KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC GIA PHÁT TRIỂN KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP - Pdf 50

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG

HƯỚNG TỚI KỶ NIỆM 60 NĂM THÀNH LẬP TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN,
60 NĂM KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH

KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC GIA

PHÁT TRIỂN KINH DOANH BỀN VỮNG
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
HÀ NỘI, 2016



MỤC LỤC
TT

Nội dung

Trang

Đề dẫn hội thảo
Phần 1: Những vấn đề chung và kinh nghiệm quốc tế về phát triển kinh doanh
bền vững của doanh nghiệp
1

Phát triển kinh doanh bền vững: Tổng quan và các vấn đề đặt ra



triển kinh doanh bền vững trong bối cảnh ký kết Hiệp định đối tác xuyên
Thái Bình Dương (TPP)
TS. Hà Thị Thúy Vân
ThS. Đàm Bích Hà
6

Lợi thế cạnh tranh trong điều kiện kinh doanh bền vững

63

PGS.TS. Nguyễn Thị Hoài Dung
7

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Yếu tố phát triển kinh doanh bền
vững tại Việt Nam

74

TS. Nguyễn Vân Hà
8

Thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng xanh nhằm hướng đến phát triển kinh
doanh bền vững

85

ThS. Nguyễn Thị Hương Giang
9



Nguyên tắc cạnh tranh trung lập trong ban hành và thực thi chính sách:
Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý đối với Việt Nam

115

ThS. Lê Đức Nhã
13

Thúc đẩy vai trò của doanh nghiệp đối với tăng trưởng xanh trong bối cảnh
toàn cầu hóa - Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam

141

ThS. Đào Lê Trang Anh
ThS. Nguyễn Tuấn Anh
14

Kinh nghiệm quốc tế về “tài chính xanh” và hàm ý chính sách đối với
Việt Nam

153

ThS. Võ Hoàng Kim An
ThS. Lê Đức Nhã
ThS. Trương Thị Thùy Trang

Phần 2: Kinh doanh bền vững của một số ngành và doanh nghiệp Việt Nam
15


ThS. NCS. Đặng Kim Thoa

ii

212


TT

Nội dung

Trang

20

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong bối cảnh
hội nhập. Nghiên cứu điển hình tại Công ty cổ phần Tổng Công ty May

221

Đáp Cầu
ThS. Phạm Việt Thắng
21

Nghiên cứu xây dựng trách nhiệm xã hội đối với doanh nghiệp khai thác

234

khoáng sản Việt Nam
TS. Hoàng Thị Thanh Hương

Ngành dệt may của Việt Nam trước ngưỡng cửa TPP

283
TS. Ngô Tuấn Anh

26

Thực trạng hình thành và phát triển cụm liên kết công nghiệp dệt may
trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ - Nghiên cứu dưới góc độ quan hệ
liên kết giữa các doanh nghiệp

290

TS. Nguyễn Kế Nghĩa
27

Nâng cấp chuỗi giá trị sản phẩm đồ gỗ của Việt Nam trong bối cảnh hội
nhập kinh tế

301

PGS.TS. Trần Việt Lâm
28

Xác định nhu cầu đào tạo trong doanh nghiệp - Nghiên cứu tại Công ty cổ
phần Than Núi Béo - TKV

315

TS. Vũ Hùng Phương

31

Quản trị chuỗi cung ứng tôm tại tỉnh Thừa Thiên Huế

357

NCS. Tạ Minh Quang
32

Vai trò của tài chính vi mô trong phát triển doanh nghiệp xã hội nông
nghiệp ở Việt Nam

367

TS. Ngô Văn Thạo
33

Những bài học kinh nghiệm về phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ ô tô ở
một số quốc gia châu Á
ThS. Vũ Anh Trọng
ThS. Nguyễn Đức Hùng

iv

378


KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN


VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH VI MÔ TRONG PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP XÃ HỘI NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM
TS. Ngô Văn Thạo
Đại học Sài Gòn

Tóm tắt
Tài chính vi mô (Microfinance-MF) trên thế giới ra đời vào năm 1976 với
ngân hàng Grameen dành cho người nghèo, nằm ở vùng ngoại ô của Bangladesh
và nó được cả thế giới biết đến khi Liên Hiệp Quốc chọn năm 2005 là Năm Quốc tế
tài chính vi mô cùng giáo sư Mauhammad Yunus (người sáng lập ra ngân hàng ra
ngân hàng Grameen) được nhận giải Nobel hòa bình năm 2006. Bài viết tập trung
đánh giá về họat động của các tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam trong thời gian
qua thông qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và phát
huy vai trò của nó trong việc phục vụ cộng đồng là các doanh nghiệp xã hội trong
nông nghiệp.
Tứ khóa: Tài chính vi mô, Doanh nghiệp xã hội, Hợp tác xã sản xuất
nông nghiệp.
1. Hoạt động tài chính vi mô tại Việt Nam
1.1. Khái niệm về tài chính vi mô
Theo Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), Tài chính vi mô (TCVM) là việc
cung cấp các dịch vụ tài chính như tiền gởi, cho vay, dịch vụ thanh toán, chuyển
tiền và bảo hiểm cho người nghèo và hộ gia đình có thu nhập thấp và các doanh
nghiệp nhỏ của họ.
1.2. Đặc điểm
- Khách hàng của tổ chức TCVM chủ yếu là những người nghèo, không có
tài sản thế chấp;
- Khoản vay thường nhỏ, chi phí giao dịch cao;
- Nhu cầu vay vốn thường đột xuất, ngắn hạn;
- Phương thức cho vay chủ yếu theo tổ, nhóm;

nay do 02 nhà cung cấp chính thức, là ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam và hệ
thống các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở chiếm thị phần chính; bên cạnh đó là quỹ
tình thương - TYM, Thanh Hóa.
- Các tổ chức tài chính vi mô bán chính thức: bao gồm hoạt động tín dụng,
tiết kiệm quy mô nhỏ tại cộng đồng theo mô hình Nhóm phụ nữ tín dụng - tiết kiệm
của Hội Liên Hiệp phụ nữ các cấp, đặc biệt là cấp xã phường theo nguyên tắc tự
nguyện, tự quản, không vì mục tiêu lợi nhuận, thực hiện huy động vốn của thành
viên và sử dụng vốn đó để cho vay giữa các thành viên trong cộng đồng hẹp nhưng
nguồn vốn của một số địa phương chủ yếu từ nguồn Quỹ phát triển nhóm hợp tác.

18
19

Trần Trọng Huy (2016), Tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam: Thực trạng và định hướng phát triển
Trịnh Quốc Trung (2016), Hoạt động tài chính vi mô tại Việt Nam

368


Một số tổ chức hiệp hội khác như: Hội nông dân, Hội cựu chiến binh, Hội Người
cao tuổi cũng có cùng hoạt động tín dụng tiết kiệm nhưng nguồn vốn của các tổ
chức này đến từ các nguồn tài trợ, nguồn ủy thác và từ vận động ủng hộ, quyên góp,
cho mượn, cho vay với lãi suất thấp. Bên cạnh đó là một số dự án cũng có hoạt
động tài chính vi mô như: chương trình Oxfam của Anh, chương trình hỗ trợ kinh
doanh với người nghèo, Quỹ trợ vốn cho người lao động nghèo tự tạo việc làm của
Liên đoàn lao động Thành phố Hồ Chí minh (CED), quỹ phát triển nhà ở Habitat
của Hoa kỳ.
- Các TCTCVM không chính thức: bao gồm các đơn vị, cá nhân, nhóm dân
cư, cửa hàng, quỹ tương trợ, nhóm, tổ tiết kiệm… dưới dạng hụi, tín dụng chợ đen
mà chưa được kiểm soát và quản lý của cơ quan Nhà nước.


vay để cho các thành viên khác có thể được xét vay kế tiếp. Đây là hoạt động có
tính cộng đồng cao mà hoạt động tín dụng thông thường của các ngân hàng thương
mại khó có thể cung cấp đến với các đối tượng này. Các tổ nhóm vay vốn ngoài
việc quy tụ các thành viên lại để giúp họ tiếp cận được nguồn vốn thì việc hỗ trợ tư
vấn sản xuất, cung ứng con giống, vật tư, tiêu thụ nông sản, trao đổi và chia sẻ kinh
nghiệm giữa các nhóm có cùng đối tượng sản xuất cũng được các thành viên trong
nhóm vay vốn quan tâm đã thúc đẩy việc hình thành các tổ nhóm hợp tác sản xuất
tự nguyện bên cạnh các tổ chức xã hội hiện có. Chính vì thế, một số chương trình
tín dụng vi mô đặt ra các tiêu chí để được xét duyệt cho vay vốn là các hộ phải tham
gia tập huấn kỹ thuật sản xuất, quản lý chi tiêu và lập kế hoạch sản xuất kinh doanh
mới và phải có được sự bảo lãnh và giám sát của các thành viên trong tổ nhóm mới
được cho vay.
2. Doanh nghiệp xã hội trong nông nghiệp
2.1. Khái niệm
Doanh nghiệp xã hội trong lĩnh vực nông nghiệp được hiểu là các doanh
nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, cung cấp các
dịch vụ đầu vào cũng như tư vấn; hỗ trợ kỹ thuật cho các nông hộ sản xuất; kết nối
các hộ có cùng đối tượng sản xuất với nhau nhằm gia tăng hiệu quả sản xuất cho
chính các thành viên này thông qua thực hiện chuyên môn hóa và cơ giới hóa; giải
quyết các vấn đề thiếu lao động trong sản xuất cũng như môi trường và dịch bệnh
mà các nông hộ sản xuất gặp phải; đồng thời tổ chức sản xuất đáp ứng các tiêu
chuẩn an toàn về sản xuất và tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm; tìm kiếm đầu ra cho
các sản phẩm mà các nông hộ thành viên tạo ra. DNXH trong lĩnh vực nông nghiệp
của Việt Nam hiện tồn tại ở các loại hình như: trung tâm giống, trung tâm khuyến
nông - khuyến ngư, các hợp tác xã hoặc các tổ hợp tác sản xuất nông nghiệp.
2.2. Quá trình hình thành và xu hướng phát triển của doanh nghiệp xã hội
nông nghiệp
Với đặc thù là quốc gia sản xuất nông nghiệp nên “Doanh nghiệp xã hội
trong nông nghiệp” của Việt Nam có từ lâu đời thông qua các hoạt động cơ bản

dịch vụ hỗ trợ của Nhà nước và các tổ chức viện trợ trong và ngoài nước; thực hiện
cơ giới hóa nông nghiệp; gia tăng giá trị sản xuất thông qua tham gia chuỗi giá trị
sản xuất và thực hiện quy trình sản xuất nông sản an toàn. Chính phủ ban hành
nhiều chính sách khuyến khích liên kết và tiêu thụ nông sản, tiêu biểu là Nghị định:
109/2010/NĐ-CP ngày 04/11/2010 về kinh doanh xuất khẩu gạo có điều kiện;
Quyết định: 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/06/2002 về chính sách khuyến khích tiêu thụ
hàng hóa nông sản thông qua hợp đồng; Công văn 354/BNN-TT ngày 17/02/2012
của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về chỉ đạo xây dựng cánh đồng mẫu
lớn; Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg ngày 25/10/2013 về chính sách phát triển hợp
tác liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn. Do đó,
hướng phát triển cho doanh nghiệp xã hội nông nghiệp trong thời gian tới là tham
gia vào các công đoạn trong chuỗi giá trị sản xuất và tiêu thụ hàng nông sản như:
- Tham gia cung ứng các yếu tố đầu vào như vật tư, con giống, nhiên liệu với
chất lượng ổn định và giá thành cạnh tranh.

371


- Cung cấp các dịch vụ cơ giới hóa trong quá trình sản xuất và hệ thống tưới
tiêu nội đồng quy mô nhỏ.
- Cung cấp các dịch vụ khuyến nông cho nông dân nhằm gia tăng giá trị nông
sản, bảo đảm an toàn sản xuất và vệ sinh thực phẩm, tham gia một số công đoạn sau
thu hoạch như sơ chế và bảo quản nông sản và tạo mối liên kết với thị trường tiêu
thụ cho nông dân.
- Tham gia vào quá trình chế biến, xử lý rác thải trong sản xuất nông nghiệp
thành các loại phân bón hữu cơ, trồng nấm nhằm giảm thiểu chất thải khí nhà kín,
hạn chế sử dụng phân bón hóa học trong sản xuất.
- Tham gia vào việc cung cấp các dịch vụ cho các doanh nghiệp khác ngoài
ngành như: dịch vụ du lịch, tham quan, phục vụ lễ hội.
2.3. Thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp xã hội nông nghiệp

vật, thú y, vật tư nông nghiệp. Nhiều Hợp tác xã đã mở rộng hoạt động dịch vụ như
làm đất, bảo vệ đồng ruộng và tiêu thụ nông sản cho xã viên, dịch vụ môi trường,
nước sạch, y tế, văn hóa, đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh, ổn
định chính trị và trật tự xã hội, tham gia tích cực vào công tác “xóa đói, giảm
nghèo” tại địa phương. Theo thống kê mới nhất của Bộ nông nghiệp và phát triển
nông thôn (tháng 8/2015), cả nước có hơn 10.500 hợp tác xã sản xuất nông nghiệp
nhưng chưa tới 10% trong số này hoạt động hiệu quả, đa phần các hợp tác xã chỉ tập
trung cung cấp dịch vụ đầu vào như cung ứng giống, vật tư; với hơn 90% hợp tác xã
còn lại không tham gia vào hoạt động liên kết tiêu thụ nông sản và kết nối nông dân
với doanh nghiệp(22).
Tuy nhiên, các doanh nghiệp xã hội nông nghiệp ở Việt Nam có mang đầy
đủ các đặc điểm của một doanh nghiệp xã hội thực thụ chưa nhiều. Theo ghi nhận
CSIP đến cuối năm 2014 đã công nhận và tài trợ cho 8 doanh nghiệp nhưng có đến
6 doanh nghiệp ở khu vực phía Bắc và 02 doanh nghiệp ở khu vực phía Nam. Hoạt
động của các doanh nghiệp phía Bắc bao gồm: hỗ trợ cộng đồng trồng, chế biến và
tiêu thụ các loại dược liệu (công ty Vietherb ở Lạng Sơn, Công ty Sapanapro trồng
và chế biến thuốc gia truyền của người Dao đỏ ở Sapa); nhân giống, sản xuất và
phân phối thực phẩm sạch (SECO - công ty cổ phần thiên nhiên Việt ở Thái
Nguyên, DNXH xứ Thanh ở Thanh Hóa, HTX sản xuất nấm Xuân Thủy ở Nam
Định, Trang Trại hữu cơ Tôi tại Ba Vì). Phía Nam với công ty TMTM ở Đồng Nai
là trồng và giới thiệu sản phẩm từ cây Chùm ngây và công ty Green Youth
Collection ở Tp. Hồ Chí Minh với mục tiêu hướng nghiệp cho thanh niên trồng rau
hữu cơ trên các mái nhà cao tầng trong khu đô thị. Theo nghiên cứu của Vũ Thị
Huỳnh Anh (2014) thì doanh nghiệp xã hội nông nghiệp ở Việt Nam có các vai trò
tiêu biểu như:
- Cung cấp các sản phẩm và dịch vụ với giá thành giảm nhằm giúp những
người thu nhập thấp có khả năng chi trả tiêu biểu là hợp tác xã bò sữa Evergrowth ở
Sóc Trăng hoạt động cho các nông hộ nuôi bò thiếu tiền thức ăn, con giống, kỹ
thuật ban đầu và tổ chức thu mua sữa cho các hộ sản xuất bảo đảm mức lãi cho họ
hợp lý thông qua hợp đồng cung ứng và bao tiêu sản phẩm.

phân phối và tiêu thụ sản phẩm;
- Vị thế của các DNXH so với các doanh nghiệp truyền thống còn khá thấp:
do thiếu khung pháp lý hoạt động và đa số là quy mô nhỏ nên chưa thoát khỏi yếu
tố độc quyền bán và độc quyền mua của các doanh nghiệp truyền thống;
- Khó khăn trong việc vận hành và phát triển: thiếu địa điểm giao dịch, cán
bộ quản lý lớn tuổi, kiêm nhiệm và thiếu vắng các bộ phận chuyên trách;
- Thiếu vốn và yếu kém trong khả năng tiếp cận các nguồn tài chính: do còn
khá non trẻ, nguồn vốn ban đầu hạn chế nên các DNXH này rất khó tiếp cận các
nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng do không có tài sản thế chấp và khả năng
sinh lợi trong sản xuất nông nghiệp thấp nhưng rũi ro lại cao;
23

Ngô Văn Thạo (2016), Doanh nghiệp xã hội trong lĩnh vực nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long, Tr
183-191.

374


- Thiếu khung pháp lý hoạt động: Dù Luật doanh nghiệp sửa đổi 2014 dành
riêng điều 10 cho DNXH khi áp dụng cần có các thông tư hướng dẫn cụ thể và cần
có thời gian mới phát huy hiệu lực của nó;
- Hạn chế về trình độ và kỹ năng lãnh đạo; việc ra đời và hoạt động còn nặng
tính mệnh lệnh và chỉ đạo của chính quyền các cấp cũng như sự tư vấn và tài trợ của
các chương trình dự án nhưng trình độ và năng lực quản lý của cán bộ lãnh đạo hạn
chế, lối tư duy chưa phù hợp với xu hướng phát triển;
- Chưa có chính sách và động lực thu hút trí thức trẻ tham gia quản lý và điều
hành trong các DNXH nông nghiệp;
- Đối đầu với các bất trắc và rủi ro: sản phẩm nông sản gặp phải vấn đề dịch
bệnh; giống bị suy thoái cũng như tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng
nên thương hiệu cho sản phẩm kém bền vững;

hội nông nghiệp.
Hiện nay, các tổ tài chính vi mô của Việt Nam hoạt động với nhiều hình thức
tổ chức khác nhau như: Công ty TNHH MTV (ngân hàng nông nghiệp và phát triển
nông thôn, ngân hàng chính sách xã hội); Hợp tác xã (Quỹ tín dụng nhân dân), công
ty TNHH (các tổ chức tài chính vi mô bán chính thức, các tổ chức kinh doanh dịch
vụ cầm đồ…). Mỗi loại hình tổ chức có khung khổ pháp lý và phạm vi hoạt động
riêng biệt và bị chi phối bởi nhiều Thông tư, Nghị định đã vô tình làm giảm đi vai
trò hoạt động và mục tiêu tôn chỉ của chúng. Do các tổ chức tài chính vi mô với vai
trò cung cấp nguồn vốn cho cộng đồng nhưng địa bàn hoạt động rộng; giá trị món
vay nhỏ và thiếu tập trung nên không thể triển khai và giám sát được việc sử dụng
vốn của các đối tượng vay và họ cần có đối tác liên kết thực hiện các công việc này
và chính các doanh nghiệp xã hội nông nghiệp trong cộng đồng dưới dạng là các
hợp tác xã, tổ nhóm sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên, hạn chế của một số tổ chức tài chính vi mô Nhà nước hiện nay có
khá nhiều ưu đãi về nguồn vốn như Quỹ trợ vốn cho người lao động nghèo tự tạo
việc làm - CED có mức huy động vốn trung bình là 2,36%/năm nhưng khi cho các
hộ vay thì mức lãi suất dao động từ 20 - 27%/năm. Điều này được lý giải do giá trị
món vay thấp (trung bình 10 - 15 triệu/hộ) nhưng lợi nhuận thu được lẽ ra được tái
đầu tư để gia tăng nguồn vốn cho quỹ và mở rộng đối tượng cho vay cũng như nâng
giá trị cho món vay thì lại được chi để trả lương cho nhân viên và hoa hồng cho các
đối tác liên kết (Chi phí nhân viên tại CED chiếm 50% tổng chi phí chung và mức
lương trả cho nhân viên trung bình là 18,12 triệu/tháng trong khi các ngân hàng
thương mại trong cùng thời điểm đó mức lương nhân viên của họ dao động từ 14,33
đến 16,86 triệu/tháng)24
Trong khi hiện tại, các hộ sản xuất nông nghiệp, nông dân đang có xu hướng
liên kết lại theo dạng hợp tác xã, tổ hợp tác để có thể tiếp cận các dịch vụ đầu vào
cũng như được tư vấn; hỗ trợ kỹ thuật trong sản xuất; kết nối chia sẽ kinh nghiệm
và tuân thủ lịch thời vụ; thực hiện chuyên môn hóa và cơ giới hóa để khắc phục các
vấn đề thiếu lao động trong sản xuất cũng như môi trường và dịch bệnh; đồng thời
tổ chức sản xuất đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn về sản xuất và tiêu chuẩn chất

Việt Nam: Thực trạng và xu hướng phát triển, tháng 5/2016;
4. Ngô Văn Thạo (2016), Doanh nghiệp xã hội trong lĩnh vực nông nghiệp ở
đồng bằng sông Cửu Long, Nhà xuất bản kinh tế;
5. Ngô Văn Thạo (2016), Mức lãi suất của các loại hình vay nợ trả góp định
kỳ trong hoạt động tài chính vi mô tại Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo khoa học “Hoạt
động tài chính vi mô tại Việt Nam: Thực trạng và xu hướng phát triển”, tháng
5/2016;
6. Trịnh Quốc Trung (2016), Hoạt động tài chính vi mô tại Việt Nam, Kỷ yếu
hội thảo khoa học “Hoạt động tài chính vi mô tại Việt Nam: Thực trạng và xu
hướng phát triển”, tháng 05/2016.

377




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status