TIỂU LUẬN môn CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN đô THỊ phát triển đô thị bền vững và chính sách phát triển đô thị bền vững ở việt nam trong giai đoạn hiện nay - Pdf 50

MỞ ĐẦU
Trong quá trình phát triển của các quốc gia trên thế giới từ nền kinh tế
sản xuất nhỏ lẻ, kém phát triển sang nền kinh tế sản xuất phát triển cao với sự
phát triển của tất cả mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội trong mỗi quốc gia.
Trong quá trình phát triển nền kinh tế, tiến hành công nghiệp hóa và hiện đại
hóa nền kinh tế thì bất kỳ mỗi quốc gia nào trong tiến trình phát triển của đất
nước mình đều gặp phải những vấn đề trong quy hoạch phát triển đô thị để có
thể đáp ứng được sự phát triển nhanh chóng nhu cầu của nền kinh tế. Vấn đề
quy hoạch và phát triển đô thị không chỉ dừng ở việc quy hoạch một đô thị
thật tốt về giao thông, về các yếu tố hậu cần, nghỉ dưỡng, thể dục thể thao,
văn hóa nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại mà những đô thị được
hoạch định đó cần phải đáp ứng được những yêu cầu cao hơn, có thể đáp ứng
được những nhu cầu về đô thị trong những giai đoạn tiếp theo của tiến trình
phát triển. Đó chính là vấn đề phát triển đô thị bền vững – một vấn đề đang
rất được chú trọng trong phát triển đô thị nói chung hiện nay.
Việt Nam trong giai đoạn vừa qua đã tiến hành phát triển công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nền kinh tế và cũng đã đạt được rất nhiều thành tựu. Trong
quá trình phát triển này, bộ mặt đô thị Việt Nam cũng có rất nhiều thay đổi
một cách nhanh chóng nhằm đáp ứng được với những yêu cầu về các đô thị
hiện đại để đáp ứng và phục vụ quá trình phát triển kinh tế của đất nước.
Trong giai đoạn vừa qua, Việt Nam cũng giống như các quốc gia khác trên thế
giới cũng gặp phải những vấn đề khó khăn trong phát triển đô thị, đặc biệt là
vấn đề phát triển đô thị bền vững. Xuất phát từ những vấn đề đó, với mong
muốn của bản thân em trong việc tìm hiểu một cách sâu sắc thực trạng phát
triển đô thị cũng như những chính sách của nước Việt Nam về phát triển đô
thị bền vững do vậy em đã lựa chọn đề tài: “Phát triển đô thị bền vững và
chính sách phát triển đô thị bền vững ở Việt Nam trong giai đoạn hiện
nay” để làm tiểu luận hết môn môn học Chính sách phát triển đô thị.
1



dung hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội - và bảo vệ môi trường.
2


1.1.2. Khái niệm phát triển đô thị bền vững
Trong một đô thị, có ba loại hình môi trường khác nhau cùng tồn tại:
môi trường vật chất (tự nhiên và xây dựng), môi trường kinh tế và môi trường
xã hội. Cả ba loại hình này cần phải cùng được xem xét, bởi vì chúng quan hệ
rất chặt chẽ với nhau, hoặc đại diện hoặc cùng lúc biểu thị các mục tiêu,
phương tiện và khó khăn tới các hoạt động của con người trong đô thị. Một đô
thị được coi là bền vững khi tổng hiệu quả tốt của ba hình thái môi trường lớn
hơn tổng của các hậu quả xấu.
Sự tác động giữa môi trường kinh tế và môi trường vật chất thường
được đặc trưng bằng nhiều yếu tố bất lợi từ bên ngoài. Các ảnh hưởng xấu
sinh ra từ các hoạt động kinh tế trong đô thị lên môi trường vật chất rất rõ
ràng, có thể xác định là thảm họa về môi trường sinh ra từ đô thị, sự giảm
sút của tài nguyên thiên nhiên, tiếng ồn, ô nhiễm nước và không khí, sự thu
hẹp của các không gian xanh, tắc nghẽn giao thông và việc sử dụng quá mức
năng lượng.
Sự tác động giữa môi trường kinh tế và xã hội làm tăng lên các hiệu
quả kể cả thuận lợi và bất lợi. Hiệu quả thuận lợi xuất phát từ các dịch vụ xã
hội như giáo dục, sức khoẻ, tiện nghi xã hội và những nghề nghiệp có chất
lượng. Ngược lại, các yếu tố bất lợi về kinh tế có thể gây ra các hậu quả xấu
về môi trường xã hội.
Sự tác động thứ ba nêu lên những thuận lợi và khó khăn xuất phát từ
các môi trường vật chất và xã hội. Các khu cây xanh cho sinh hoạt công cộng
là nguồn môi trường tốt cho phúc lợi xã hội. Mặt khác, sự xuống cấp của các
công trình lịch sử, sự mất mát của những công trình văn hoá hoặc các vấn đề
về sức khoẻ đô thị là những ví dụ về hậu quả của môi trường vật chất lên môi
trường xã hội.

phẩm, chưa phải là một quá trình; Cơ chế, thể chế triển khai quy hoạch còn
chưa rõ ràng, phương pháp lập quy hoạch chưa hiện đại; Vốn dành cho công
tác quy hoạch đô thị còn ít, quá trình xây dựng theo quy hoạch còn chậm;
Thiếu sự tham gia của cộng đồng trong suốt quá trình phát triển đô thị; Thiếu
sự phối hợp giữa các chuyên ngành, thiếu sự đồng bộ giữa các công trình hạ
4


tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật; và Công tác quản lý đô thị nói chung ở mọi
khâu còn yếu kém.
Để có được các đô thị phát triển bền vững, ngoài việc tận dụng và phát
huy nội lực, việc tranh thủ ngoại lực, học tập các kinh nghiệm của thế giới và
khu vực, rút ra bài học cho đất nước là hết sức cần thiết
1.2.

Những thời kỳ phát triển đô thị ở Việt Nam

Trong lịch sử Việt Nam, đô thị xuất hiện từ khi người Pháp chiếm Sài
Gòn từ năm 1861, trên cơ sở một đô thị thương mại do người Việt và người
Hoa xây dựng. Người Pháp đã quy hoạch, thiết kế và xây dựng lại thành phố
Sài Gòn theo ý tưởng tạo ra một “Paris nhỏ”, một “hòn ngọc viễn đông” của
nước Pháp.
Một số kỹ sư người Pháp đã đưa ra những ý tưởng quy hoạch và thiết
kế thành phố Sài Gòn khác nhau, tuy không đề án nào được thực hiện trọn
vẹn nhưng trải qua nhiều thập kỷ xây dựng, dáng dấp của một “Paris nhỏ” đã
hiện ra với những công trình kiến trúc đặc sắc như: Nhà Rồng, nhà thờ Đức
Bà, dinh Xã Tây, nhà hát lớn, khách sạn Continantal... Khi chiếm được Hà
Nội, họ cũng quy hoạch lại và đưa kiến trúc Pháp vào để xây dựng một thành
phố có quy mô khoảng 200 ngàn dân. Người Pháp chủ trương phát triển công
nghiệp và thương mại ở các thành phố như: nhà máy thuốc lá, rượu bia, dệt

minh: nhiều chung cư cũ nát, đường sá hư hỏng nhiều nơi, tệ nạn xã hội quay
lại và phát triển rất nhanh... đời sống nhân dân hết sức khó khăn. Trong khi đó
cách tổ chức bộ máy quản lý đô thị không khác nhiều so với quản lý lãnh thổ
ở nông thôn.
Sau khi thoát khỏi khủng hoảng và từ khi có nghị quyết Đại hội Đảng
lần thứ VIII, đất nước bắt đầu bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và hội nhập, cũng là thời kỳ bùng nổ về đô thị hóa. Thời kỳ này đã diễn ra
được 20 năm, bên cạnh tốc độ phát triển rất nhanh là sự tiềm ẩn những yếu tố
đe dọa đến sự phát triển bền vững.
Sự phát triển đô thị Việt Nam đã trải qua ba thời kỳ khác nhau: đô thị
thời thực dân - phong kiến - kéo dài hơn 80 năm, đô thị thời chiến tranh kéo
dài 30 năm và đô thị thời công nghiệp hóa mới được 20 năm.
6


Ảnh: Qúa trình đô thị hóa ở Việt Nam diễn ra nhanh chóng
Nguồn: Báo xây dựng
Đô thị trong thời kỳ CNH - HĐH có hoàn cảnh lịch sử và những đòi hỏi
khác hẳn so với các thời kỳ trước. Đô thị thời công nghiệp hóa đòi hỏi kết cấu
hạ tầng kỹ thuật hiện đại hơn, có quy mô không gian và dân số lớn hơn nên
phải có trình độ quản lý đô thị cao hơn, bảo vệ môi trường nghiêm ngặt
hơn.. .mới bảo đảm sự phát triển bền vững.
1.3. Thách thức đối với Việt Nam trong phát triển đô thị bền vững
Sau hơn 25 năm đổi mới và phát triển, Việt Nam đã đạt được nhiều
thành tựu tích cực trong phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ môi trường. Nền
kinh tế Việt Namđã chuyển sang cơ chế thị trường theo định hướng XHCN.
Nền kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng cao và tương đối ổn định. Sản xuất
nông nghiệp luôn đạt mức tăng trưởng cao. Từ một nước phải nhập khẩu
lương thực, đến nay, Việt Namđã đảm bảo được an ninh lương thực và là
nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới. Sản xuất công nghiệp tăng

cũng chưa thực sự được kết hợp và lồng ghép chặt chẽ với nhau.
Quá trình đô thị hóa hiện đang gặp những thách thức như sau:
Quy hoạch và đầu tư hạ tầng kỹ thuật đô thị ở hầu hết các đô thị Việt
Nam đều chậm hơn so với tốc độ phát triển kinh tế-xã hội đô thị và chưa đáp
ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường, đặc biệt là tình trạng yếu kém và lạc hậu
8


của hệ thống cấp nước, thoát nước, thu gom và xử lý chất thải rắn, hệ thống
giao thông.
Mặc dù hạ tầng kỹ thuật đô thị ở các thành phố lớn đã được quan tâm
đầu tư cải tạo và nâng cấp, nhưng nhìn chung vẫn còn rất yếu kém, chưa đáp
ứng được những tiêu chuẩn của đô thị hiện đại. Tình trạng ô nhiễm môi
trường và phá vỡ cân bằng sinh thái đô thị, cảnh quan thiên nhiên đang là mối
lo ngại chung.
Chưa có sự lồng ghép quy hoạch bảo vệ môi trường trong quy hoạch đô
thị nên vừa làm tăng các vấn đề môi trường đô thị vừa gây khó khăn trong việc
khắc phục các hậu quả. Biểu hiện rõ nhất là tình trạng xây dựng xen kẽ các nhà
máy gây ô nhiễm môi trường trong các khu dân cư đông đúc, thiếu các cơ sở hạ
tầng và dịch vụ xử lý chất thải, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Đô thị hoá với tốc độ nhanh và sự gia tăng dân di cư từ nông thôn ra
thành thị gây nên sức ép ngày càng lớn về nhà ở và vệ sinh môi trường đô thị.
1.4. Những vấn đề cần tập trung giải quyết về phát triển đô thị bền vững
Về cơ bản phát triển bền vững đô thị cần tập trung giải quyết các vấn
đề: (1) Phát triển kinh tế đô thị ổn định, tạo công ăn việc làm cho người dân
đô thị, đặc biệt cho người có thu nhập thấp và người nghèo đô thi; (2) Đảm
bảo đời sống vật chất văn hóa tinh thần, giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống
dân tộc, đảm bảo công bằng xã hội; (3) Tôn tạo, gìn giữ và bảo vệ môi trường
đô thị xanh, sạch, đẹp với đầy đủ ý nghĩa vật thể và phi vật thể đô thị...
Để góp phần xây dựng thành công sự nghiệp CNH - HĐH đất nước,

Tiết kiệm nguồn tài nguyên đất đai; hạn chế phát triển đô thị, công nghiệp vào
khu vực đất nông nghiệp gắn với chiến lược an ninh lương thực quốc gia; sử
dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên đất phát triển đô thị; Bảo vệ môi
trường nước và sử dụng bền vững tài nguyên nước; Bảo tồn đa dạng sinh học;
bảo vệ và phát triển hệ sinh thái rừng, nông nghiệp, biển, hải đảo, giữa các
khu vực đô thị và nông thôn; Giảm ô nhiễm không khí, tiếng ồn, đất, nước ở
các đô thị và khu công nghiệp; quản lí chất thải rắn và chất thải nguy hại;
Thực hiện các biện pháp giảm sự gia tăng biến đổi khí hậu và hạn chế những
ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu (nhất là ảnh hưởng của mực nước biển
dâng, triều cường...), phòng và chống thiên tai; Đổi mới phương pháp lập quy
hoạch đô thị, nông thôn; Phát triển đô thị xanh, kiến trúc xanh...
10


Để nâng cao chất lượng đô thị hóa và phát triển đô thị bền vững tại Việt
Nam, trong Quyết định của Thủ tướng Chính phủ (số 445/QĐ-TTg, ngày
07/4/2009) phê duyệt “Điều chỉnh định hướng qui hoạch tổng thể phát triển
hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050”, đã xác
định mục tiêu chiến lược phát triển hệ thống đô thị quốc gia là: “Từng bước
xây dựng hoàn chỉnh hệ thống đô thị Việt Nam phát triển theo mô hình mạng
lưới đô thị; có cơ sở hạ tầng kĩ thuật, xã hội phù hợp, đồng bộ, hiện đại; có
môi trường và chất lượng sống đô thị tốt; có nền kiến trúc đô thị tiến tiến,
giàu bản sắc; có mối quan hệ và vị thế xứng đáng, có tính cạnh tranh cao
trong phát triển kinh tế, xã hội quốc gia, khu vực và quốc tế, góp phần thực
hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ tổ
quốc”. Việc hình thành và phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025
và tầm nhìn đến năm 2050 phải đảm bảo:
Phù hợp với sự phân bố và trình độ phát triển lực lượng sản xuất cả
nước, với yêu cầu của quá trình CNH - HĐH và xu hướng hội nhập kinh tế
quốc tế của Việt Nam, tạo ra nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội;

đồng thời đảm bảo phát triển theo mạng lưới, có sự liên kết tầng bậc theo cấp,
loại đô thị.
Giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2015 ưu tiên phát triển các vùng kinh
tế trọng điểm, các vùng đô thị lớn và các KKT tổng hợp đóng vai trò là cực
tăng trưởng chủ đạo cấp quốc gia; từ năm 2016 đến năm 2025 ưu tiên phát
triển vùng đô thị hóa cơ bản, giảm thiểu sự phát triển phân tán, cục bộ theo
địa phương để chuyển dần sang phát triển theo mô hình “mạng lưới đô thị” ở
giai đoạn sau năm 2025... Mô hình này thể hiện chiến lược phát triển bền
vững hệ thống đô thị quốc gia trong quá trình đô thị hóa; hướng tới sự phát
triển cân bằng hơn giữa các vùng, giữa khu vực đô thị và nông thôn; đô thị có
sức cạnh tranh cao, có vị thế xứng đáng, có mối liên hệ với hệ thống đô thị
khu vực và thế giới

12


CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐÔ
THỊ BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
2.1. Thực trạng đô thị hóa và phát triển đô thị Việt Nam
Việt Nam đang trong tiến trình phát triển thành một nước công nghiệp
hiện đại vào năm 2020. Tuy chịu ảnh hưởng tác động chung của suy thoái
kinh tế thế giới nhưng tổng sản phẩm trong nước (GDP) 6 tháng đầu năm
2014 ước tính tăng 5,18% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó nguồn thu từ
các hoạt động kinh tế đô thị, đặc biệt các thành phố lớn, các đô thị gắn với
phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch chiếm tỷ lệ khá cao trong
cơ cấu GDP cả nước, khẳng định vai trò của hệ thống đô thị động lực chủ đạo
của Việt Nam. Tỷ lệ % GRDP của 05 thành phố trực thuộc Trung ương/tổng
DRDP cả nước, chiếm trên 50% GDP của cả nước (trong khi dân số đô thị
chiếm trên 1/3 dân số cả nước). Tổng thu ngân sách khu vực đô thị chiếm trên

Các khu công nghiệp tập trung và khu công nghệ cao cấp quốc gia, các
khu/cụm/ điểm công nghệ cấp địa phương do tỉnh/ huyện quản lý được phát
triển ở gần các đô thị hiện có hoặc dọc theo các tuyến giao thông quốc gia để
tận dụng các hạ tầng xã hội và kỹ thuật sẵn có như nguồn nhân lực, các cơ sở
y tế, gíao dục, đường bộ, đường sắt, cảng biển, sân bay. Các khu công nghiệp
Trung ương và địa phương thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có tỷ lệ
lấp đầy tương đối cao, thu hút nhiều ngành công nghiệp và nhân công, mức
độ đô thị hóa ở đây cũng gia tăng rất nhanh. Đây là các tiền đề quan trọng để
hình thành và phát triển các vùng đô thị lớn, vùng kinh tế trọng điểm có khả
năng cạnh tranh với các trung tâm kinh tế lớn trong khu vực Đông Nam Á.
Bên cạnh đó, các khu công nghiệp Trung ương và địa phương ở các tỉnh có
đóng góp đáng kể vào tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng
tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, hình thành các đô thị mới hay khu đô thị
mới. Các cụm, điểm công nghiệp ở các tỉnh có tác động rất tích cực tới quá
trình công nghiệp hóa nông thôn các Vùng nơi có mạng lưới công nghiệp địa
phương, tiểu thủ công nghiệp và làng nghề phát triển khá dày đặc.
14


Trong nhiều năm qua thương mại quốc tế thông qua các cảng biển đã
thúc đẩy các đô thị ven biển có tiềm năng cảng phát triển mạnh. Trong những
năm gần đây, khối lượng thương mại quốc tế trên đất liền thông qua các cửa
khẩu đã được tăng cường đáng kể, thúc đẩy phát triển nhanh các đô thị cửa
khẩu quốc gia, quốc tế đã có từ trước như Lạng Sơn, Lào Cai hay mới được
hình thành như Cầu Treo (Hà Tĩnh), Bờ Y (Kon Tum), Bu Phơ Răng (Đắc
Nông), Mộc Bài (Tây Ninh), Xà Xía (Kiên Giang)… Một số đô thị cửa khẩu
kinh tế thuộc tiểu vùng sông Mê Kông mở như Lào Cai trên các hành lang
Côn Minh (Trung Quốc) -Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng; Lao Bảo trên hành
lang kinh tế Đông - Tây nối Mukdahan (Đông - Bắc Thái Lan) - Savanakhet
(Trung - Nam Lào) - Quảng Trị - Huế - Đà Nẵng; Bờ Y trên tuyến Đông Bắc

thị phải thông qua thường trực Quốc hội, 6 tháng đầu năm 2014 không có
biến động về cấp quản lý hành chính, cả nước có 5 thành phố trực thuộc
Trung ương, 63 thành phố thuộc tỉnh, 47 thị xã thuộc tỉnh, 613 thị trấn (trong
đó 27 thị trấn là đô thị loại IV). Tỉnh có nhiều thị trấn nhất là Thanh Hóa với
28 thị trấn. Tỉnh Ninh Thuận chỉ có 3 thị trấn, thành phố Đà Nẵng không có
thị trấn nào.
Về dân số thành thị (gồm dân số nội thành, nội thị và thị trấn) đạt
khoảng 30,4 triệu người, tập trung tại 2 đô thị loại đặc biệt và 15 đô thị loại I
khoảng 14,8 triệu người chiếm 49% dân số các đô thị trên toàn quốc). Tỷ lệ
đô thị hóa trung bình cả nước đạt khoảng 34%, tăng trung bình 1% năm. Đô
thị hóa tập trung cao nhất tại vùng Đông Nam Bộ (64,15%), thấp nhất tại
vùng Trung Du miền núi phía Bắc (21,72%). Các tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương có tỷ lệ dân số thành thị cao, cao nhất cả nước là TP. HCM 83%,
Bình Dương 71,6%, Quảng Ninh 68,86%,… Các tỉnh có tỷ lệ dân số thành thị
thấp nhất cả nước gồm: Thái Bình 10,7%, Tuyên Quang 12,41%, Sơn La
13,7%, Bắc Giang: 13,05%...
Về đất đô thị, tổng diện tích cả nước 331.698 km2, diện tích đất đô thị
không có biến động so với năm 2013, đến nay, tổng diện tích đất tự nhiên
toàn đô thị đạt 34,017 km2 chiếm khoảng 10,26% diện tích đất tự nhiên của
cả nước, nội thành nội thị 14.760 km2 chiếm khoảng 4,42% diện tích đất tự
16


nhiên của cả nước. Nhiều khu vực nội thành nội thị vẫn còn 50-60% diện tích
đất nông nghiệp hoặc để trống chưa sử dụng phát triển đô thị. Hiện tượng
chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuêu thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng
đất đặc biệt vùng ven đô đang rất cần quản lý chặt chẽ.
2.2.

Những vấn đề tồn tại trong phát triển đô thị bền vững

quốc gia, cấp tỉnh còn giàn trải chưa có sự lựa chọn thích hợp cho thành công.
Đối với công tác quy hoạch, bất cập hiện nay là chưa xác định rõ mối
quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch xây dựng. quy hoạch đô
thị, quy hoạch các ngành. Chưa có nhiều đồ án, dự án cải tạo, chỉnh trang đô
thị được thực hiện do loại hình dự án này khá phức tạp thiếu quy định luật
pháp, các nhà đầu tư chưa thực sự quan tâm.
Về quản lý đô thị còn chưa theo kịp thực tiễn, chưa đáp ứng xu thế phát
triển đô thị. Đầu tư phát triển đô thị, khu dô thị mới chưa có kế hoạch nhiều
nơi làm sai, chậm muộn so với quy hoạch. Chính quyền chưa có giải pháp
điều hòa các lợi ích nhà nước - chủ đầu tư và người dân, công tác khớp nối hạ
tầng kỹ thuật, không gian, kiến trúc đô thị chưa được thực hiện do thiếu quy
chế quản lý kiến trúc cảnh quan hoặc có quy chế nhưng triển khai áp dụng
còn hạn chế. Kết nối hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội triển khai chậm, thiếu
đồng bộ, công tác quản lý môi trường đô thị chưa chặt chẽ.
Tình trạng lãng phí đất đai trong các đô thị chưa được khắc phục, hiệu
quả đầu tư xây dựng còn thấp ảnh hưởng đến phát triển bền vững và diện mạo
đô thị. Nguồn lực cho phát triển đô thị còn dải trải. Nhu cầu vốn đầu tư cho hạ
tầng kỹ thuật đô thị lớn, việc xã hội hóa, huy động các nguồn lực trong xã hội
còn hạn chế. Tỷ lệ dân đô thị được cấp nước sạch còn thấp.

18


Ảnh: Quy hoạch thành phố hai bờ sông Hồng
Nguồn: Báo Dân trí
Tình trạng úng ngập cục bộ trong mùa mưa, ô nhiễm môi trường, ách
tắc giao thông, lấn chiếm đất công, xây dựng không phép, sai phép còn diễn
ra ở nhiều đô thị. Xử lý nước thải chưa được chú trọng tại hầu hết các đô thị,
thiếu sự đồng bộ trong xây dựng và khai thác hệ thống hạ tầng kỹ thuật dọc
các tuyến đường tại các đô thị. Hệ thống cây xanh công viên ở nhiều đô thị

Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc trung Bộ và duyên hải miền Trung, Tây
Nguyên, Đông Nam Bộ) với khoảng 139 đô thị chịu ảnh hưởng 15 đô thị có
khả năng chịu tác động mạnh.
2.3. Những hoạt động ưu tiên trong chính sách để phát triển đô thị
bền vững
Rà soát lại quy hoạch tổng thể nhằm bảo đảm phát triển các đô thị bền vững.
Trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, các
đô thị giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xã
hội, văn hoá, bảo đảm an ninh, quốc phòng và bảo vệ môi trường.
Mục tiêu của quy hoạch tổng thể phát triển đô thị là xây dựng tương đối
hoàn chỉnh hệ thống đô thị cả nước, có cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội và kỹ
thuật hiện đại, môi trường đô thị trong sạch, được phân bố và phát triển hợp lý
trên địa bàn cả nước, bảo đảm cho mỗi đô thị theo vị trí và chức năng của
20


mình phát huy được đầy đủ các thế mạnh để phát triển ổn định, bền vững và
trường tồn.
Quy hoạch tổng thể phát triển đô thị phải được rà soát lại, đặc biệt dưới
góc độ các nguyên tắc phát triển bền vững, để bảo đảm cho toàn bộ hệ thống đô
thị của cả nước nói chung và mỗi đô thị nói riêng đều phải phát triển bền vững.
Quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam thời kỳ 1997-2020 đã
được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 10/1998/QĐ-TTg
ngày 23 tháng 01 năm 1998, theo đó việc hình thành và phát triển các đô thị ở
nước ta trong thời gian tới phải tuân theo những quan điểm chính sau đây:
Phù hợp với sự phân bố và trình độ phát triển lực lượng sản xuất;
Phân bố hợp lý các đô thị lớn, trung bình và nhỏ trên các vùng lãnh thổ,
kết hợp đẩy mạnh đô thị hóa nông thôn và xây dựng nông thôn mới, tạo ra sự
phát triển cân bằng giữa ba khu vực Bắc-Trung-Nam, từng bước giảm dần sự
chênh lệch quá lớn về trình độ phát triển kinh tế-xã hội giữa các vùng;

thị:
Di dân có vai trò tái phân bố dân cư để nâng cao hiệu quả sử dụng các
nguồn lực về tài nguyên, vốn, lao động…Tiền đề của di dân là do chênh lệch
về cơ hội việc làm, mức sống và điều kiện phát triển giữa các khu vực, các
vùng lãnh thổ. Động lực di dân chủ yếu là các lý do kinh tế. Đặc biệt, cũng
còn có một số nhóm đồng bào dân tộc ít người di cư do tập quán canh tác kiểu
du canh, du cư.
Mục tiêu của việc định hướng các dòng di dân là nhằm phân bố lại dân
cư và lao động, sử dụng tốt nhất các nguồn lực, đáp ứng yêu cầu của quá trình
phát triển.
Những hoạt động ưu tiên nhằm đạt được mục đích nêu trên là:
Thực hiện chiến lược phát triển kinh tế toàn diện, như là phương tiện
bền vững nhất nhằm điều chỉnh thành công các dòng di dân:
Phát triển nông thôn theo hướng hiện đại hoá đi đôi với việc bảo vệ và
giữ gìn nét đẹp truyền thống nông thôn; đa dạng hoá các ngành nghề có mức
sinh lợi cao; ưu tiên cho đầu tư phát triển ở các vùng nghèo khó, nơi có nhiều
người ra đi. Thúc đẩy quá trình đô thị hoá nông thôn làm cơ sở cho việc đẩy
22


nhanh quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế và phân công lao động ở nông
thôn. Khuyến khích dân cư nông thôn tự tạo việc làm ngay tại quê hương.
Nhà nước kích thích bằng việc hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng, cho vay vốn để
sản xuất, kinh doanh và hoạt động dịch vụ.
Phát triển đô thị hợp lý thông qua khuyến khích phát triển các thành
phố qui mô trung bình và nhỏ.
Giảm bớt sự khác biệt giữa các vùng, khu vực nông thôn với thành thị,
giữa các cộng đồng dân cư và tạo sự hoà nhập xã hội bền vững.
Đẩy mạnh việc sử dụng đúng mức, hợp lý các nguồn tài nguyên thiên
nhiên tại chỗ phục vụ tốt cho sự phát triển kinh tế-xã hội của cộng đồng dân

thải sản xuất tại nhiều đô thị chưa được đầu tư xây dựng, nhiều nhà máy xí
nghiệp vẫn xả trực tiếp nước thải không qua xử lý môi trường đã gây ô nhiễm
hệ thống sông, hồ. Tỷ lệ bãi chôn lấp chất thải hợp vệ sinh còn thấp. Nhiều đô
thị chưa quan tâm đến khí thải và tiếng ồn trong đô thị.
Công tác quản lý đô thị chưa theo kịp thực tiễn phát triển như khả năng
dự báo của công tác quy hoạch chưa đáp ứng xu thế phát triển đô thị. Phát
triển các khu đô thị mới chưa xuất phát từ quy hoạch, kế hoạch. Kết nối hạ
tầng giữa các khu đô thị chưa được quan tâm, hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ
thuật và hạ tầng xã hội triển khai chậm, thiếu đồng bộ, công tác quản lý môi
trường đô thị chưa chặt chẽ. Tình trạng lãng phí đất đai trong các đô thị chưa
được khắc phục, hiệu quả đầu tư xây dựng còn thấp ảnh hưởng đến phát triển
bền vững và diện mạo đô thị…”.
Để giải quyết các thách thức trên và nhằm để phát triển đô thị Việt Nam
một cách bền vững, Bộ Xây dựng Việt Nam đang chủ trì xây dựng và triển

24


khai Chương trình phát triển đô thị bền vững, Chương trình phát triển đô thị
Quốc gia với những nhiệm vụ rất cụ thể. Xuyên suốt nội dung của các chương
trình này, con người được xác định là đối tượng để đô thị phục vụ và đồng
thời là chủ thể điều khiển và tác động lên quá trình phát triển, con người sáng
tạo ra đô thị, sử dụng và quản lý đô thị. Do vậy, quá trình phát triển đô thị bền
vững tại Việt Nambao gồm các yếu tố sau:
Phát triển đô thị bền vững trên cơ sở chính sách, thể chế, quản lý phát
triển đô thị bền vững;
Phát triển đô thị bền vững trên cơ sở đồng thuận tham gia thực hiện của
các tầng lớp dân cư, xã hội và các cấp chính quyền;
Phát triển đô thị bền vững trên cơ sở có hệ thống giám sát, đánh giá kịp
thời các tiêu chí phát triển đô thị bền vững.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status