ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC
g o 0 8 0 3 * 0 8 0 3 0 8
THỰC TRẠNG PHÁT TRIẺN NGUổN n h â n
Lực TRẺ CÁC DÂN TỘC THIÊU số TẠI
HUYỆN CON c u ô n g ’ t ỉn h n g h ệ a n
CHUYÊN NGÀNH : XÃ HỘI HỌC
MÃ SỐ : 50109
Người hưóng dẫn khoa học : rp^Ẵ.cjs.
rĐ ặ n ụ @ A n h D (Jk a n k
Người thực hiện :
(Đ ặ n g . < J h ịM in h £ £
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TẨM THÔNG TIN THƠ VIỆN
V- L líktứ
HÀ NỘI -11/2005
MỤC LỤC
Phần 1 - Mở đầu 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Tinh hình nghiên cứu về vấn đề nguồn nhân lực trong những năm
vừa qua 5
3. mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9
3.1. Mục đích nghiên cứu: 9
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 9
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 10
4.1. Đối tượng nghiên cứu 10
4.2. Khách thể nghiên cí(u 10
5. Phạm vi nghiên cứu 10
5.1. Thời gian nghiên cứu 10
20
1.4. Khái niệm dàn tộc thiểu số: 23
2. Cơ sở lý thuyết 23
2.1. Lý í/ỉMyế/ cấM trúc - chức năng 23
2.2. Lý thuyết về nguồn vốn con người
25
2.3. Lý thuyết giới 27
3. Cơ sở phương pháp luận 27
4. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế xã hội và nguồn
nhân lực vùng dân tộc, miền núi
28
4.1. Những định hướng chung của Đảng và Nhà nước
‘28
4.2. Chính sách của Nhà nước 29
Chương 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực trẻ các dân tộc thiểu số
huyện Con Cuông - tỉnh Nghệ A n 37
1. Sô' liệu chung về dân tộc thiểu số ở Việt nam
36
1.1.Thực trạng nguồn nhân lực từ 13 - đến 34 tuổi của các dân tộc thiểu số. 40
1.2. Thực trạng về đội ngũ cán bộ khoa học người dân tộc thiểu số
40
1.3. Cơ cấu nghành nghề của nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số
41
2. Những đặc điểm cơ bản về kinh tế - xã hội và dân tộc của huyện Con
Cuông 42
3. Vấn đề sức khỏe, thể chất của thanh thiếu niên các dân tộc thiểu số ở
huyện Con Cuông 46
5.3. Nhu cầu, tâm tư, nguyện vọng của thanh thiếu niên dân tộc miền núi
89
Phần 3: Kết luận và khuyến nghị 96
1) Kết luận 96
2 ) Khuyến nghị 99
2.1. Cần thống nhất quan điểm trong việc định hướng phát triển nguồn nhân lực trẻ các
dân tộc thiểu số phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa
100
2.2. Những quan điểm cần quán triệt để phát triển nguồn nhân lực trẻ các dân tộc
tiểu số trong nền kinh tế thị trường hiện nay
100
2.3. Những giải pháp trực tiếp 101
2.4. Những giải pháp cơ bản, lâu dài: 103
2.5. Các khuyến nghị cụ thể: 104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TRÍCH DAN
PHỤ LỤC
Phiếu trưng cầu ý kiến.
Phỏngvấn sâu thanh thiếu niên niền núi.
LỜI CẢM ƠN!
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng tới thầy giáo PGS. TS
Đặng Cảnh Khanh - Viện trưởng Viện nghiên cứu Thanh niên đã tận
tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận vãn này. Xin cảm ơn TS.
Vũ Hào Quang, TS. Nguyễn Thị Kim Hoa, TS. Nguyễn Thị Thu Hà đã
hướng dẫn góp ý cho tôi vê' đề cương nghiên cứu. cảm ơn các thầy cô
giáo đã giảng dạy tôi trong quá trình học cao học.
Tôi cũng xin cảm ơn ủy ban Nhãn dân cùng bà con dân tộc
thiểu số huyện Con Cuông đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong
điều kiện đó, chúng ta có cơ hội để tiến hành những bước phát triển nhanh
chóng, rút ngắn thời gian trên con đường hiện đại hóa, tri thức hóa nền kinh tế
nước ta. Song, đây cũng là thời kỳ mà chúng ta phải đối mặt với những thách
thức mới bởi sự cạnh tranh gay gắt, sự bất lợi trong so sánh về kinh tế - kỹ
thuật, sự diễn biến phức tạp của tình hình kinh tế, chính trị diễn ra trên toàn
cầu và trong khu vực.
Việc xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát triển hiện đại và
bền vững có ý nghĩa quyết định. Phát huy nội lực, tự lực tự cường là một
yếu tố quan trọng.
Việt Nam xét trong qũãn hệ so sánh với các nước trên thế giới, có đủ
tiềm năng và những lợi thế nhất định, đảm bảo điều kiện cần và đủ để hoàn
thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong đó, tiềm năng
về con người là nhân tố hàng đầu, là một loại tiềm năng đặc biệt, quyết định
sự thành bại của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Bởi
lẽ, “muốn xây dựng chủ nghĩa trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa”,
bởi lẽ "chủ nghĩa xã hội là sản phẩm của họat động sáng tạo của đông đảo
quẩn chúng nhân dân". Mặt khác, lực lượng sản xuất là yếu tố quyết định quá
trình vận động của một hình thái kinh tế - xã hội, trong lực lượng sản xuất,
người lao động là nhân tố hàng đầu, không có người lao động sẽ không có quá
trình sản xuất. Ở mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử, lực lượng sản xuất vừa
1
tạo điều kiện vừa đòi hỏi người lao động phải đạt được những chuẩn mực nhất
định. Nghiên cứu về sự phát triển kinh tế, chúng ta không thể không nghiên
cứu về người lao động.
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi phải trí thức hóa người
lao động. Người lao động phải được phát triển toàn diện không chỉ về mặt
chính trị, tư tưởng, đạo đức phẩm chất mà cả vể mặt thể lực, trí lực. Họ phải có
được một trình độ kiến thức phổ thông làm nền tảng để đi sâu nắm vững kỹ
thuật, tinh thông nghề nghiệp. Vì vậy, họ phải được đào tạo và luôn luôn đào
tạo bổ sung. Nếu không, họ không thể làm chủ được công nghệ - kỹ thuật hiện
Từ vài thập niên lại đây, dưới ánh sáng của đường lối đổi mới, với sự tác
động của hệ thống chính sách kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước, nhân
dân Con Cuông dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương đã vươn lên từng
bước làm chủ đất rừng của mình, bước đầu hòa nhập vào sự phát triển chung
của cả nước. Con Cuông đã thay da đổi thịt. Bộ mặt của Con Cuông đã đổi
mới. Con Cuông đã gặt hái được những thành tựu đáng quý. Con Cuông đã và
đang sắp xếp lại hệ thống thôn bản mới, thực hiện chính sách định canh định
cư, xây dựng thôn bản văn hóa, gắn phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo với
xóa bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu, chống tệ nạn xã hội, xây dựng nếp
sống mới, gắn phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, giáo dục. Con Cuông
đã và đang đi vào xây dựng cơ cấu kinh tế mới nhằm khai thác và phát huy
mọi tiềm năng, đặc biệt là sự lợi thế của tự nhiên. Ánh sáng của Cách mạng
khoa học và kỹ thuật, của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã bắt đầu chiếu dọi
vào Con Cuông. Con Cuông đã tập trung mũi nhọn vào lâm nghiệp, cây công
nghiệp, vàõ chăn nuôi lớn, vào khai thác quặng, vào du lịch sinh thái. Trường
học, trạm xá xã được tăng cường về cơ sở vật chất, thiết bị dụng cụ phục vụ
cho dạy và học, cho chữa bệnh. Con em đến tuổi được đi học, có trường nội
trú cho con em dân tộc. Điều kiện chăm sóc chữa bệnh được tốt hơn.
Những thành tựu mà nhân dân Con Cuông đã đạt được thật đáng được
cổ vũ, đáng trân trọng và đáng quý. Những thành tựu đó là cơ sở bước đầu,
3
hứa hẹn cho những thành tựu mới lớn hơn, chuẩn bị cho một bước phát triển
mới cao hơn.
Song, những thành tựu đã đạt được vẫn chưa xứng với tiềm năng vốn có
của Con Cuông. Sự phát triển của Con Cuông về mọi mặt vẫn chưa đuổi kịp,
chưa sánh ngang hàng với các huyện vùng xuôi và nếu so với yêu cầu của sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì còn quá xa. Con Cuông còn nhiều
mặt yếu, kém trong đó có mặt yếu kém về "sự phát triển nguồn nhân lực trẻ".
"Sự yếu kém về sự phát triển của nguồn nhân lực trẻ" được biểu hiện như sau.
- Trình độ học vấn nói chung còn thấp. Tuy số trường học các cấp hiện
yêu cầu sự phát triển của đất nước nói chung, của huyện Con Cuông nói riêng
cẩn phải có những giải pháp khoa học. Những giải pháp đó phải được dựa trên sự
thật, một "sự thật đã được chứng minh và không gì có thể chối cãi". Giải pháp về
sự phát triển nguồn nhân lực trẻ ở Con Cuông phải dựa trên sự phản ánh khách
quan và khoa học, phải dựa trên quan điểm "nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự
thật" cho dù sự thật đó có cay đắng đi chăng nữa cũng không lẩn tránh.
Phản ánh một cách khoa học "thực trạng phát triển nguồn nhân lực trẻ
các dân tộc thiểu số tại huyện Con Cuông tỉnh Nghệ An để trên cơ sở đó đề
xuất những giải pháp vừa mang tính cách mạng vừa mang tính khoa học nhằm
thúc đẩy, nâng cao chất lượng phát triển nguồn nhân lực trẻ của các dân tộc
thiểu số tại huyện Con Cuông là một vấn đề cấp thiết. Nó vừa có ý nghĩa cấp
bách trước mắt vừa có ý nghĩa lâu dài, nó như một mắt xích chủ yếu trõrĩg
toàn bộ quá trình vận động của sự nghiệp cách mạng của Đảng bộ và nhân dân
Con Cuông.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN cứ u VỂ VÂN ĐỂ NGUỔN NHÂN L ự c
TRONG NHŨNG NĂM VỪA QUA.
Trong những nãm gần đây, vấn đề con người và nguồn nhân lực đã
từng thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều nhà lãnh đạo, quản lý, của giới lý
luận trong và ngoài nước. Do vậy, đã có nhiều công trình về vấn đề này được
công bố. Nổi bật nhất là chương trình khoa học - công nghệ cấp nhà nước:
"Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã
hội" mang mã số KX.07 do GS.TS Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm (1991 -
5
1995) với sự tham gia của gần 300 nhà khoa học có uy tín thuộc nhiểu ngành
khác nhau. Công trình nghiên cứu này đã phân tích sâu sắc nhiều khía cạnh
về con người như: Con người Việt Nam truyền thống và hiện đại, sự biến đổi
về định hướng các giá trị trong xã hội, những động lực chính trị - tinh thần
quan trọng nhất hiện nay, thực trạng và vấn đề đào tạo lại đội ngũ nhân lực,
v.v Đáng chú ý là công trình này đã đưa ra được cái nhìn tổng thể mang
tầm chiến lược vể vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
phát triển con người và cho rằng, phát triển con người về thực chất là phát
triển và hoàn thiện nhân cách con người theo yêu cầu của thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ("phát triển con người, tạo nguồn nhân lực cho sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa", tạp chí cộng sản số 19-1998). Tác
giả Lưu Đình Mạc, khi bàn về yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
đã khẳng định vai trò to lớn của giáo dục trong việc xây dựng nguồn nhân
lực ("phát triển giáo dục Đại học là điều kiện đảm bảo công nghiệp hóa,
hiện đại hóa", tạp chí Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, số 4-1995). Bàn về
xu thế trí tuệ hóa lao động, tác giả Phạm Tất Dong cho rằng phải quan tâm xây
dựng đội ngũ lao động trí tuệ ("suy nghĩ về xây dựng đội ngũ trí thức nước
ta", tạp chí cộng sản, số 4 -1994). Đề cập đến các yếu tố cần thiết để phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tác giả Nguyễn Văn Hiệu đặc biệt
nhấn mạnh vai trò, nội dung và nhất là cách thức của giáo dục và đào tạo
trong việc bồi dưỡng nhân tài ("phát triển giáo dục và đào tạo nhân tài để
thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", tạp chí cộng sản, số 1
1997). Để phát huy sức mạnh của nguồn lực con người, theo tác giả Hoàng
Xuân Sính, trước hết phải tạo ra môi trường thuận lợi để phát triển tài năng,
kích thích sức sáng tạo ở con người ("suy ngẫm về tương lai đất nước", tạp
chí cộng sản, số 5-1997)
Ngoài các bài báo trên tạp chí, còn có các ấn phẩm sách như: "vấn đề
con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa" của Phạm Minh
Hạc (chủ biên), NXB chính trị quốc gia, HN, 1996; "Bồi dưỡng và đào tạo lại
đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới" của Nguyễn Minh Đường, "các giá trị
truyền thống và con người Việt Nam hiện nay" của Phan Huy Lê (chủ biên),
7
"Giáo dục kỹ thuật - nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực" của Trần
Khánh Đức "Quản lý nguồn nhân lực ở Việt Nam" của Phạm Thành Nghị và
Vũ Hoàng Ngân (chủ biên)
Mặt khác, còn có những nghiên cứu để cập đến những kinh nghiệm về
quản lý và phát triển nguồn nhân lực, về sử dụng và phát huy yếu tố con người
đề "các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực trẻ các dân tộc
thiểu số", Viện nghiên cứu thanh niên, HN, 2002; Lê Ngọc Thắng, báo cáo
chuyên đề "Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cơ chế phối hợp trong
việc thực hiện các chương trình chính sách về nguồn nhân lực trẻ các dân
tộc thiểu số", viện nghiên cứu thanh niên, HN, 2002.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu nêu trên đề cập đến con người phát
triển nguồn nhân lực ở những khía cạnh khác nhau và từ các góc độ khác
nhau: triết học, xã hội học, tâm lý học, sử học, kinh tế học tuy nhiên chưa
có công trình nào nghiên cứu toàn diện cả về cơ sở lý luận, thực trạng, chất
lượng và các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ các dân tộc
thiểu số. Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu trên, luận văn phát triển
nghiên cứu một cách toàn diện hơn vấn đề trên.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM v ụ NGHIÊN c ứ u .
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Điều tra, đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực trẻ các dân tộc
thiểu số tại huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An từ đó đề xuất các giải pháp nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ các dân tộc thiểu số miền núi.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Để tìm hiểu được thực trạng phát triển nguồn nhân lực trẻ các dân tộc
thiểu số cần xác định những nhiệm vụ cụ thể sau:
■ Phần lý thuyết:
- Làm rõ các khái niệm: Nguồn nhân lực, nguồn nhân lực trẻ, phát triển
nguồn nhân lực, dân tộc thiểu số.
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu.
■ Phần thực nghiệm:
- Tìm hiểu thực trạng nguồn nhân lực trẻ các dân tộc thiểu số.
9
- Tìm hiểu về tình hình sức khỏe, thể chất của thanh thiếu niên các dân
tộc thiểu số:
+ Chiều cao, cân nặng.
Phương pháp này nhằm kế thừa và sử dụng có chọn lọc các tài liệu, các
công trình, đề tài khoa học đã thực hiện có liên quan đến luận văn và các số
liệu điều tra được xử lý trên chương trình máy tính thống kê chuyên dụng cho
khoa học xã hội (SPSS).
6.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
Là phương pháp chính được sử dụng trong luận văn với 250 phiếu hỏi
dành cho lứa tuổi 11-17 trong đó nam chiếm 46,4%, nữ chiếm 53,6% và 255
phiếu hỏi dành cho lứa tuổi 18-30: nam chiếm 45,5%, nữ chiếm 54,5%.
6.3. Phương pháp phỏng vấn sâu.
Tiến hành phỏng vấn sâu 20 đối tượng thanh thiếu niên từ 11-30 tuổi với
cơ cấu mẫu là: 10 em từ 11-17 tuổi, 10 em từ 18-30 tuổi và một số nhà quản
lý.
6.4. Phương pháp quan sát.
7. GIẢ THUYẾT NGHIÊN c ứ u VÀ KHUNG LÝ THUYẾT.
7.1. Giả thuyết nghiên cứu.
- Các chỉ số về sức khỏe của thanh thiếu niên các dân tộc thiểu số thấp
hơn so với cả nước. Một số loại bệnh ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển thể
chất và trí tuệ của nguồn nhân lực trẻ vẫn còn tồn tại.
- Những khó khăn trong học tập của thanh thiếu niên đang có xu hướng
chuyển vào những nỗ lực chủ quan của người học nhiều hơn.
- Tỷ lệ thanh thiếu niên có nguyện vọng muốn học nghề khá cao,
nhưng tỷ lệ những trường nghề được mở ra để đáp ứng nguyện vọng này lại
rất hạn chế.
11
- Những người thân cận, thường xuyên tiếp xúc là những đối tượng ảnh
hưởng nhiều đến việc học tập, phấn đấu và phát triển của thanh thiếu niên các
dân tộc thiểu số.
7.2. Khung lý thuyết.
8. Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ Ý NGHĨA THỰC TIẺN c ủ a đ ể t à i .
8.1. Ý nghĩa lý luận.
thành phạm trù cơ bản của nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn ở nhiều
nước trên thế giới.
Trong phạm vi các vấn đề nghiên cứu của luận văn, chúng tôi đã sử
dụng một số khái niệm cơ bản sau:
Khái niệm nguồn nhân lực.
Khái niệm nguồn nhân lực trẻ.
Khái niệm phát triển nguồn nhân lực.
Khái niệm dân tộc thiểu số.
1.1. Khái niệm nguồn nhân lực:
Mặc dù, trong những năm gần đây, nguồn nhân lực đã trở thành một
trong những khái niệm được sử dụng thường xuyên trong những văn bản có
liên quan về khoa học phát triển cũng như các chiến lược phát triển. Nó trở
nên quen thuộc với các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà
nghiên cứu tới mức dường như mọi sự giải nghĩa thêm đều có vẻ như không
cẩn thiết nữa. Tuy vậy, trên thực tế khái niệm nguồn nhân lực đôi lúc vẫn còn
được hiểu không hoàn toàn thống nhất.
Nguồn nhân lực là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích luỹ
được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai.
Cũng giống như nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong
quá khứ với mục đích tạo ra thu nhập trong tương lai [4].
14
Xét theo phạm trù nhân khẩu học thì nguồn nhân lực là sức người trong
một giai đoạn nhân khẩu đang và sẽ có khả năng dùng trong lao động sản
xuất. Nguồn nhân lực này cũng có thể hiểu là nguồn lao động.
Từ điển Tiếng việt định nghĩa: “Nguồn nhân lực là sức người về mặt
dùng trong lao động sản xuất” [56, 688].
Nguồn lao động của một dân tộc tuỳ theo quy định và sự phát triển kinh
tế ở mỗi quốc gia, được tính từ tuổi lao động đến khi nghỉ hưu. Ớ Việt Nam
người lao động được tính từ 15 tuổi đến 55 tuổi đối với nữ và 60 tuổi đối với
nam (Theo quy định của Bộ Luật lao động).
lực lượng lao động cho sự phát triển kinh tế xã hội. Các chỉ số về số lượng
nguồn lực con người của một quốc gia là dân số, tốc độ tăng trưởng dân số,
tuổi thọ bình quân cấu trúc của dân số: số dân ở độ tuổi lao động, số người ăn
theo Số lượng nguồn lực con người đóng vai trò quan trọng đối với sự phát
triển kinh tế xã hội. Nếu số lượng nguồn nhân lực con người không tương
xứng với sự phát triển (hoặc thừa hoặc thiếu) đều tác động không tốt với sự
phát triển kinh tế xã hội. Nạn thiếu việc làm gây nhiều hậu quả và là một
trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng phạm tội trong xã hội
Nhưng yếu tố quan trọng nhất trong nguồn nhân lực con người được thể—
hiện không phải là ở số lượng mà ở chất lượng nguồn lực con người. Đây là
yếu tố quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, chất lượng nguồn lực
con người được biểu hiện ở hàm lượng trí tuệ và kiến thức, trong đó phải kể tới
những người có học vấn, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được
đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một
nền khoa học, công nghệ hiện đại. Sở dĩ người ta nói đến tính vô hạn, tính
không bị cạn kiệt, tính khai thác không bao giờ hết của nguồn lực con người
chính là nói tới yếu tố trí tuệ. Trí tuệ của con người ngày càng phát triển và có
tác động mạnh mẽ nhất đối với sự tiến bộ và phát triển xã hội [31, 96].
16
Nguồn nhân lực, theo GS Phạm Minh Hạc là tổng thể các tiềm năng lao
động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc lao
động nào đó [48].
Trong lý thuyết phát triển, nguồn nhân lực theo nghĩa rộng được hiểu
như nguồn lực con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, là một bộ phận
của các nguồn lực có khả năng huy động, tổ chức quản lý để tham gia vào quá
trình phát triển kinh tế - xã hội như nguồn lực vật chất (Physical Resourles),
nguồn lực tài chính (financial Resources).
Nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp và có thể lượng hóa được là một bộ
phận của dân số bao gồm những người trong độ tuổi quy định, đủ 15 tuổi trở
lên có khả năng lao động hay còn gọi là lực lượng lao động [53,41].
trẻ các dân tộc thiểu số là tập hợp những thanh niên có độ tuổi từ 15 đến 34
sinh sống, học tập, lao động trong cộng đồng các dân tộc và các địa phương.
Khái niệm này vừa mang ý nghĩa sinh học vừa mang ý nghĩa xã hội trong đó ý
nghĩa sinh học có phần trội hơn.
Còn khái niệm nguồn nhân lực trẻ các dân tộc thiểu số theo ông, cũng là
tập hợp những người trong độ tuổi từ 15 đến 34 nhưng số được đào tạo, có tay
nghề, nghiệp vụ chuyên môn tham gia vào hoạt động trong các lĩnh vực kinh
tế - xã hội chiếm tỷ lệ cao hơn so với khái niệm tuổi trẻ. Hay nói cách khác
tính được đào tạo về nghề nghiệp, về chuyên môn nghiệp vụ để sẵn sàng tham
gia vào hoạt động trong các nghành kinh tế xã hội của địa phương, quốc gia là
yếu tố quyết định và tạo nên nội dung của khái niệm “Nguồn nhân lực trẻ”.
Với hai nội dung trên PGS - TS Lê Ngọc Thắng đã khẳng định: Tuổi trẻ
mới chỉ là một phần, một điều kiện tự nhiên của nguồn nhân lực, và để trở
thành nguồn nhân lực họ phải được đào tạo về chuyên môn nghề nghiệp, về
phẩm chất chính trị và các yêu cầu khác để có thể sẵn sàng tham gia vào các
lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội khi địa phương và đất nước có yêu cầu.
Tuổi trẻ nếu không được đào tạo, không có chí tiến thủ, đứng ngoài lề xã hội,
18
không được học tập văn hoá và chuyên môn nghề nghiệp, không rèn luyện
phẩm chất đạo đức, không rèn luyện sức khoẻ mà thích hưởng thụ: ãn chơi,
lêu lổng, cờ bạc nghiện hút hoặc tham gia vào các tệ nạn xã hội khác thì
không thể gọi là nguồn nhân lực và nguồn nhân lực trẻ được [28,3]-
Trên tinh thần và ý nghĩa đó sự phân biệt hai khái niệm trên đây là cần
thiết để không đồng nhất tuổi trẻ và nguồn nhân lực trẻ như một sô' người vẫn
quan niệm hiện nay.
Tuổi trẻ là một tài nguyên, nhưng là thứ tài nguyên đặc biệt cần được
gìn giữ, nuôi dưỡng, chăm sóc, phát triển không ngừng để có “giá trị sử dụng”
đối với cuộc sống. Không được nuôi dưỡng và khai thác thì tài nguyên tự
nhiên vẫn chỉ là tài nguyên tự nhiên mà thôi, chưa thể có ý nghĩa như là một
nguồn nhân lực dù dó là nguồn nhân lực con người. Nhận thức rõ điều này