiện (thực thi) chính sách là tất yếu
khách quan để duy trì sự tồn tại của công cụ chính sách theo yêu cầu quản lý của
Nhà nước và cũng là để đạt được mục tiêu đề ra của chính sách[21,tr.76]. Từ
cách tư duy này có thể hiểu khái niệm tổ chức thực hiện chính sách như sau:
Tổ chức thực hiện (thực thi) chính sách là toàn bộ quá trình chuyển ý chí
của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm
đạt được mục tiêu định hướng [21,tr.77].
Chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số là một chính
sách nằm trong hệ thống các chính sách của Nhà nước. Nó muốn tồn tại, muốn
phát huy tác dụng của mình thì cũng phải được đem vào thực thi, thực hiện trong
thực tế đời sống.
Tổ chức thực thi chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu
số là toàn bộ quá trình biến ý chí của Nhà nước thành hiện thực bao gồm các
hoạt động triển khai, phối hợp thực hiện, kiểm tra đôn đốc và hiệu chỉnh cùng
các biện pháp tổ chức thực thi nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế vùng
đồng bào dân tộc thiểu số.
Như vậy có thể thấy tổ chức thực hiện chính sách công nói chung và chính
sách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng là một tất yếu
khách quan, đáp ứng yêu cầu của thực tế đời sống xã hội.
1.2.2.
Xác định vấn đề
Hoạch định CS
Thực hiện CS
Phát hiện mâu
thuẫn
Phân tích CS
Duy trì CS
Đánh giá CS
( Nguồn: Giáo trình Hoạch định và phân tích chính sách)
Chú thích:
Chỉ sự luân chuyển trong chu trình chính sách
Chỉ mối liên hệ trực tiếp
Từ vị trí của thực thi chính sách chúng ta đã nắm rõ được vị trí của nó trong
chu trình chính sách cũng như tầm quan trọng của thực hiện chính sách tới hiệu
quả của chính sách. Vậy quy trình tổ chức thực hiện chinh sách bao gồm các
bước nào?
1.2.3.
(7)
Chú giải:
Theo dõi, KT,
đôn đốc TH
(6)
Điều chỉnh Chính
sách
(5)
Chỉ sự luân chuyển trong thực hiện chính sách.
Tổ chức thực hiện chính sách là một chuỗi các bước từ xây dựng kế hoạch
cho tới đánh giá, tổng kết. Theo đó, bước đầu tiên – lập kế hoạch thực hiện
chính sách chính là bước quan trọng nhất, bởi đó là bước đầu tiên làm cơ sở cho
các bước tiếp theo. Bước này cũng đã dự kiến cả việc triển khai thực hiện kế
hoạch phân công thực hiện, tuyên truyền, kiểm tra…Tuy nhiên điều này không
có nghĩa là các bước còn lại trong thực hiện chính sách không quan trọng. Mỗi
bước đóng vai trò nhất định trong quy trình và đều có ảnh hưởng tới kết quả và
hiệu quả của chính sách. Về mặt lý thuyết, điều này có nghĩa là trong quá trình
tổ chức thực hiện chính sách, bắt buộc phải thực hiện đầy đủ các bước, không
được bỏ qua một bước nào hay chỉ chú trọng một bước mà không làm tốt các
bước còn lại. Giữa các bước có mối quan hệ khăng khít, gắn bó với nhau, thực
hiện tốt bước này là tiền đề để bước sau hoàn thành tốt. Do đó, một yêu cầu
phẩm chất chính trị, trang thiết bị kỹ thuật…
- Tuyên truyền, vận dụng thực thi chính sách được thực hiện thường xuyên,
liên tục bằng nhiều hình thức như trực tiếp tiếp xúc, trao đổi với đối tượng tiếp
nhận; gián tiếp qua các phương tiện thông tin đại chúng… ngay cả khi chính
sách đang được thi hành nhằm đảm bảo hiệu quả cao nhất cho kết quả thực hiện.
1.2.3.3. Phân công, phối hợp thực hiện chính sách
Sau khi đã thông qua kế hoạch thực hiện chính sách và phổ biến, tuyên
truyền chính sách tới đối tượng, cần tiến hành phân công, phối hợp việc thực
hiện. Chính sách được thực hiện trên phạm vi lớn, vì thế số lượng các nhân và
các cơ quan tham gia thực thi là rất lớn, các hoạt động cũng rất phong phú, phức
tạp theo không gian và thời gian. Do đó, muốn tổ chức thực thi chính sách có
hiệu quả phải tiến hành phân công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý ngành,
các cấp chính quyền địa phương, các yếu tố tham gia thực thi chính sách và các
quá trình ảnh hưởng đến thực hiện mục tiêu chính sách.
Hoạt động phân công, phối hợp diễn ra theo tiến trình thực hiện chính sách
một cách chủ động, sáng tạo để luôn duy trì chính sách được ổn định, góp phần
nâng cao hiệu lực, hiệu quả chính sách.
1.2.3.4. Duy trì chính sách
Duy trì chính sách là làm cho chính sách tồn tại được và phát huy tác
dụng trong môi trường thực tế. Muốn cho chính sách được duy trì đòi hỏi phải
có sự đồng tâm, hợp lực của cả người tổ chức, người thực thi và môi trường tồn
tại.
Đối với các cơ quan nhà nước – Người chủ động thực hiện chính sách thì
cần thường xuyên quan tâm tuyên truyền, vận động các đối tượng chính sách và
toàn xã hội tích cực tham gia thực thi chính sách.
Đối với người chấp hành chính sách có trách nhiệm tham gia thực hiện theo
yêu cầu của Nhà nước và vận động lẫn nhau tích cực chấp hành chính sách của
Nhà nước.
chức chính trị - xã hội trong việc thực thi chính sách.Bên cạnh đó còn đánh giá
sự tham gia của các đối tượng chính sách vào quá trình thực thi chính sách bao
gồm các đối tượng thụ hưởng trực tiếp và thụ hưởng gián tiếp từ chính sách,
nghĩa là toàn bộ thành viên xã hội với tư cách là công dân.
1.2.4.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực thi
Quá trình tổ chức thực hiện chính sách diễn ra trong thời gian dài và liên
quan đến nhiều tổ chức, cá nhân, vì thế kết quả tổ chức thực thi chính sách cũng
sẽ chịu nhiều ảnh hưởng của nhiều yếu tố. Nắm chắc được các yếu tố tác động,
người chỉ đạo điều hành có thể thúc đẩy những yếu tố tác động tích cực, ngăn
chặn hay hạn chế các yếu tố tiêu cực đến việc tổ chức thực thi chính sách. Đồng
thời có thể tạo lập môi trường thuận lợi cho các yếu tố đó vận động phù hợp với
yêu cầu định hướng. Chúng ta có thể phân loại các yếu tố ảnh hưởng tới quá
trình thực thi chính sách như sau[ 21,tr.90]:
1.2.4.1. Yếu tố khách quan
Yếu tố khách quan là những yếu tố xuất hiện và tác động đến tổ chức thực
thi chính sách từ bên ngoài, độc lập với ý muốn của chủ thể quản lý. Các yếu tố
này tồn tại và vận động theo quy luật khách quan, ít tạo ra những biến đổi thất
thường, do đó không gây được sự chú ý của các chủ thể quản lý.Nhưng tác động
của chúng đến quá trình thực thi chính sách lại rất lớn, vì cơ chế tác động giữa
chúng với các vấn đề chính sách được hình thành trên cơ sở của quy luật
[14.tr 91].Những yếu tố khách quan có thể kể ra đó là:
Tính chất của vấn đề chính sách
Yếu tố gắn liền với mỗi vấn đề chính sách. Có tác động đến việc giải quyết
vấn đề bằng chính sách và tổ chức thực thi chính sách. Nếu vấn đề chính sách là
đơn giản, liên quan đến ít đối tượng chính sách thì công tác tổ chức thực thi sẽ
vùng đồng bào DTTS. Mặt khác, trình độ tổ chức điều hành của các cơ quan
Nhà nước, với cơ chế chính sách đang tồn tại thì có tác dụng thúc đẩy các hoạt
động tổ chức thực thi chính sách.
Mối quan hệ giữa các đối tượng thực thi chính sách
Mối quan hệ giữa các đối tượng thực thi chính sách thể hiện sự thống nhất
hay không về lợi ích của các đối tượng trong quá trình thực hiện mục tiêu chính
sách[21,tr.93]. Mục tiêu chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào DTTS là
phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất do đó đáp ứng được nguyện vọng
của đồng bào DTTS. Do không có mâu thuẫn về lợi ích nên khi chính sách này
được tổ chức thực hiện các đối tượng của chính sách mà cụ thể là DTTS thì bà
con hết sức ủng hộ, tham gia thực hiện chính sách nghiêm túc và tự giác. Không
chỉ mâu thuẫn lợi ích giữa các đối tượng chính sách làm ảnh hưởng đến công
tác tổ chức thực hiện, mà còn sự không đồng nhất giữa các cơ quan chỉ đạo, điều
hành thực thi chính sách.
Tiềm lực của các đối tượng chính sách
Tiềm lực được hiểu là thực lực và tiềm năng mà mỗi nhóm có được trong
mối quan hệ so sánh với cá nhóm đối tượng khác. Tiềm lực của nhóm lợi ích
được thể hiện trên các phương diện chính trị, kinh tế, xã hội…cả về quy mô lẫn
trình độ[21,tr.93].
Đồng bào DTTS hầu hết đều đang sống trong tình trạng nghèo đói, đời
sống còn nhiều khó khăn, tiềm lực kinh tế chưa thực sự mạnh, trình độ dân trí
còn thấp. Họ chưa có nguồn vốn để tự phát triển sản xuất mà phải phụ thuộc vào
các chính sách của Nhà nước. Bên cạnh đó, do xuất phát điểm thấp cộng với
việc chưa nắm vững khoa học kỹ thuật nên năng suất sản xuất còn thấp… Đây
là một trong những tác nhân gây cản trở tới quá trình thực hiện chính sách phát
triển kinh tế vùng đồng bào DTTS.
Đặc tính của đối tượng chính sách
Là những tính chất đặc trưng mà các đối tượng có được từ bản tính cố hữu
Quy trình thực thi chính sách được coi là những nguyên ý khoa học được
đúc rút từ thực tế cuộc sống. Việc tuân thủ quy trình cũng là một trong những
nguyên tắc hành động của các nhà quản lý. Mỗi bước trong quy trình đều có vị
trí, ý nghĩa to lớn đối với quá trình thực thi chính sách. Điều này có nghĩa là quá
trình thực hiện chính sách sẽ bị ảnh hưởng nếu chúng ta không tuân thủ đúng
quy trình tổ chức thực hiện chính sách, không thực hiện đầy đủ các bước trong
quy trình hay làm sai thứ tự các bước [21,tr.95].
Với chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào DTTS cũng vậy, nếu
chúng ta không tuyên truyền, phổ biến vận động chính sách tới đồng bào DTTS
thì họ sẽ không nhận thức được đầy đủ mục tiêu chính sách, đồng thời cũng
không thấy được lợi ích mang lại từ chính sách. Nếu chúng ta tuyên truyền sâu
rộng về chính sách này cho bà con thì sẽ củng cố thêm niềm tin của mình vào
chính sách của nhà nước.
Sau khi làm rõ lợi ích của chính sách đối với đời sống của bà con, các cơ
quan nhà nước tiếp tục vận động đồng bào DTTS tích cực thực hiện. Kết hợp
với các hoạt động phổ biến, tuyên truyền chính sách với vận động thực thi sẽ
giúp bà con nêu cao tinh thần tự nguyện, tự giác trong thực hiện chính sách.
Đồng thời họ còn vận động lẫn nhau chấp hành chính sách, tạo thành những
phong trào thi đua thực hiện chính sách.Như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho
hoạt động tổ chức thực thi chính sách.
Năng lực thực thi của đội ngũ cán bộ, công chức
Cán bộ, công chức trong bộ máy quản lý Nhà nước là yếu tố chủ quan có
vai trò quyết định đến kết quả tổ chức thực hiện chính sách. Năng lực thực thi
của đội ngũ cán bộ công chức là thước đo bao gồm nhiều tiêu chí phản ánh về
đạo đức công vụ, về năng lực thiết kế tổ chức, năng lực thực tế, năng lực phân
tích, dự báo để có thể chủ động ứng phó với các tình huống phát sinh trong
tương lai… Các cán bộ, công chức trong cơ quan công quyền khi được giao
nhiệm vụ tổ chức thực thi chính sách cần nêu cao tinh thần trách nhiệm và chấp
Bên cạnh đó, nếu trong quá trình thực hiện các điều kiện kinh tế kỹ thuật,
máy móc không đáp ứng yêu cầu cũng sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới chính sách
nói chung.Ví dụ như đầu tư hệ thống loa phát thanh sẽ giúp quá trình tuyên
truyền, phổ biến chính sách tới đồng bào DTTS một cách thường xuyên hơn,
giúp họ nắm rõ chính sách hơn và tự giác thi hành chính sách hơn.
Trong thực tế, chỉ cần thiếu các điều kiện vật chất kỹ thuật cho công tác
tuyên truyền, phổ biến chính sách thì cơ quan nhà nước khó chuyển tải nội dung
chính sách đến đối tượng một cách thường xuyên, quá trình thực hiện chính sách
cũng vì thế mà bị ảnh hưởng rất lớn.
Sự đồng tình ủng hộ của dân chúng
Là nhân tố có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định sự thành bại của
chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân DTTS. Mục tiêu của Nhà nước
là làm thay đổi trạng thái kinh tế xã hội theo nhu cầu của đời sống của xã hội.
Đây là vấn đề hết sức lớn lao, cần có sự đóng góp sức người, sức của trong thời
gian lâu dài[21,tr.97].Trên thực tế, các cơ quan quản lý nhà nước chịu trách
nhiệm điều hành còn nhân dân cụ thể là đồng bào các DTTS mới là người thực
hiện chính sách. Như vậy, đồng bào vừa là người trực tiếp tham gia hiện thực
hóa mục tiêu chính sách, vừa trực tiếp thụ hưởng những lợi ích từ chính sách.
Chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào DTTS đã đáp ứng nhu cầu của xã
hội về mục tiêu và biện pháp thừa hành bởi vậy nó nhận được sự ủng hộ nhiệt