Quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp ở việt nam - Pdf 50

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU DANH
MỤC HÌNH


1.1.1.

Cơ quan quản lý bảo hiểm thất nghiệp và quỹ bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam ... 62

1.2..................................................................................................................................
1.3..................................................................................................................


1.4.
1.5.
1.6.

1.7.

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1.1. 1.2. An sinh xã hội
A
1.3. 1.4. Bảo hiểm thất nghiệp
B

1.5. 1.6. Bảo hiểm việc làm
B

H

việc

1.17. 1.18.

Tổ chức Lao
động quốc tế
1.19. 1.20.
Ngân sách Nhà
N
nước
1.21. 1.22.
Trợ cấp thất
T
nghiệp
1.23. 1.24.
Thông tư liên Bộ
TT
1.25. 1.26.
Thông tư liên
TT tịch
1.27.
1.28.
Uỷ ban nhân dân
U
IL

1.29.


1.17. nhiều hệ lụy đến người lao động, gia đình họ và toàn xã hội như: mất cân đối về
tài chính đối với người lao động; lãng phí nguồn nhân lực xã hội; tệ nạn xã hội gia
tăng, thậm chí đe doạ đến sự ổn định thể chế chính trị của quốc gia,... Để đối phó và
khắc phục hậu quả của tình trạng thất nghiệp, các chế độ trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp
mất việc làm hay BHTN là những biện pháp hữu hiệu nhằm thay thế, bù đắp một
phần thu nhập cho người lao động khi bị thất nghiệp và quan trọng hơn là hỗ trợ họ
học nghề, giới thiệu việc làm để người thất nghiệp sớm quay lại thị trường lao động,
có thu nhập và ổn định lại cuộc sống. Tại nhiều quốc gia trên thế giới, BHTN là một
trong những chính sách quan trọng góp phần giải quyết các vấn đề về thất nghiệp,
việc làm và đảm bảo ASXH.

1.18.

Tại Việt Nam, quyền lợi của người lao động cũng như tình trạng

thất nghiệp luôn được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm trong từng giai đoạn phát triển kinh
tế - xã hội khác nhau. Giai đoạn trước năm 2009, NSNN đã chi hàng trăm tỷ đồng mỗi năm để
giải quyết cho hàng chục vạn người lao động thông qua các chế độ trợ cấp thôi việc, trợ
tạm ngừng việc,

trợ cấp

mất việc làm hay các

cấp

chế độ trợ cấp đối với

1.19. người lao động dôi dư khi sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước,... Để đảm bảo tốt
hơn quyền lợi cho người lao động khi không may bị thất nghiệp và giảm gánh nặng

phương khác nơi hưởng TCTN để tránh bị phát hiện; một số đơn vị có biểu hiện lách
luật để trốn đóng BHTN bằng cách giao kết hợp đồng
người

1.22.

lao

động

thời hạn dưới

lao

động với

03

tháng hoặc đóng chưa đầy đủ số người trong đơn vị, đóng không đúng mức

lương của người lao động, nợ đọng tiền BHTN,... Thông tin việc làm còn hạn chế,
việc đào tạo nghề còn bất cập về thời gian, kinh phí và ngành nghề đào tạo, chưa đáp
ứng nhu cầu của thị trường lao động. Cơ chế phối hợp trong thực hiện chính sách và
thanh tra, kiểm tra giữa các cơ quan, tổ chức chưa thực sự chặt chẽ,... Mặt khác, quỹ
BHTN hiện nay chủ yếu hướng

tới chitrả chế

thất nghiệp


quản lý quỹ BHTN;
- Phân tích và đánh giá thực trạng quản lý thu, quản lý chi, cân đối quỹ BHTN. Đồng
thời, làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý quỹ BHTN ở Việt Nam;
Đề xuất các giải pháp và đưa ra những kiến nghị nhằm quản lý quỹ BHTN chặt
chẽ, hiệu quả và đúng pháp luật.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu


6

1.26. Đối tượng nghiên cứu của luận án là quản lý quỹ BHTN.
b. Phạm vi nghiên cứu
-

Về nội dung: Luận án nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý sự

nghiệp quỹ BHTN. Trong đó, chủ yếu nghiên cứu về quản lý thu, quản lý chi, cân đối quỹ
BHTN ở Việt Nam.
- Về không gian: Luận án nghiên cứu quản lý quỹ BHTN tại Việt Nam.
-

Về thời gian: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 2011

đến năm 2015.

4. Phương pháp nghiên cứu
- Luận án sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng, Chủ nghĩa duy
vật lịch sử để hệ thống hoá và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý quỹ BHTN.



7

hợp lệ. Như vậy, kích cơ mẫu sử dụng cho các mô hình nghiên cứu có thể nói là đủ lớn để đảm
bảo rằng các kết quả phân tích là đáng tin cậy.

1.31. Một số cán bộ cơ quan BHXH mặc dù đã được hẹn trước nhưng không gặp được
trực tiếp vì nhiều lý do khác nhau, tác giả đã thực hiện khảo sát qua điện thoại. Tuy vậy, nhóm
này chiếm tỉ lệ không nhiều và vẫn đảm bảo chất lượng về mặt số liệu.

1.32. Ngoài ra, để đảm bảo tính khách quan, tác giả thực hiện tiếp 1 đợt khảo sát thông
qua phiếu khảo sát điện tử được tạo trên công cụ “Google docs forms” cho cả ba nhóm đối
tượng là người lao động, chủ sử dụng lao động và cán bộ BHXH trên phạm vi cả nước để phân
tích, đánh giá các nhân tố tác động đến công tác quản lý quỹ BHTN. Sau khi thu thập và xử lý
dữ liệu, tác giả thu về 828 mẫu phiếu hợp lệ đối với người lao động, 359 mẫu phiếu hợp lệ đối
với người sử dụng lao động và 404 mẫu phiếu hợp lệ đối với cán bộ BHXH.

1.33. Do đối tượng được khảo sát trải rộng trên toàn quốc nên khoảng thời gian cần
thiết để thực hiện kéo dài từ tháng 07/2016 đến tháng 04/2017.

1.34. - Các nguồn dữ liệu sau khi thu thập được phân tích trên bảng, biểu và sử dụng
phần mềm SPSS (Phần mềm thống kê dành cho khoa học xã hội - Statistical Package for the
Social Sciences) để phân tích, đánh giá cho nghiên cứu này.

5. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
5.1.

Một số nghiên cứu trên thế giới


và mỗi cách tính

thất nghiệp

lại có những ý nghĩa riêng. Mục đích của

1.39. nghiên cứu này nhằm giới thiệu các tính chỉ tiêu, tỷ lệ người thụ hưởng thất
nghiệp. Từ đó, để mọi người thảo luận và vận dụng trong thực tiễn.

1.40.

CPS giới thiệu số liệu người thất nghiệp toàn cầu. Dựa vào khảo sát trên một

số hộ gia đình, phương pháp này xác định tất cả những người thất nghiệp đang tìm kiếm việc
làm trong

một đơn vị thời gian nhất định trong tháng. Tất

cả những người đang

1.41. tìm việc làm, bất kể do bị mất việc hay bỏ việc, bất kể đó là công việc đầu tiên
hay họ mới quay lại làm việc, bất kể họ có gắn bó với công việc đó hay không và bất
kể thời gian thất nghiệp là một tuần hay vài năm, đều được CPS tính đến.

1.42.
1.43.

Ngược lại, khái

niệm về

tham

gia

đáp ứng

những điều kiện thụ hưởng ban đầu và đang yêu cầu hay đang được thụ

hưởng trợ cấp thất nghiệp cho 01 tuần thất nghiệp. Họ thường là những người lao
động có gắn bó với công việc nhưng bị ép buộc phải thôi việc và có khả năng tìm
kiếm việc khác. Họ có thể có
được tính

tiền lương

như một người



vẫn

thất nghiệp vì khoảng thời gian họ

1.45. nhận trợ cấp thất nghiệp là hạn chế, đa số thường chỉ thất nghiệp trong khoảng
dưới 06 tháng. Theo hồ sơ hành chính, số lượng người thất nghiệp được tính định kỳ
theo tuần.

1.46. Trong thời kỳ khủng hoảng, người ta dường như đã không còn bận tâm về vấn đề
người thụ hưởng chương trình định kỳ vì có quá nhiều sự thay đổi liên quan đến



khi khủng hoảng xảy ra bằng cách đưa ra những thước đo khác tỷ lệ thụ hưởng và cách sử dụng
chúng trong tương lai.

1.50. Có thể thấy, nghiên cứu này chủ yếu đề cập đến sự tác động của BHTN tới tình
hình lao động việc làm, việc trở lại làm việc sau thất nghiệp, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp và
tác động của BHTN đến an sinh xã hội. Tuy nhiên, nghiên cứu không đi sâu vào công tác quản
lý và cân đối quỹ BHTN, cho dù tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ người thụ hưởng có ảnh hưởng đến
quỹ và quản lý quỹ BHTN.

1.51.

- Schwartz, J. (2009) phân tích mối tương quan giữa BHTN tại

Mỹ và chu kỳ kinh doanh. Nghiên cứu thứ nhất xây dựng mô hình xác định mức điều chỉnh trợ
cấp BHTN tối ưu nhất cho chu kỳ kinh doanh. Mô hình này hỗ trợ hiệu quả cho việc tăng cường
trợ cấp BHTN cho người thất nghiệp lâu dài trong thời kỳ suy thoái. Tại Mỹ, cơ chế để bắt đầu
mở rộng trợ cấp BHTN khi tỷ lệ thất nghiệp của một bang đạt tới một ngưỡng nhất định. Cơ chế
này được xem là thiết kế không hiệu quả và việc mở rộng chỉ có thể được thực hiện ở một số ít
bang trước khi xảy ra khủng hoảng. Tiểu luận thứ hai phân tích tính khả thi của các mô hình
Markov Switching (MS) nhằm xác định ở chu kỳsuy thoái nào trong thị


1.52.

thể thực

hiện mở rộng

trợ


1.54. Kết luận của nghiên cứu này có thể sử dụng như nguồn tài liệu hướng dẫn các
nhà hoạch định chính sách nhằm thiết kế một hệ thống BHTN tối ưu, xác định thời điểm suy
thoái của thị trường lao động và hiểu rõ tác động của việc tăng cường trợ cấp một cách tự động
trong thời kỳ suy thoái tới hành vi tìm hiểu của người dân. Tuy nhiên, các chuỗi nghiên cứu này
chưa đề cập đến việc quản lý quỹ BHTN, mà chỉ đề cập đến thời kỳ suy thoái của thị trường lao
động như một nhân tố tác động lớn đến quỹ và quản lý quỹ BHTN.

1.55. - Mullins, S. D. (2012) phân tích tác động của thất nghiệp tới việc mở rộng bảo
hiểm thất nghiệp vào năm 2008. Robert J. Barro, báo Wall Street, 30/8/2010 đã từng đưa ra dự


1
0
đoán rằng tỷ lệ thất nghiệp có thể xuống thấp hơn 6,8% thay vì 9,5% nếu trợ cấp thất nghiệp
không được mở rộng đến 99 tuần.

1.56. Tại Mỹ, tỷ lệ thất nghiệp trung bình đạt 4,6% trong vòng 02 năm trước cuộc
khủng hoảng năm 2008-2009 và sau đó vào mùa hè năm 2010, con số này đã tăng lên hơn gấp
đôi. Robert Barro lúc

đó đã nghiên cứu

đánh giá liệu sự gia tăng tỉ lệ thất

1.57. nghiệp này có tác động như thế nào tới sự thay đổi trong chính sách BHTN. Phân
tích của ông gợi ý rằng: khủng hoảng không thực sự nghiêm trọng như những gì số
liệu thống kê thất nghiệp đưa ra bởi vì hơn một nửa phần tăng trong tỷ lệ thất nghiệp
kể từ khi khủng hoảng bắt đầu là do việc mở rộng BHTN. Barro tin tưởng rằng
Chính phủ cần xem xét lại việc mở rộng BHTN.

kéo dài (Farber 2011) và chính sách mở rộng trợ cấp thất nghiệp chưa
từng có tiền lệ (Bộ Lao động Mỹ 2011) đã thu hút sự quan tâm trong những thảo luận về chính
sách của Chính phủ. Trợ cấp BHTN có thể được đề xuất xóa bỏ nếu chính sách mở rộng trợ cấp
này trong những năm vừa qua được xác định là làm gia tăng tỷ lệ thất nghiệp. Ở khía cạnh khác,
nếu sự gia tăng này là không đáng kể, chính sách hạn chế trợ cấp có thể “trừng phạt” những cá
nhân chịu tác động của khủng hoảng kinh tế nhưng lại “đút túi” một món lời nhỏ.
1.61.
Nghiên cứu này cho thấy việc mở rộng chính sách BHTN, việc kéo dài thời
gian nhận

trợ cấp BHTN của người lao động bị thất nghiệp có tác động trực tiếp và

1.62. làm gia tăng người bị thất nghiệp. Điều này đương nhiên ảnh hưởng đến quỹ và
quản lý quỹ BHTN. Song nghiên cứu không đi sâu vào vấn đề chính mà luận án
hướng tới.
- Carter, J., Bédard, M., & Bista, C. P. (2013) nghiên cứu so sánh kinh nghiệm

1.63.

thực hiện bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm việc làm khu vực Châu Á và trên

thế giới. Trong nghiên
về các chương

cứunày đã

trình bày tổng quan

trình


hệ thống lương hưu Trung Quốc và các tỉnh. Báo này mô tả các thành phần chính của hệ thống,
nhấn mạnh những tiến bộ đã đạt được cho đến nay và xác định các điểm yếu còn lại liên quan
đến công bố thông tin, khung quản trị và các tiêu chuẩn quản lý quỹ lương hưu. Tuy rằng, báo
cáo này đề cập đến quản lý quỹ trong hệ thống hưu trí có tính tương đồng với vấn đề mà luận án
đang nghiên cứu nhưng chỉ đề cập đến quản lý quỹ trên góc độ của một tổ chức, bộ máy quản trị
quản lý quỹ hưu trí. Những vấn đề liên quan đến đối tượng tham gia, mức đóng, mức hưởng, các
nhân tố tác động đến việc quản lý quỹ trong báo cáo chưa đề cập.

5.2.

Các công trình nghiên cứu trong nước

1.66. Cả trước và sau khi chính sách pháp luật về BHTN ở Việt Nam được thực hiện
(01/01/2009) đã có không ít những nghiên cứu liên quan đến vấn đề này của các nhà khoa học,
các nhà quản lý:
-

Đỗ Văn Sinh (2005) đã nghiên cứu và làm rõ cơ sở lý luận về quỹ BHXH, quản

lý quỹ BHXH ở Việt Nam. Tác giả cũng đã chỉ ra những nhân tố tác động đến quỹ BHXH đó là:
nhân tố chính sách, nhân tố tổ chức thực hiện, các nguồn tài chính vận động làm tăng quy mô
quỹ BHXH, giảm quỹ BHXH. Và các nội dung quản lý quỹ BHXH. Trên cơ sở đó, tác giả đã
phân tích, đánh giá thực trạng quản lý quỹ BHXH trong giai đoạn nghiên cứu, cụ thể tập trung
nghiên cứu quỹ hưu trí và trợ cấp giai đoạn từ năm 1995 - 2003 và quỹ khám chữa bệnh từ năm
1998 - 2003 về chính sách, mô hình quỹ, phương thức quản lý và hệ thống tổ chức bộ máy quản
lý quỹ BHXH để tìm ra những tồn tại, vướng mắc và nguyên nhân. Xuất phát từ những thực
trạng, tồn tại, tác giả đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản lý quỹ BHXH ở Việt Nam gồm:


1


khả năng tham gia BHTN, xác định những nội dung liên quan đến

BHTN và đề xuất mô hình tổ chức BHTN ở nước ta. Nghiên cứu sử dụng một số
phương pháp như: tổng hợp, phân tích, so sánh và điều tra, khảo sát thực tế cụ thể ở
Thủ đô Hà Nội với một số doanh nghiệp đại diện trên địa bàn. Tác giả đã làm rõ một
số vấn đề về thất nghiệp, các biện
thất

pháp, chính sách

nghiệp và nội dung cơ

khắc phục

tình trạng

bản của

1.70. BHTN, cùng với đó đề xuất hai mô hình tổ chức BHTN ở Việt Nam bên cạnh
việc nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức BHTN tại các nước như: Cộng hòa Liên bang
Đức, Trung Quốc, Thái Lan.

1.71.

Nội dung của đề tài đề cập đến thực trạng thất nghiệp, nhu cầu và khả năng

tham gia BHTN ở Việt Nam. Đề tài dựa trên các chính sách và một số biện pháp giải quyết tình
trạng thất nghiệp ở nước ta những năm trước đó và đưa ra mô hình tổ chức BHTN ở Việt Nam.
Theo mô hình tổ chức BHTN của tác giả thì BHTN Việt Nam phải tổ chức theo một hệ thống

thu và chi

trả trợ cấp

vụ

1.73. BHTN cho người lao động.
1.74. Nghiên cứu trên đã chỉ ra một số vấn đề liên quan đến quản lý thu BHTN như:
Đối tượng tham gia, hình thức triển khai, mức đóng góp BHTN; một số vấn đề liên quan đến
quản lý chi trả chế độ như: Mức hưởng, Điều kiện hưởng, Thời gian hưởng và vấn đề về chi chế
độ BHTN khác. Tuy nhiên, nghiên cứu này được thực hiện trước khi chính sách BHTN có hiệu
lực và chưa đề cập đến quỹ BHTN cũng như quản lý quỹ BHTN ở Việt Nam.

1.75. - Nguyễn Vinh Quang (2009) nghiên cứu các mô hình và kinh nghiệm thực hiện
bảo hiểm thất nghiệp trên thế giới với mục đích đưa ra các thông tin cô đọng và khái quát bức
tranh về các mô hình BHTN điển hình trên thế giới tại các nước phát triển, các nước đang phát
triển và các nước chuyển đổi. Về cơ sở lý thuyết, chuyên đề đưa ra một số định nghĩa về BHTN
như: Trong Công ước 102/1952 về An sinh xã hội (Các

1.76.

Tiêu chuẩn tối thiểu) và Công ước 168/1988 về thúc đẩy việc làm và

bảo đảm người lao động chống lại thất nghiệp, ILO đã xác định: BHTN là một hình
thức bảo hiểm xã hội nhằm đảm bảo chi trả một khoản trợ cấp tối thiểu trong một
thời gian giới hạn cho những cá nhân bị thất nghiệp mà không do lỗi của họ, gây ra
việc mất thu nhập mà họ và gia đình họ dựa vào đó; Từ điển bách khoa toàn thư
Columbia định nghĩa: BHTN là loại hình bảo hiểm chống lại sự mất thu nhập trong
khoảng thời gian một người lao động khoẻ mạnh bị thất nghiệp một cách không tự
nguyện. Mục đích của hình thức bảo hiểmnày là cung

chế độ BHTN, mức hưởng, thời gian hưởng và cơ quan thực hiện. Các yếu tố này được đưa vào
phân tích so sánh tại các nước phát triển bao gồm: các nước Bắc Âu, Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Hàn
Quốc; Các nước đang phát triển bao gồm: các nước Mỹ Latinh, Thái Lan; Và tại các nước
chuyển đổi bao gồm các nước Đông Âu và Trung Quốc. Trên cơ sở đó, chuyên đề đã khái quát,
đánh giá mô hình BHTN tại các nước và đưa ra bốn khuyến nghị: Thứ nhất, đối tượng tham gia
nên mở rộng diện bao phủ chế độ BHTN; Thứ hai,

thời

quy định theo

đóng

cả độ

tuổi

và thời gian

gian hưởng

nên


1
4

1.79. góp bảo hiểm thay vì chỉ dựa vào thời gian đóng bảo hiểm; Thứ ba, quản lý hành
chính cần thiết lập một cơ chế phối hợp cụ thể giữa các cơ quan liên quan để tạo điều
kiện thuận lợi cho người lao động và công tác quản lý đối tượng; Thứ tư, hình thức

1.83. tiêu cơ bản đánh giá cơ chế thu BHXH là: tỷ lệ lao động tham gia BHXH, kết quả
cấp sổ BHXH, tỷ lệ nợ đóng BHXH, tỷ lệ hoàn thành kế hoạch thu BHXH. Sau khi
đánh giá các tiêu chí, tác giả đưa ra những kết quả đạt được và một số hạn chế về cơ
chế thu BHXH như: Việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc còn chậm, sự
phối hợp chưa chặt chẽ, chưa thường xuyên, hoạt động thu nộp phí BHXH chưa
thuận tiện, sự kiểm soát đối với hoạt động thu BHXH chưa chặt chẽ, tỷ lệ lao động
tham gia BHXH thấp, ứng dụng CNTT trong hoạt động thu BHXH còn nhiều hạn
chế. Với những hạn chế đó, tác giả đã đưa ra nhiều nhóm giải pháp, trong đó tập
trung vào các giải pháp hoàn thiện cơ chế thu BHXH: Hoàn thiện các quy định về thu
BHXH; Tăng cường quan hệ công chúng vào hoạt động BHXH; Tăng cường công
tác thanh tra, kiểm tra, giám sát; Ứng dụng CNTT và cải cách hành chính.

1.84. Đây là một công trình nghiên cứu công phu và có hệ thống về cơ chế thu BHXH.
Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ có tính tương đồng với luận án và được kế thừa để nghiên cứu về
hoạt động thu BHTN do cơ quan BHXH thực hiện thu đồng thời với BHXH.

1.85. - Nguyễn Thị Chính (2010) nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến công
tác tổ chức và hoạt động chi trả các chế độ BHXH cho người lao động, đánh giá thực trạng từ đó
đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống tổ chức và hoạt động chi trả các chế độ BHXH
cho người lao động ở Việt Nam. Tác giả đã tiếp cận cơ sở lý thuyết khá chi tiết về BHXH trong


1
5
đó có quỹ BHXH, nghiên cứu các kinh nghiệm về tổ chức chi trả các chế độ BHXH tại Mỹ,
Nhật, Trung Quốc, Pháp... và đưa ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

1.86. Thực trạng hệ thống tổ chức chi trả các chế độ BHXH ở Việt Nam được tác giả
phân tích rất chi tiết, từ quy trình chi trả các chế độ BHXH đến phân tích các tồn tại của hoạt
động chi trả các chế độ BHXH. Qua đó, tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ

với giải pháp 1:
BHTN, đề

Giải pháp hoàn

thiệnchính sách, pháp

xuất mở rộng

đối

luật

về

1.91. tượng tham gia BHTN, quy định trách nhiệm của chủ sử dụng lao động trong
việc tham gia BHTN và các cơ quan thực hiện chính sách, đồng thời quy định về
thanh tra, kiểm tra, rà soát tình hình tham gia BHTN; Giải pháp 2: giải pháp về tổ
chức thực hiện, tăng cường thông tin tuyên truyền, tập huấn thực hiện chính sách;


1
6
Giải pháp 3: giải pháp về thanh tra, kiểm tra và phát hiện các vi phạm, xử lý các vi
phạm; Giải pháp 4: các giải pháp hỗ trợ khác.

1.92. Tuy nhiên, liên quan đến quỹ BHTN và quản lý quỹ BHTN lại được trình với nội
dung

rất hạn chế, có chăng chỉ đề cập đến các yếu tố có liên quan đến

hoạt động chi là thực trạng về các hoạt động như chi trợ cấp thất nghiệp, chi
giới

thiệu việc làm, chi



vấn,

hỗ trợ đào tạo nghề, chi BHYT, chi phí

1.96. quản lý. Qua đó, chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn thu BHTN gồm 3 yếu tố:
đối tượng tham gia, mức hỗ trợ của Nhà nước, mức đóng. Và các yếu tố ảnh hưởng
tới hoạt động chi của quỹ BHTN gồm 7 yếu tố: xác định nguyên nhân nghỉ việc, thời
gian đăng ký thất nghiệp, trợ cấp thất nghiệp một lần, xác định mức trần hưởng và
mức sàn hưởng, thời gian tính trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề và giới thiệu việc
làm, chi khác. Đồng thời nghiên cứu cũng dự báo tình hình phát triển quỹ BHTN đến
năm 2025 và đưa ra một số khuyến nghị.

1.97.

Đây là một trong những nghiên cứu khá đầy đủ cả về hoạt động thu và chi trả

trợ cấp thất nghiệp. Trên cơ sở đó, dự báo tình hình phát triển quỹ BHTN qua các nhân tố ảnh
hưởng

đến nó với thước đo cụ thể cho từng nhân tố. Tuy nhiên, dưới góc độ

1.98. quản lý quỹ BHTN thì đề tài này lại chưa đề cập đến.
-


nhân tố tác

nghiên

cứu

đã phân tích và chỉ ra

độngđến

1.101. nguồn thu của quỹ BHYT, bao gồm: Chính sách pháp luật, điều kiện kinh tế - xã
hội, công tác tuyên truyền phổ biến chính sách pháp luật, chất lượng KCB, tổ chức
thu, đối tượng tham gia, mức đóng góp BHYT v.v... Nghiên cứu đã phân tích từng
nhân tố và cho rằng, các nhân tố trên đều có tác động tổng hợp đến nguồn thu, nhưng
số lượng đối tượng tham gia và mức đóng góp BHYT có tác động mạnh và trực tiếp
đến nguồn thu của quỹ BHYT. Qua phân tích thực trạng ở Việt Nam, nghiên cứu lý
giải các nhân tố có tác động mạnh nhất đến nguồn thu đó là: Chính sách pháp luật về
BHYT. Do chính sách pháp luật được điều chỉnh kịp thời và hợp lý nên số đối tượng
tham gia tăng nhanh, mức đóng cũng tăng nhanh từ đó làm tổng thu BHYT tăng, góp
phần cân đối thu - chi quỹ BHYT; và Chất lượng KCB BHYT còn nhiều yếu kém,
đây là nhân tố không chỉ tác động trước mắt, mà còn tác động rất lâu dài đến nguồn
thu. Chính vì vậy, nghiên cứu này đã đưa ra các giải pháp chủ yếu tập trung vào hoàn
thiện chính sách, tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao chất lượng khám bệnh,
chữa bệnh BHYT...

1.102. Đây là một trong những nghiên cứu mà tác giả tổng quan do có tính tương đồng
về quỹ BHYT, nguồn thu của quỹ BHYT với quỹ và quản lý quỹ BHTN. Do đó, nghiên cứu này
sẽ được tác giả kế thừa để nghiên cứu về vấn đề mà luận án đang đề cập đến.



5.3.

Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

1.106. Tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước, tác giả nhận thấy còn nhiều
khoảng trống nghiên cứu liên quan đến quản lý quỹ BHTN, cụ thể:

1.107. Khoảng trống lý thuyết: khái niệm về bảo hiểm thất nghiệp, quỹ BHTN và quản
lý quỹ BHTN, phân biệt quỹ BHTN với các quỹ BHXH, hệ thống chỉ tiêu liên quan đến quản lý
quỹ BHTN, những nhân tố tác động đến quản lý quỹ BHTN.

1.108. Khoảng trống về phương pháp nghiên cứu: Phần lớn các công trình nghiên cứu
chủ yếu dựa trên nguồn số liệu thứ cấp, còn nguồn số liệu sơ cấp thông qua điều tra, khảo sát
còn rất hạn chế. Các phương pháp áp dụng trong nghiên cứu chủ yếu là các phương pháp phân
tích, so sánh, thống kê, mô tả...

1.109. Khoảng trống về thực tế: Quản lý quỹ BHTN cần được phân tích toàn diện, chi
tiết, khách quan về tổ chức thực hiện trên phạm vi cả nước.

1.110. Quản lý quỹ BHTN ở Việt Nam được nghiên cứu chủ yếu dưới góc độ tổ chức
thực hiện do cơ quan BHXH đảm nhiệm. Vì vậy, các giải pháp và kiến nghị của Luận án đều
hướng tới hoàn thiện, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thực hiện quản lý quỹ BHTN, kiến
nghị sửa đổi chính sách, mô hình quản lý ở Việt Nam.

6. Khung lý thuyết và mô hình nghiên cứu
1.111. Trên cơ sở tổng quan nghiên và các khoảng trống trong các nghiên cứu trước, tác
giả đề xuất mô hình nghiên cứu dự kiến như sau:



2
0

1.117. + Xác định những nhân tố tác động đến quản lý quỹ BHTN, lý giải làm rõ nội
dung của từng nhân tố;

1.118. + Xác định và lựa chọn các chỉ tiêu phục vụ công tác quản lý quỹ BHTN.
- Những đóng góp mới rút ra từ kết quả nghiên cứu:

1.119. + Phân tích và làm rõ thực trạng quản lý quỹ BHTN ở Việt Nam (2011 - 2015).
1.120. + Phân tích những nhân tố tác động đến quản lý quỹ BHTN ở Việt Nam bao gồm
cả chính sách, pháp luật về BHTN; điều kiện kinh tế - xã hội; đối tượng tham gia và thụ hưởng
chính sách; mức đóng góp, mức thụ hưởng; công tác tổ chức quản lý thu, chi và cân đối quỹ
BHTN; công tác tuyên truyền và phổ biến chính sách pháp luật; công tác kiểm tra, thanh tra
BHTN và sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng có liên quan đến BHTN;... Đồng thời, tác giả
đã tiến hành điều tra cả người thụ hưởng chính sách và những người trực tiếp tổ chức triển khai
chính sách BHTN để từ đó xác định 3 nhân tố ảnh hưởng đến quản lý quỹ BHTN một cách khoa
học, khách quan: chính sách pháp luật, điều kiện kinh tế - xã hội, chất lượng nguồn nhân lực của
cơ quan quản lý quỹ BHTN.

1.121. + Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện
quản lý quỹ BHTN, bao gồm cả các giải pháp về chính sách và tổ chức thực hiện chính sách
BHTN ở Việt Nam.

8. Kết cấu Luận án
1.122. Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục... Luận án
được kết cấu thành 3 chương:
1.123. Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp.

1.124. Chương 2: Thực trạng quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam.

2
1

1.129.
1.130.

Bảo hiểm

thất

nghiệp

thường chỉ đảm

những

người lao

động có thu

nhập định kỳ,

bởi vì theo lý thuyết những

này dễ

gặp phải

bảo





đắp



sự bảo đảm thay thế hoặc

một phần thu nhập

1.133. của người lao động trong trường hợp bị mất việc làm và đang có nhu cầu tìm
việc, đồng thời bao gồm một số biện pháp giúp họ trở lại với thị trường lao động
(Nguyễn Tiệp, 2011).

1.134. Như vậy, khái niệm về BHTN ở các nước tuy câu chữ có khác nhau, song đều
thống nhất ở những khía cạnh chủ yếu sau:

1.135. + BHTN là loại hình bảo hiểm độc lập với BHXH, nhưng lại có quan hệ chặt chẽ
với BHXH.

1.136. + Mục
nhập

tối

thiểu

đích



mất

đi

mất việc làm sẽ được

1.140. BHTN bù đắp, nhưng chỉ bù đắp trong một khoảng thời gian nhất định.
1.141.

Tuy nhiên, các khái niệm trên chủ yếu chỉ đề cập đến việc bù đắp một phần

thu nhập cho người lao động bị thất nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định mà chưa đề
cập

đến việc bảo hiểm cho

người lao động tránh khỏi tình trạng thất nghiệp

bằng

1.142. những biện pháp đảm bảo việc làm trong ngắn hạn hoặc dài hạn cho người lao
động. Đây cũng là một trong những biện pháp ở một số nước trên thế giới áp dụng
trong chương trình bảo hiểm việc làm nhằm hạn chế tối đa việc sa thải người lao
động.

1.143. Xuất phát từ những phân tích trên, theo tác giả: “Bảo hiểm thất nghiệp là sự
đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập trong một khoảng thời gian nhất định cho
người lao động bị thất nghiệp, nhằm ổn định cuộc sống cho họ và gia đình, giúp người thất
nghiệp sớm quay lại thị trường lao động và hạn chế tình trạng sa thải lao động bằng các biện

làm mà không phải do lỗi của họ, như: bị sa thải, chấm dứt quan hệ lao động,...
thường xảy ra khi người sử dụng lao động chuyển đổi hoặc thu hẹp sản xuất kinh
doanh và những biến động lớn như khủng hoảng nền kinh tế,...Do vậy, mối quan hệ
trong BHTN phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động diễn ra giữa 3 bên: bên tham gia
BHTN (người lao động và người sử dụng lao động), tổ chức quản lý BHTN (tổ chức
nhận nhiệm vụ quản lý quỹ BHTN) và Nhà nước.

1.148. Nguồn tài chính để bù đắp một phần thu nhập tối thiểu cho người thất nghiệp
trong khoảng thời gian nhất định, đồng thời đáp ứng nhu cầu của người thất nghiệp được đào
tạo, học nghề và giới thiệu việc làm để có thể sớm quay trở lại thị trường lao động được cung
cấp từ quỹ BHTN. Ngoài ra, quỹ còn có thể sử dụng vào mục đích hạn chế tình trạng sa thải lao
động bằng các biện pháp hỗ trợ đào tạo, duy trì việc làm cho người lao động,... Quỹ được hình
thành từ người lao động, người sử dụng lao động đóng góp và có thể được Nhà nước bảo hộ, hỗ
trợ. Với tư cách là một trong những chính sách an sinh xã hội quan trọng, Nhà nước phải can


2
3
thiệp và bảo vệ quyền lợi cho người lao động khi bị thất nghiệp. Do vậy, Nhà nước phải có trách
nhiệm sử dụng ngân sách trong trường hợp sự đóng góp của các bên tham gia không đủ để bù
đắp các khoản trợ cấp cho người thất nghiệp.

1.149.

- Bảo hiểm thất nghiệp cũng giống như nhiều loại hình bảo hiểm khác,

đó là hoạt động dựa trên nguyên tắc “cộng đồng - lấy số đông bù số ít”, nghĩa là dùng số tiền
nhỏ được đóng góp từ số đông người tham gia BHTN để chia sẻ, bù đắp cho số ít người thất
nghiệp



1.152. của mỗi quốc gia, đó là:
a. Bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi bị mất việc làm, giúp họ và gia đình
ổn định cuộc sống

1.153.

Thất nghiệp là rủi ro bị mất việc làm mà không một người lao động nào

mong muốn. Khi bị thất nghiệp, thu nhập của người lao động bị mất toàn bộ. Vì thế, nếu họ có
tham gia BHTN, họ sẽ được bù đắp một phần thu nhập bị mất đi từ quỹ BHTN chi trả do các
bên tham gia đóng góp. Cho dù khoản thu nhập được bù đắp thấp hơn thu nhập của ngườilao
động trước

khi

1.154.

bị

thất nghiệp,

sống của họ và gia
định cuộc

song vẫn góp phần ổn định cuộc

đình, đặc biệt

sống ngay sau những ngày

sẽ gắn

1.158.

động

bó với công việc, tích cực làm việc để tăng thêm nguồn thu

nhập và cũng từ đó có điều kiện tăng mức đóng BHTN để lúc nào đó có thể sẽ

được hưởng chế
tích cực

độ.

Đó là quan hệ hai chiều

của

BHTN đối với

mang tính

chất

1.159. người lao động.
d. Quỹ BHTN nhàn rỗi sẽ góp phần đầu tư để phát triển kinh tế - xã hội

1.160. Các nguồn thu chủ yếu từ đối tượng tham gia đã tồn tích, hình thành quỹ BHTN,
trong thời gian nhàn rỗi có thể đầu tư một phần vào các hoạt động kinh tế để sinh lời, tăng thêm

nguồn hình thành quỹ BHTN trong BHTN, không phải trong chế độ trợ cấp thất nghiệp.

1.165. Quỹ BHTN ra đời, tồn tại và phát triển gắn với sản xuất hàng hoá cũng như sự
thuế mướn nhân công của giới chủ với mục đích chính là thay thế, bù đắp một phần thu nhập
cho người lao động khi họ gặp phải rủi ro mất việc làm và giúp họ được đào tạo, giới thiệu, tìm
kiếm việc làm để sớm quay lại thị trường lao động. Chính vì vậy, hầu hết các nhà nghiên cứu và


2
5
quản lý đều cho rằng: Quỹ BHTN phải là một quỹ tiền tệ tập trung do các bên tham gia đóng
góp. Song, Nhà nước cũng phải có trách nhiệm hỗ trợ và bảo hộ.

1.166.

Theo ILO Convention (1952), ILO Convention (1988), khuyến nghị rằng

các loại trợ cấp và chi phí quản lý chương trình BHTN/ BHVL phải có nguồn tài chính tập thể từ
đóng bảo hiểm, hoặc từ thuế để tránh tạo ra gánh nặng đối với người lao động thu nhập thấp và
đề xuất các quốc gia phải chịu trách nhiệm quản lý chương trình này
bao

gồm cả tính toán

1.167.

hiệu

cần thiết và đánh giá tài chính


ời lao
c gia
1.38.
sử
động
1.40. Bahr 1.34.
1.41.
1.42. 1%
1.43.dụn1 nước1.44.
1.45.
ain
%
%%
1
1.46.
1.50.
1.49. Mức
1.51.
1.52. Phí thông
1.48.
Đan

%

1.54.

phí cố
1.55.
định,1,5%


%

1.70.

1.75. 0

1.76.

1.74. 0,6%

25
,6%
+
1.78. Thái 1.79.
1.80. 0,5%
1.81. 0
1.82.
Lan
%
,5%
0,
1.84. Việt 1.85.
1.86. 1%
1.87. 1
1.88.
Nam
%
%
1
1.90. Nguồn: Carter, J., Bédard, M., & Bista, C. P. (2013)

phát
1.71.
từ 1,4% đến
6,7%
1.77.
Chỉtuỳ từng

người sử dụng
lao động đóng

1.83.
1.89.

1.91.
1.169.
1.170.

Nhìn chung, các quốc gia đã triển khai các chương trình

BHTN/BHVL trong một thời gian dài thường
hơn,

có chi phí và

đặc biệt

mứcđóng bảo hiểmcao

tại các


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status